Quyển 1:Linh Lục Ký I - I

Chương 08

Chương 08

Chương 8: Tháp Cổ Giữa Hồ

Rìa Tây Khái Thương Quốc

Lưu Vĩnh và Lý Nhân đã đi được một tháng. Họ đã tới vùng cận biên giới Khái Thương Quốc, một vùng đồng bằng trải dài trước khi tiến vào Hoành Sơn Cốc. Giữa chốn đồng cỏ mênh mông đó, họ nhìn thấy một hồ nước lớn.

Bờ hồ cong cong, trải dài tít tắp, từ trên cao nhìn xuống có lẽ trông giống như một con mắt. Nước gợn sóng li ti. Một màn hơi nước mờ nhạt bốc lên thành sương mù, tạo ra bầu không khí nóng ẩm.

Hai người cưỡi con ngựa sắt chạy dọc theo bờ hồ. Cơ mà bờ hồ cứ trải dài mãi, không rõ rốt cuộc cái hồ nước này lớn đến chừng nào. Nước đục ngầu không thấy đáy, lẽ nào phải lội qua? Như thế thì phải bỏ lại ngựa, không được.

Họ ngồi lại trên thảm cỏ nhìn hồ nước. Thử chạm tay xuống nước, Lưu Vĩnh vội rụt tay lại. Nóng quá! Cái nước ở hồ này nóng như đun, chẳng biết có phải dưới đáy có địa nhiệt hoạt động hay chăng? Vậy là chắc chắn không thể bơi sang đầu bên kia rồi.

Những tia nắng le lói qua những tầng mây dày đặc. Bỗng có một sợi tơ nắng vàng len lỏi, chiếu thẳng vào lưỡi kiếm của Lý Nhân. Tia nắng đó nhảy múa, phản chiếu lấp lánh, rồi kỳ dị thay, bỗng hóa thành màu đỏ, rồi phản xạ lại về phía hồ nước.

Theo hướng tia sáng chiếu về, từ màn sương mờ ảo hiện ra một cây cầu. Cầu cong vòm dẫn tới giữa hồ. Đáng ngạc nhiên là cây cầu như thể làm bằng thủy tinh, gần như là trong suốt. Khi đôi bạn tiến lại gần, cây cầu dần lộ ra sắc màu đỏ. Chỉ những chỗ được tia nắng phản xạ lại từ lưỡi kiếm chiếu vào mới hiện nguyên hình.

Trầm trồ kinh ngạc, Lưu Vĩnh bước lên cây cầu trong suốt đó. Ngắm nghía mặt cầu cẩn thận. Không thể nào hiểu được sao lại tạo ra được màu sắc kì ảo như vậy. Lý Nhân nâng thanh kiếm lên, ánh sáng chiếu tới đâu, màu sắc hiện ra tới đấy. Hai người để ngựa lại trên bờ, chầm chậm bước lên cây cầu, tìm hiểu xem nó dẫn tới đâu.

Lý Nhân đi trước soi ra một con đường, hơi nước vẫn bốc lên nghi ngút. Chợt phía xa, hình bóng của một công trình đồ sộ hiện lên giữa hồ nước. Một tòa tháp cổ, cao bốn tầng, đứng sừng sững trên một hòn đảo giữa hồ. Lý Nhân lại bước thêm một bước, bỗng hụt chân rơi xuống nước.

Lưu Vĩnh đi sau nhanh tay kéo được lại. Nhìn xuống thì thấy trên cầu không hiểu sao có một lỗ hổng lớn, nếu chăm chú nhìn tòa tháp mà không để ý bước chân thì sẽ rơi thẳng xuống nước. Cầm thanh kiếm lên soi, Lý Nhân hoảng hồn nhìn thấy phần sàn cầu đầy rẫy những lỗ hổng, có vẻ là được đục khoét tỉ mỉ như một dạng cạm bẫy.

Cả hai cẩn thận chậm rãi tiến về phía hòn đảo nhỏ. Đặt chân tới bờ, cả hai ngước lên nhìn tòa tháp. Phần đáy tháp thì có kiến trúc phương Tây, thế nhưng mái vòm thì lại được lát ngói theo phong cách phương Đông. Tiến vào trong tòa tháp cổ kính, mùi rêu và mốc xộc vào mũi. Chẳng có gì ngoài một bức tượng con rùa bằng đá cẩm thạch, địa y phủ đầy, miệng con rùa hé mở. Ngó quanh chẳng thấy gì khác. Lý Nhân lấy thanh kiếm quẹt thử vào miệng con rùa xem trong đó có gì không.

