Quyển 1:Linh Lục Ký I - I

Chương 37

Chương 37

Chương 37: Khrustal’naya

“Herald, anh giúp tôi việc này được không?” Burya đặt một mảnh xương dài lên trên bàn chế tác của chàng kỹ sư. “Đây là mảnh xương thu được từ Behemoth, tuy phần xác thịt bị phân rã nhưng vẫn còn kha khá xương được bảo toàn. Anh có thể dùng thứ này để chế tạo vũ khí không?”

“Hừm… Thon và cong như vầy, là xương sườn? Để tôi xem thử cái đã.” Gã cầm lấy búa và đục, gõ mạnh vài lần vào mảnh xương. Hoàn toàn không để lại dấu vết gì cả, độ cứng đáng nể. Lúc còn sống thì họ cũng đã chứng kiến độ cứng cáp của cơ thể Behemoth rồi, chẳng trách nó khỏe được như thế, đến cả xương của nó còn cứng hơn thép mà!

Đoạn, Herald nhúng nó vào một xô nước rồi ném vào bếp lò. Lửa gặp nước, tạo ra tiếng nổ lách tách, mảnh xương gặp nhiệt không hề hấn gì, gã lại dùng một que cời lò móc nó ra.

“Bên trong xương có cấu trúc rỗng như một mạng lưới thông đạo, chỉ cần chỉnh sửa đôi chút là có thể truyền linh lực vào. Dùng thứ này chế tạo thành linh cụ, chắc chắn chỉ có thể là hàng tuyệt phẩm. Cô muốn loại vũ khí nào?”

“Một cặp song đao.” Burya đáp không chần chừ, để hai tay sau lưng. “Làm xong có lẽ cũng vừa tới lúc nhóm các anh xuất phát. Đội Delta nay chia ra làm hai tổ nhỏ, tôi sẽ dẫn đầu nhóm người bốn người kia, không thể đi cùng các anh được. Anh để lại một thanh đao ở đây. Thanh còn lại đem theo, đưa cho đội trưởng, bảo là quà của tôi.” Nét mặt Burya thoáng ửng hồng, thật sự thì dù là tặng quà cho người nhà, cô cũng không giỏi trong việc biểu đạt cảm xúc.

Herald thấy vậy mỉm cười, đoạn lấy cưa ra để chia đôi mảnh xương, xua xua tay nói: “Được rồi, thứ này làm tôi thấy nóng máu lắm rồi đấy. Ngày mai sẽ xong, tôi để lại tại đây, cô tự vào lấy nhé.”

“Được rồi, vậy là đã xong mấy cái thủ tục lằng nhằng. Giới thiệu lại một lần nữa, tôi là Burya Gerisim, từ giờ là đội trưởng của mọi người, đội Delta 2.” Cô nói với giọng hơi lộ thoáng vẻ thất vọng. Thật sự thì cô muốn được kề vai chiến đấu cùng Eleazar cơ…

Lưu Vĩnh gật đầu. Bây giờ là đoạn họ sẽ được hứa hẹn về phần thưởng các thứ.

Burya nhìn cậu, rồi nói chậm rãi: “Có vẻ như Herald đã hỗ trợ cậu ít nhiều với cánh tay đó, về sau chúng ta có thể tới Thư Viện tìm Thần Y để trị tận gốc. Điều kiện mà họ đưa ra là cậu phải đi cùng chúng tôi.”

Rồi cô lại quay sang nhìn Lý Nhân: “Còn cậu, Lý Nhân. Có vẻ cậu chưa có mục tiêu xác định ngoài việc theo đuổi Tứ Phương Thiên Kiếm. Về chuyện này, tôi nghĩ thần thoại về Excalibur, được đồn đoán là một trong bộ tứ, sẽ hấp dẫn đối với cậu.”

Làng Tiltagen nằm bên một dãy núi đá cao chạy dọc theo triền biển. Sóng vỗ vào các mỏm đá đen, mang theo hương muối mặn nồng, tiếng chim biển la ó trong buổi ban mai.

