Gió nhè nhẹ thổi qua khe cửa, cánh cửa cũ kĩ kêu cót két. Căn phòng nửa sáng nửa tối, chỉ có chút ánh sáng của mấy viên than trong bếp, và ánh sáng le lói qua khe cửa. Bên trong, mấy người ngồi im không nói gì một lúc lâu. Tất cả có lẽ đang chìm đắm trong những giả thuyết, ý kiến của riêng mình, nhưng tuyệt nhiên không ai rời mắt khỏi thanh kiếm.
Tấn mở đầu trước:
– Thôi đi, ai cũng biết sự tích Lê Lợi trả kiếm cho rùa thần ở hồ Gươm. Vậy sao nó lại còn đến tận bây giờ được?
Tất cả quay về phía Diệu Bình đợi cô đưa ra lời giải thích. Diệu Bình nói:
– Anh có tận mắt thấy vua Lê Lợi trả kiếm không?
– Dĩ nhiên là tôi không thể thấy được! Cô đang đùa tôi đấy à?
– Tôi không đùa anh. Nhưng đây lại là một trong những bí mật lớn nhất của lịch sử Việt Nam: vua Lê Lợi không hề trao trả lại thanh kiếm thần. Ông ấy đã giữ lại nó!
– Tại sao ông ta không trả lại? – Tấn tỏ ra thực sự ngạc nhiên.
– Vậy tại sao ông ta phải trả lại nó? – Diệu Bình hỏi ngược lại. – Ta đang nói về một báu vật có thể giúp chủ nhân làm chủ giang sơn xã tắc, đánh đông dẹp bắc. Nếu là anh, anh có đem trả nó để rồi nó có thể lại rơi vào tay người khác, kẻ mà có thể cướp mất đi giang sơn mà anh đã đổ bao mồ hôi xương máu, không phải chỉ của bản thân, mà còn của rất nhiều đồng bào mới có được không?
-Vốn dĩ nguyên nhân không được nói rõ, nhưng tôi đồ rằng, vua Lê Lợi có lẽ đã dự đoán được trong tương lai, không sớm thì muộn, cũng sẽ có giặc ngoại xâm tới xâm lược nước ta. Việc đó thực sự đã xảy ra, không chỉ một lần. Vậy tới lúc đó có thần kiếm hỗ trợ không phải tốt hơn sao! Nên cần giữ lại để truyền lại cho thế hệ tương lai, bất kể đó là ai, để có thể giúp sức cho đất nước!
Tấn không trả lời được, cũng không ai nói gì. Cuối cùng anh nói:
– Thôi được, cứ cho là vua Lê Lợi giữ lại kiếm, sau đó thế nào?
– Anh cứ bình tĩnh! Tôi lại hỏi anh điều này đã: Thanh kiếm như trong truyền thuyết được ghép lại từ chuôi kiếm và lưỡi kiếm, có phải không?
– Cái đấy đứa trẻ cũng biết… Út Hương nhỉ? – Tấn không quên trêu chọc cô bé luôn, làm Út Hương bỗng lúng túng không biết nói thế nào, òa lên:
– Cái anh dở hơi này, có mà anh trẻ con ấy!
– Thôi được rồi, Út Hương để chị nói đã – Diệu Bình nói như nạt cả hai rằng đây không phải lúc để đùa nghịch.
– Mọi người đều biết rằng thanh kiếm được ghép lại từ chuôi kiếm và lưỡi kiếm. Nhưng một lần nữa, đây không phải là sự thực. Cán kiếm và lưỡi kiếm vốn liền với nhau, không hề tách rời nhau ra. Cái được tách rời ra ở đây chính là viên ngọc!
– Thế thì cứ nói là thanh kiếm và viên ngọc, sao phải nói là chuôi kiếm và lưỡi kiếm? – Tấn lại hỏi.
Diệu Bình dừng lại một chút, nhìn Tấn, rồi nói tiếp: – Anh hỏi hay lắm. Là như thế này: vốn dĩ việc có được thanh gươm như thế nào vốn không nhiều người biết, kể cả những người thân cận nhất. Vua Lê Thái Tổ khi có được bảo kiếm, đã hiểu ngay được tầm quan trọng của nó trong cuộc chiến đánh đuổi giặc Minh. Vốn tính cẩn thận, nên đã cho làm một viên ngọc gần như y hệt viên bảo ngọc, thay viên ngọc giả vào chỗ trên đốc kiếm, và dựng lên câu chuyện về chuôi kiếm và lưỡi kiếm. Chỉ khi nào lâm trận, thì mới tra viên ngọc thật vào thanh kiếm, còn không ông luôn đeo viên ngọc theo mình. Ông làm vậy để tránh trường hợp bị đánh cắp bảo kiếm, thì ít ra vẫn còn viên ngọc theo mình, không bị mất tất cả mà vẫn còn phần nào sự che chở của thần linh.
– Sau đó là câu chuyện trả kiếm ở hồ Gươm. Khi tất cả mọi người, quan lại, người dân đều đã tin là cây kiếm đã biến mất, thì sự thật về nó chỉ còn người trong hoàng thất nhà Lê là được biết đến, nhưng cũng chỉ vài ba người thân cận nhất mới được biết.
– Còn câu chuyện trả kiếm, có lẽ ý của Lê Thái Tổ muốn cho mọi người thấy rằng, tuy ông là người được trao thần kiếm, được ủy thác của thần linh để lấy lại giang sơn từ giặc ngoại xâm, nhưng ông không phụ thuộc vào một thanh kiếm. Ông muốn cho mọi người thấy rằng không có thần kiếm thì ông vẫn có thể trị vì, gây dựng một nước Đại Việt hùng mạnh. Ngoài ra còn một lý do nữa: không ít kẻ luôn dòm ngó, muốn chiếm lấy thanh kiếm, việc tạo ra một câu chuyện trả kiếm cho thần, dù ít hay nhiều, cũng phần nào làm nhụt chí những kẻ đó, qua đó giữ cho thanh kiếm luôn an toàn trong gia tộc Lê.