Đột nhiên con rùa đóng chặt miệng lại, ngậm lấy thanh kiếm. Cả hai vội kéo thanh kiếm ra, nhưng đã kẹt cứng. Bỗng cả tòa tháp rung chuyển, đất đá, gạch rơi vỡ. Cả hai che đầu mà lùi ra.

Bức tượng con rùa nứt dần, để lộ ra bên trong một màu hoàng kim rực rỡ. Vàng! Toàn bộ lớp đá bao phủ xung quanh rơi vỡ hết hoàn toàn, con rùa tỏa ra ánh sáng chói mắt. Đích thị là làm từ vàng ròng!

Chưa kịp phản ứng gì, không hiểu sao mà mực nước hồ cứ từ từ dâng lên! Dường như cả tòa tháp đang chìm dần xuống nước. Hai người vội mỗi người bám lấy một cây cột mà vận sức leo lên tầng trên. Pho tượng rùa vàng vẫn ngậm chặt thanh kiếm mà chìm dần xuống nước. Lý Nhân vô vọng nhìn thanh kiếm của thánh tổ dần biến mất xuống đáy hồ.

Leo được tới tầng tháp thứ hai, hai người ngồi xuống thở hồng hộc.

“Chạy khỏi cái hồ quái quỷ này thôi!” Lý Nhân kêu lên tức tối.

“Không lấy lại thanh kiếm của cậu à?”

“Còn lấy gì nữa?! Bỏ của chạy lấy người, về bờ đi!”

“Chờ đã, cây cầu!”

Hai người nhìn về phía cây cầu thủy tinh vô hình, không thể nhìn rõ hình bóng của nó. Giờ đây thanh kiếm bị lấy mất, nếu lần mò mà cố chấp đi về bờ thì sảy chân rơi xuống nước là cái chắc. Trời cũng đã nhá nhem tối, mặt nước phản chiếu ánh hoàng hôn tỏa ra ánh sáng đỏ rực rợn người đỏ lòm như máu.

Hai người nhìn nhau. Có vẻ phải qua đêm ở đây vậy. Hai người tiếp tục leo lên tầng trên cùng của tòa tháp, đề phòng giữa đêm tháp lại tiếp tục chìm xuống. Đặt mình lên nền đá ấm, cả hai chìm vào giấc ngủ.

Mặt trời lên. Lưu Vĩnh và Lý Nhân choàng dậy, nhìn xuống mặt nước. Hình như trong đêm tòa tháp đã chìm thêm một tầng. Hai người lo lắng bàn bạc cách trở về bờ. Lội qua là không thể rồi, nước sôi bỏng rộp, xuống đó là bị luộc. Mất kiếm nên không thể soi đường về bờ, lẽ nào ngồi chờ chết?

Hai người đang phân vân thì tòa tháp lại rung chuyển mà từ từ chìm dần. Cứ đà này thì sắp phải bơi rồi. Cả hai nhìn nhau lo lắng.

Chợt sàn tòa tháp rạn nứt, những vết đứt gãy dài xuất hiện trên nền đá. Đúng lúc hai người vừa né ra thì tòa tháp hoàn toàn tách làm đôi, gạch đá rơi vỡ. Hai người bị tách ra hai nửa tòa tháp. Ở giữa khoảng nứt gãy, trung tâm xuất hiện một xoáy nước đen ngòm, cuộn tròn. Những bong bóng nước sủi lên liên tục,

Từ trung tâm xoáy nước đó chầm chậm nhô lên một bệ thờ bằng đá. Trên bệ đá đó chính là thanh kiếm thánh tổ của Lý Nhân. Cậu vội nhoài người xuống với lấy thanh kiếm. Tuy vậy, thanh kiếm lại bị gắn chặt vào bệ thờ, không thể gỡ ra được. Chợt Lý Nhân nhìn thấy bên cạnh lại có một thanh kiếm khác. Lấp loáng trên lưỡi kiếm màu hồng ngọc, tỏa ánh sáng chói lòa.

Lưu Vĩnh nhìn kĩ bệ đá có khắc ba chữ cổ mà dịch: “Tế Binh Đài”

Trong lúc Lý Nhân vẫn đang cố gắng kéo thanh kiếm ra thì ngón tay cậu trượt lên lưỡi kiếm sắc nhọn, làm đứt một đường, túa máu ra. Cậu thấy đau vội rụt tay lại. Giọt máu đỏ thẫm len lỏi dọc rìa thanh kiếm mà chảy vào một khe rãnh nào đó.