Dân làng phần đông là ngư dân, quanh năm sống gắn bó với bờ biển này. Cứ ngày ngày lại mang lưới, lên thuyền, lênh đênh dập dềnh sóng nước.

Một vùng miền quê hoàn toàn bình thường, đáng lẽ ra sẽ rất vắng vẻ. Nhưng không, ngày ngày đều có hàng chục du khách tới thăm nơi đây, chính là vì trận đồ đá nằm ở rìa làng.

Nghe đồn, khi xưa, chính là vị vua đầu tiên của Britainnia, dựa vào bí mật ẩn chứa trong trận đồ đá đó mà tìm ra được thánh kiếm Excalibur, từ đó bình định giang sơn.

Cũng từ đó, vua Pendragon xây dựng một vương triều hùng mạnh, để lại di sản là hội đồng Thánh Hiệp Sĩ. Cuối cùng, trước khi tạ thế, ông đã trở lại nơi tìm thấy thánh kiếm lúc ban đầu, rồi để lại nó ở đó.

“Theo suy đoán của Thư Viện, đó là Ngự Thiên Thánh Kiếm, đi cùng chúng tôi, có thể giúp cậu tìm hiểu về nó.” Lý Nhân im lặng, gật đầu. Có được Ngự Thiên Thánh Kiếm, là một bước gần hơn với đỉnh cao mà cậu hằng mong đuổi, đỉnh cao của kiếm đạo.

Burya kể xong, lại quay sang Shamio. “Còn ông. Chuyện về Địa Giới, quả thực có nhiều lẩn khuất. Thư Viện có lý do để tin rằng, ngoài quê hương của ông ra, còn có nhiều vùng đất gặp phải cảnh ngộ tương tự, thế nên mới có lý do để ông đi theo.”

“Còn cô. Cô vẫn chưa có mục tiêu cụ thể. Tôi khuyên một câu, nếu không có mục đích sống, thì không nên sống.” Burya lạnh lùng nói với Seikiren, trong lòng cũng hơi chột dạ. Liệu không có mục đích, so với việc điên cuồng phục vụ mệnh lệnh thì thế nào là tốt hơn?

“Nói vậy là đủ rồi. Đây là huy ấn Severnaya, xuất trình nó tương đương với việc sở hữu quyền lực gần như tuyệt đối trên lãnh thổ Severnaya và Bhata, hay còn gọi là Hằng Vực. Trên những quốc gia khác cũng có ít nhiều tác dụng trong việc chứng minh thân phận. Từ giờ, mọi người là thành viên đội Delta 2 rồi, tất nhiên đều sẽ có.”

Burya phát những cái huy ấn ra, Seikiren nhận lấy mà ngắm nghía biểu tượng khắc trên tấm kim loại mạ vàng. Nhìn hao hao giống con sư tử, cũng có phần giống con sói, có thêm đôi cánh dang rộng hai bên..

“Tam Bảo Thú. Sư tử, sói, đại bàng. Đại diện cho trách nhiệm bảo vệ người dân Severnaya, đương nhiên là không liên quan quá nhiều với mọi người. Bây giờ tới phần đặc huấn…” Burya nói lấp lửng.

“Ờm… Thật sự thì tôi cũng không rõ phần đặc huấn này là như thế nào. Tôi đã bỏ qua việc huấn luyện, cứ vậy mà nhập nhóm thôi. Mà tôi thấy thân thủ của mọi người cũng tốt rồi, chỉ cần phối hợp với nhau, chắc chắn không cần đặc huấn gì thêm…”

Burya hơi lo lắng. Thôi chết rồi, mình hoàn toàn không biết gì về việc dẫn đầu một đội ngũ. Lão Gale khiển trách thì không sao, nhưng đội trưởng… Không thể để Eleazar thất vọng được!