Toàn bộ bàn đá rung chuyển, mở toang ra một bể nước đỏ lòm. Giọt máu trước đó của Lý Nhân loang lổ trong đó. Hai thanh kiếm trượt ra khỏi vị trí ban đầu mà rơi vào bể nước. Trước ánh mắt kinh ngạc của hai người, lưỡi kiếm bằng thép của chúng tan ra trong nước, hòa quyện thành một chất lỏng đặc sánh như kim loại nóng chảy.

Chất lỏng ấy hòa tụ lại giữa xoáy nước, kết tinh lại, tạo ra hình ra dạng mà từ từ trồi lên. Giữa xoáy nước nổi lên một thanh kiếm mới, chất lỏng ánh kim kia bám vào lưỡi kiếm mà tiếp tục bồi đắp thêm, mài nhọn thêm, tới khi cạn kiệt hoàn toàn. Thanh kiếm thứ ba đã hoàn chỉnh, và hai thanh kiếm lúc đầu hoàn toàn không còn dấu vết.

Thanh kiếm dễ dàng bị Lý Nhân kéo ra khỏi tế bàn. Lấp lánh trong ánh mặt trời, lưỡi kiếm được chạm khắc tinh tế hoa văn con rồng đặc trưng của thanh kiếm thánh tổ, nhưng lại có thêm sắc đỏ của thanh kiếm lạ.

Trong ánh sáng lấp lánh của mặt trời, một tia nắng chiếu vào thanh kiếm mà phản xạ lại về phía Tây. Từng mảng màu đỏ son hiện ra, cây cầu thủy tinh trong suốt lại xuất hiện. Không nghĩ ngợi nhiều, hai người trèo xuống từ tòa tháp đã chìm một nửa mà nhảy về phía nó. Rồi vòng qua các lỗ hổng vô hình mà vượt qua hồ nước về bờ.

Đôi bạn quay người lại mà nhìn tòa tháp ẩn hiện trong màn sương, biến mất hoàn toàn. Lại được đặt chân lên đất bằng vững chãi, cỏ xanh rờn tận chân trời. Hai người ngó quanh tìm con ngựa sắt để lại bên hồ nhưng chẳng thấy đâu.

Chợt họ thấy một thứ gì đó đồ sộ khác ở phía xa. Núi. Không phải một ngọn núi, không phải một dãy núi. Là hàng trăm dãy núi đan xen với nhau chằng chịt, chồng chất lên nhau, vươn lên tận trời cao. Trên cùng, một đỉnh núi cao chót vót đứng ngạo nghễ hiên ngang tựa như chúa tể của mảnh sơn thổ ấy. Đó là Hoành Sơn Cốc - Ma trận địa lý, rào cản trở ngại lớn nhất cho việc giao thương bằng đường bộ giữa Lãnh Quốc Severnaya, Hằng Vực Bhata, và Khái Thương Quốc Eastrealm. Quần thể núi kỳ vĩ ấy đứng giữa đại thế lực, bị bao vây lần lượt bởi ba đại thế lực theo các hướng lần lượt là Tây - Nam - Đông. Ấy vậy mà cả ba thế lực đó đều không có đủ khả năng để thật sự phá vỡ rào cản đó để giao thương mà đành chấp nhận giao thông bằng đường thủy.

Vậy là đã qua tới đầu bên kia hồ rồi sao? Tòa tháp và tế đài kia rốt cuộc là thứ gì? Chỉ có thể đành tạm gác lại thắc mắc chờ được giải đáp bởi một học giả nào đó. Bây giờ thì phải bàn về việc đi tiếp.

Vốn dĩ chọn đi đường bộ là vì con ngựa sắt không tiện mang theo trên tàu thuyền, giờ bị để lại rồi thì đi đường thủy ắt cũng được, dẫu sao cũng nhẹ nhàng hơn vượt Hoành Sơn Cốc. Trớ trêu thay là khu vực này lại không có cảng biển, cũng chẳng có tàu bè. Cũng phải, ai lại muốn giao thương giữa chốn khỉ ho cò gáy này chứ. Vậy thì cứ phải đi đường núi.

“Tiếc nhỉ, mất mất con ngựa rồi.”

“Thôi bỏ đi, ngựa sắt hay ngựa thường thì đều là vật cưỡi thôi.” Lý Nhân thở dài.

Họ lại cất bước lên đường, tiến về phía những dãy núi trùng điệp phía xa.

Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!