“Tôi thấy, có lẽ cách luyện tập hiệu quả nhất là thực hành. Sau khi Behemoth tung hoành ngang dọc, dẫn đến rất nhiều rung chấn, gây ra lở tuyết ở phía Bắc, vẫn còn nhiều người bị mắc kẹt. Nhiệm vụ đầu tiên của mọi người là tới đó giải cứu càng nhiều nạn nhân càng tốt.”

Rặng núi Khrustal’naya uy nghiêm lừng lẫy. Dòng nước tuôn ra không ngừng, mãnh liệt mà phẳng lặng bên dưới nền băng. Gió cuốn theo từng đụn tuyết, xoáy vòng theo mạch núi dựng, sông chảy. Những chóp nhọn đang xen trùng trùng điệp điệp, làm Lý Nhân như tưởng rằng mình đã trở về Hoành Sơn Cốc.

Quả thật, nơi đây y hệt Hoành Sơn Cốc, chỉ khác ở chỗ nó nhỏ hơn nhiều, lại còn được tuyết dày bao phủ quanh năm, những cơn gió tàn độc gọi là “gió dao cạo” cứa vào thịt những kẻ xấu số bị nó nuốt chửng. Ngạo nghễ và tàn bạo, chính là Khrustal’naya.

Giữa chốn hiểm nguy bủa vây, lại là nơi chứa các dược liệu quý. Bạc hà pha lê, Khrustal Myata, một loại linh dược tinh hoa của thiên địa, chính là sinh trưởng mãnh liệt nhất ở trong địa ngục lạnh lẽo ấy. Thừa hưởng cái tên đầy uy áp của vùng núi ấy, Bạc hà pha lê có dược tính khổng lồ, chỉ cần nhai một cọng cỏ, thì dẫu là thương hàn cũng khỏi trong một hai ngày đêm. Thần kỳ như vậy, nên mùa đông ập tới, hàng trăm kẻ liều mình bán mạng tiến vào tử địa, nơi mà chỉ có ba phần tư người đặt chân tới sống sót trở ra.

Nguy hiểm là thế, nhưng với giá trị của Khrustal Myata, chỉ cần nhổ được một chiếc lá đem bán, vậy là đủ để ăn no mặc ấm trong một tháng trời. Thứ linh dược như vậy, các thầy thuốc cao tay trân quý hết mực, nấu và pha thuốc thật loãng, một chiếc lá mà làm thành trăm lọ trị cảm. Từ đó lại phân phát cho người dân. Có thể nói, dân đen ở Severnaya, nếu không tị nạn trong lâu đài Skyrfell, chui rúc trong nhà với bếp lò ấm cúng của họ, thì chính là nhờ những lọ thuốc trị cảm đó mà sống qua được mùa đông, mùa đông dài và sẵn sàng đoạt mạng bất kỳ ai.

Bạc hà pha lê, cánh mỏng mình thon, thật ra không thể thật sự coi là một loại thực vật. Trong mùa hè, nó sinh trưởng mạnh, không ngừng hấp thụ các dưỡng chất từ đá khoáng, pha lê hình thành xung quanh, ủ thành loại dung dịch có dược tính thần kỳ. Tới mùa đông, phần chất lỏng bị đông cứng lại thành đá pha lê trong suốt, còn những mô thực vật thì héo tàn, tan ra thành các bào tử nhỏ phát tán trong không khí, chỉ khi tới mùa xuân năm sau mới mọc lên, bắt đầu một chu kỳ mới.

Cũng như vậy, cứ tới mùa đông là những đọt lá xanh ươm đều tàn úa cả đi, vỡ vụn thành những cọng cỏ trong suốt như thủy tinh, hoàn toàn chỉ là lớp đá cặn còn sót thừa lại. Cũng chính vì đặc thù này, nên nó không thể được trồng ở bất kỳ đâu khác ngoài việc mọc tự nhiên ở vùng Khrustal’naya. Đương nhiên nhà thực vật học tài năng của đội Delta, Lea Flems đã thử thu vài mẫu khoáng thạch về nhà kính thử nghiệm trồng giống nhân tạo, thế nhưng chất lượng không cao, hoàn toàn không đáng công. Chỉ đành dùng tạm loại bạc hà đặc chế có dược tính chỉ bằng một phần tư, phân phát cho người dân ngay trước khi mùa đông ập tới.

“Nhiệm vụ là vào trong đó, cứu người ra. Cứu càng nhiều càng tốt, chỉ nhận người sống, không nhận thi thể. Thời hạn một tuần. Sau một tuần tôi sẽ kéo mọi người ra khỏi đó.”

Vĩnh quay lại định hỏi thêm, nhưng Burya đã biến mất. Gã thở dài ngao ngán, hơi thở phà ra trắng xóa. Cứu người? Giờ lại vướng phải mớ đặc huấn lằng nhằng này nữa… Thôi kệ, có hệ thống lọc máu này, không còn bị giới hạn nhiều bởi thời gian nữa, cứ thong thả mà làm theo ý họ.

Nhân lê bước dọc theo con sông Elivagar đóng băng. Vết chân hằn sâu trên tuyết. Dọc đường mọc lác đác vài thân cây khô đen đúa, lớp vỏ gỗ dày sần sùi. Lấy kiếm chém thử vào, thấy chảy ra một dòng nhựa đặc sệt nửa lỏng nửa rắn, tỏa ra hơi ấm nhẹ.

Chẳng biết các giống cây ở đây là gì, họ cứ vậy bước tiếp. Con đường dốc thoai thoải, đi được một tiếng đồng hồ thì con đường rộng dần cũng bớt dốc, mở ra một cánh đồng trắng mênh mông. Chẳng biết là do tuyết hay vốn dĩ cỏ ở đây đã có màu trắng muốt như vậy rồi.

Shamio đứng bên vách triều đá cheo leo. Quang cảnh nhìn xuống thật hùng vĩ, con đường dẫn quanh một vùng địa hình lòng chảo rộng hơn trăm dặm, bên trong nhô lên tua tủa các khối băng đồ sộ, đầy uy thế. Trông tương tự địa hình ở Hoành Sơn Cốc nhưng lạnh lẽo hơn, những mũi đá nhọn hoắt tựa như những hàng chông lũy phòng ngự, hoặc từa tựa như những đọt măng mới nhú. Sông Elivagar chảy quanh co qua những trụ đá đó, uốn khúc chảy từ điểm cao nhất ở núi đá trung tâm ra tới rìa bên ngoài, đi vào trong dòng chảy ngầm ở vách lòng chảo, chảy xuống vùng thung lũng.

Chợt, ông nghe thấy tiếng nứt gãy dưới chân. Rắc rắc. Vách đá lỏng lẻo vỡ ra, rơi xuống. Shamio cảm thấy tim mình hẫng một nhịp, chợt thấy mình bị kéo ngược lại phía sau.

Seikiren đã chạy tới, túm lấy áo ông kéo về, đẩy ông về phía Lý Nhân. Mặt đất tiếp tục nứt toác ra, làm Seikiren trượt chân mất thăng bằng ngã xuống. Vĩnh thấy vậy choài người ra khỏi mỏm đá với lấy tay cô.

Hai đầu ngón tay chạm vào nhau, lạnh buốt. Seikiren rơi thẳng xuống, ra khỏi tầm với của gã.

Thân thể đang rơi nhẹ bẫng tựa lông hồng. Seikiren rơi vào trong tầng mây mù, xuống lòng chảo bên dưới. Cô vung cây búa lên, đập vào thành vách đá trong lúc đang lơ lửng. Lực ma sát giữa búa và đá vang lên kin kít, tạo ra lực chấn khổng lồ, gần như làm lệch cổ tay cô.

Thế nhưng lạ thay, lực chấn đó giảm dần rồi biến mất. Cây búa ngược lại thì rung lên bần bật, phát ra tiếng ù ù như côn trùng hay sóng biển. Đất đá vỡ ra rơi lả tả, nhưng tốc độ rơi của cô cũng chậm lại. Sau một lúc thì đã tiếp đất được an toàn, chỉ có cổ tay là tê rần và mắt cá chân bị trẹo.

Lồm cồm bò dậy từ cú ngã, Sei nhìn lên. Vách đá dựng đứng hơn ba chục trượng, bị phủ kín trong tầng mây, lại còn là giữa chốn hoang vu này, vách đá nào trông cũng như nhau, không thể phân biệt được. Trong lòng cô dâng lên một cảm giác ớn lạnh, nếu không thể phân biệt được, dù có xuống tới đây, họ cũng sẽ khó tìm được mình.

Đành vậy. Cô xách theo chiếc búa, lê bước đi. Chân cô đau nhói, đi khập khiễng. Dòng suối, có lẽ nên đi ngược dòng suối. Những người kia chắc chắn sẽ muốn tìm đến trung tâm lòng chào này, cũng tức là nơi khởi nguồn của dòng Elivagar, chỉ cần đi men theo dòng nước thôi. Cô cứ dùng cây búa làm gậy chống mà đi dọc bờ nước đóng băng, không hề để ý đến ánh sáng hoàng kim mà cây búa phát ra.

Dọc đường, do đi chậm, Seikiren có thể nhìn thấy những loại thực vật lạ khác. Thân thẳng mọc lên từ đất trắng, chia ra làm bốn nhánh, lá có mép viền họa tiếp hình vuông nối tiếp. Bứt thử một cọng, thấy phần thân nó cứng giòn như gỗ khô, bên trong chảy ra thứ nhựa đặc âm ấm. Cô đoán mò rằng đây là cùng một giống cây với những cổ thụ khô họ nhìn thấy trên đường leo dốc.

Giữa lòng chảo vậy mà địa hình lại càng dốc lên. Lúc này, bụng Sei cũng kêu lên ùng ục, từ sáng tới giờ chưa có gì bỏ bụng. Cô nhìn những ngọn cỏ nhỏ trên đường, đều chẳng có vẻ ngon lành gì lắm, lại nhìn xuống suối tìm cá. Thế nhưng chỉ thấy vài con cá lòng tong nhỏ xíu, không có cách nào bắt ăn được, mà có ăn được thì cũng chẳng dính kẽ răng.

Lại lê bước đi tiếp, lúc này cô mới để ý đến những trụ băng kỳ vĩ. Phần đáy có hình lục giác, nhỏ dần về phía trên đỉnh tạo thành chóp nhọn. Hàng trăm mũi nhọn vươn lên tua tủa như thế, tưởng chừng muốn xé toạc bầu trời. Chợt, Seikiren để ý thấy có một vài bóng hình bên trong khối băng. Cô ghé sát mắt lại gần, nhìn kỹ.

Một gương mặt khiếp đảm, một bộ quần áo rách rưới, cả hai tay như vẫy vùng cầu cứu. Thi thể người đó đã bị mắc kẹt hoàn toàn trong khối băng, dường như đã ở đó từ rất lâu. Làn da tím tái, đôi chân vỡ nát bầy nhầy, dáng vẻ tuyệt vọng trước khi chết đều được giữ lại.

Sei hơi giật mình lùi lại. Những kẻ xấu số này, có lẽ là chết vì kiệt sức? Hoặc là khi mưa xuống, thân nhiệt giảm mạnh, mới chết lạnh như thế. Khu vực này không hiểu sao quanh năm ngày mưa ngày tuyết, luân phiên tuần hoàn không đổi. Cũng chính vì thế mà nơi đây được gọi là Địa Ngục Trắng, mưa trong cái lạnh là án tử đối với những kẻ đặt chân tới đây.

Nếu có một người chết do mất thân nhiệt, thân thể họ sẽ bị đông cứng, vẫn đứng y nguyên với biểu cảm như đang còn sống. Khi mưa xuống, nước nhanh chóng đóng băng, lại tạo thêm một lớp băng mỏng bên ngoài. Cứ lặp đi lặp lại như vậy, lớp băng cũng bị đắp cho dày lên, mưa xối xuống lại vuốt nhọn các trụ băng, tạo nên hình thái những cỗ quan tài đá như hiện nay.

Seikiren cầm cây búa đập thử vào khối băng, đầu búa vang lên một tiếng koong lớn, tay tê rần, mặt băng gần như chẳng có sứt mẻ gì cả. Vậy là tầng băng này cứng hơn cả đá, không biết là do đâu mà vậy.

Cô lại ngước nhìn lên, tạm biệt thi thể mắc kẹt trong băng rồi đi tiếp. Bỗng bên trái trụ ăng, cô nhìn thấy một làn khói. Có người. Sei vội lê bước về hướng đó.

Đi khoảng một dặm, xuất hiện một khu trại. Một chiếc nồi được bắc qua một đống lửa, vài đống bùi nhùi nằm cạnh đó, bắt lửa mà dẫn sang các lều. Những cái lều đểu đang cháy, Một cái trại mới bị bỏ không. Hoàn toàn không thấy bóng dáng ai cả. Vài cái túi ngủ nằm la liệt dưới đất. Vẫn còn lửa cháy ở đấy, tức là người rời khỏi đây chưa lâu. Căn cứ vào lượng nước còn lại trong nồi đang sôi sùng sục, có thể đoán rằng họ đã rời đi từ một tiếng trước.

Có vài vết chân hằn mờ nhạt trên tuyết. Dấu chân gần như đã bị vùi lấp hoàn toàn, phải khó khăn lắm mới lân theo được. Cách đó chục mét, là năm thi thể chưa bị đóng băng. Chân tay đều bầm tím. Tất cả đều tử vong do chấn thương mạnh ở đầu. Một người bị mất một cánh tay, có người khác thì đầu nát toét không nhận dạng được, nói chung là chết thảm.

Trước mặt là một cái hang lớn. Nói là cái hang cũng không đúng lắm, là do bốn năm cái trụ băng nằm nghiêng đan chéo vào nhau, tạo thành một vòm cổng rộng, đằng sau lại có thêm mấy chục trụ băng nữa đan theo đủ thủ hướng khác nhau, hợp thành một tổ hợp thông đạo dày đặc.

Bước vào, Sei quan sát vách hang. Vẫn là những trụ băng chúa thi thể. Lúc này cô mới để ý, ở đây không phải trụ nào cũng là băng. Có những trụ không có thi thể, màu trong hơn và nhạt hơn, lấp lánh gần như trong suốt, đáy lại nhiều hình thù chứ không chỉ hình lục giác.

Pha lê. Những trụ đá này là pha lê. Chính vì lượng pha lê khổng lồ ở đây nên vùng mới có danh xưng Khrustal’naya, hay miền đất pha lê băng. Nhớ mang máng những gì nghe được ở chỗ Burya, ở đâu có pha lê, ở đó có cỏ pha lê. Đây rồi, một đọt bạc hà nhỏ mọc lên từ giữa hai kẽ đá. Nhổ lên không tốn sức mấy, chỉ hơi bóp nhẹ là dược chất bên trong đã chảy ra dinh dính. Chợt, khi đang cúi xuống, cô nghe thấy tiếng rên rỉ nho nhỏ.

Có người bên trong? Cô gõ gõ vào mặt đá, lớn tiếng gọi: “Ai đó? Có ai trong này không?”

Một giọng thều thào yếu ớt gọi vọng ra: “Cứu tôi. Tôi kẹt ở đây hơn ba ngày rồi. Cứu.”

Seikiren lấy búa, dồn hết lực bình sinh đập thẳng vào khối đá. Nó chỉ bị nứt nhẹ, ngoài ra không bị ảnh hưởng gì mấy. Dồn lực đập thêm vài lần nữa, mới chỉ vỡ ra được một lỗ hổng đường kính một mét. Tiếng ù vang lên từ cây búa ngày một lớn hơn, làm cô chú ý tới. Trước giờ nó chưa từng như vầy.

Chợt Sei cảm thấy như sức lực bị rút ra khỏi cánh tay, nhìn kỹ thì thấy dọc theo đầu búa có một vài đường dẫn trong suốt, những đường khía chạy ngang dọc dẫn theo một chất lỏng màu đỏ.

Đập thêm một lần nữa, một tiếng nổ lớn văng vẳng hang động. Rung chấn phá nát tầng đá, rung chuyển toàn bộ cả vùng xung quanh. Seikiren cũng không thể tin, mình làm được kỳ tích như vậy.

Bên trong cái hốc bị đập ra, có một ông lão đang ngồi thu lu. Ông ngẩng đầu nhìn lên với ánh mắt nửa hoảng sợ, nửa biết ơn. Ông quỳ lạy mà cảm ơn rối rít.

“Tôi bị mắc kẹt ở trong đó hơn ba ngày rồi.” Ông ta kể, khi họ đã trở về cái trại bị bỏ không, ăn phần đồ ăn đóng hộp tìm được ở đó. Nhiệt lượng ấm áp từ bếp lửa tỏa ra, kéo ông sáp lại gần.

“Sau khi chui vào cái hốc đó, bỗng nhiên có mưa xuống. Tôi dự tính trú mưa thôi mà nó đã đóng băng lối vào cái hốc hẹp lại, không chui ra được nữa. Sau ba ngày…” Ông bỏ lửng, chỉ về nhóm năm thi thể nằm kia, nói tiếp: “Có năm người kia đi qua, đột nhiên gặp một loài dã thú đi bằng hai chân, dáng vóc thể hình to lớn, toàn thân đầy lông trắng. Nó đánh chết bọn họ, gầm rú liên tục làm tôi không dám bò ra.”

“Dã thú đi bằng hai chân?”

“Thật sự là vậy, hình như mới chỉ một giờ trước thôi. Nó không ăn thịt bọn họ mà cứ vậy bỏ đi.”

“Nơi này nguy hiểm như vậy, bác tới đây làm gì? Là muốn hái cỏ pha lê làm liều kiếm tiền sao?”

“Tôi nào phải loại dại dột như thế chứ. Tôi sống ở một làng nhỏ ở hướng Tây, mỗi tháng mới có một chuyến xe thuốc từ thủ đô chuyển tới. Tiếc là trong tháng này mọi người đã dùng hết thuốc rồi, con tôi lại bị cảm, sốt liên miên mấy ngày. Nếu đưa con bé tới thủ đô thì nó sẽ không chịu được trời lạnh, lại chẳng có cách nào khác, tôi chỉ còn cách vào đây hái cây thuốc về.”

Nghỉ ngơi xong xuôi, Sei bảo: “Tôi tiến vào đây với ba người khác, bị tách ra, bác theo tôi, gặp lại họ rồi rời khỏi đây. À mà ông tên gì?”

Ông lão nhét vài cọng cỏ vào túi mà đáp: “Tôi là Urregand. Hân hạnh được gặp cô.”

Cả hai đi dọc theo bờ suối, sau khoảng một dặm đường thì trời sẩm tối. Vừa đi Sei vừa ngẫm nghĩ, nếu không phải cô vô tình đi vào hang động đó, cúi xuống hái ngọn cỏ đó, thì có lẽ ông lão này đã chết rét chết đói trong đó rồi, trong lòng cô bất

giác dâng lên một niềm tự hào khó tả.

Họ dừng chân bên một cái hốc, rúc vào đó ngủ qua đêm. Trong đêm đen, từng cơn gió lạnh cắt da cắt thịt cứa vào người họ. Bộ áo lông dày chỉ có thể miễn cưỡng chống chịu cái rét đó.

Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!