– Thanh kiếm sau đó, được cất giữ và bảo quản cẩn thận trong hoàng thất nhà Lê mà không ai bên ngoài được biết. Còn viên ngọc, thì được vua luôn mang theo mình, như một lá bùa hộ mệnh vậy. Viên ngọc sau đó, được truyền lại cho thế hệ sau theo kiểu cha truyền con nối, vua cha trao cho thái tử mới lên đăng cơ. Và câu chuyện cũng được truyền lại, chỉ theo đường truyền miệng mà không có ghi chép nào lại để đảm bảo không bị lộ bí mật ra ngoài.
Dừng lại một chút nhìn mọi người xung quanh, tất cả có vẻ vẫn đang chăm chú nghe câu chuyện đến nỗi khi Diệu Bình dừng lại, họ mất một lúc mới giật mình nhìn cô. Diệu Bình thở dài, nói tiếp: – Nhà Hậu Lê của vua Lê Thái Tổ, có lẽ là triều đại hoàng kim nhất trong lịch sử Việt Nam ta, dù là con cháu nhà Nguyễn… nhưng tôi cũng không thể phủ nhận điều đấy. Đánh đông dẹp bắc, mở rộng bờ cõi, nhân dân no ấm… thật là một triều đại tuyệt vời.
Nói rồi đứng dậy, tiến lại gần bức tranh treo trên tường. Cô chỉ vào một người trong tranh đang cầm một thanh kiếm, xung quanh như phát ra hào quang, đang dẫn tinh binh chiến đấu với đám người ăn mặc kì lạ cổ quái, quay lại hỏi ông trưởng bản:
– Nếu tôi đoán không nhầm, đây chính là vua Lê Thái Tông. Tranh này vẽ lại cảnh nhà vua đích thân lên miền ngược dẹp loạn các tù trưởng nổi dậy, có phải không vậy?
Bát dịch lại cho ông trưởng bản bằng tiếng Tày. Ông lão bỗng òa khóc, lại dập đầu lạy liên hồi. Diệu Bình phải đỡ ông dậy, đợi ông bình tĩnh được, mới nói tiếp:
– Bức tranh đã cho thấy phần nào sức mạnh của thanh bảo kiếm huyền thoại. Chỉ cần có nó, là trăm trận trăm thắng. Kẻ thù chỉ cần nhìn thấy đã khiếp sợ, không đánh mà tự tan. Đó là sức mạnh thần thánh mà không thứ vũ khí nào có được.
– Rực rỡ, oai hùng là vậy, nhưng rồi cũng đến lúc nhà Lê suy yếu. Dù có bảo kiếm sức mạnh to lớn đến đâu, nhưng rơi vào tay những kẻ nhược tiểu, không lo chính sự, chỉ lo chơi bời trác táng, thì không thứ gì có thể cứu vãn được. Tuy danh nghĩa vẫn là hoàng đế, nhưng quyền lực thực sự nằm trong tay quần thần. Đến khi bị nhà Mạc soán ngôi, phải chạy vào tận Thanh Hóa, lập nhà Lê Trung Hưng. Vua Lê Trang Tông đã vô tình cho cận thần là Nguyễn Kim – chính là Triệu Tổ của nhà Nguyễn – biết được bí mật về thanh thần kiếm.
– Triệu Tổ biết về thanh kiếm, nhưng không vì vậy mà người có lòng phản trắc với vua Trang Tông. Người đã một lòng một dạ dốc sức phò tá đức vua. Nhờ sức mạnh thần kì của thanh kiếm, cùng với thanh thế của việc phò vua Lê, lực lượng của nhà Lê Trung Hưng ngày càng mạnh và về sau đã đánh ra ngoài Bắc, giành lại kinh thành Thăng Long. Nhưng không may trong thời gian đó, Triệu Tổ bị kẻ gian hạ độc ám hại, không qua khỏi. Thực quyền lại rơi vào tay con rể của ngài, là Trịnh Kiểm. Y một tay che trời, lại tìm cách ám hại hết gia thất nhà Nguyễn chúng ta. Con trưởng của Triệu Tổ là Nguyễn Uông cũng bị hắn hại chết, dù đó là anh em ruột của vợ y, là bà Nguyễn Thị Bảo Ngọc. Con thứ của Triệu Tổ, chính là Thái Tổ Nguyễn Hoàng, đã tìm đường thoát họa sát thân đó. Ông xin vào trấn thủ Thuận Hóa, rồi Quảng Nam. Nhưng bảo kiếm còn trong tay nhà Trịnh thì không có hy vọng nào, nên ông đã cùng với chị ruột là bà Bảo Ngọc, lập mưu trộm thanh kiếm, tiếc là chỉ lấy được thanh kiếm, còn viên ngọc vẫn trong tay họ Trịnh. Nhưng như vậy cũng đã là thành công lắm rồi. Thanh kiếm và viên ngọc, có lẽ đều có sức mạnh ngang nhau. Từ đó nhà Trịnh đánh vào trong, rồi nhà Nguyễn đánh ra ngoài, thực chất ngoài việc giành quyền lực, là còn để đoạt lại được báu vật, để có được trọn vẹn sức mạnh của thanh Thuận Thiên Kiếm. Hai bên tiềm lực ngang nhau, lại có báu vật hộ thân nên đánh nhau một thời gian dài mà không phân thắng bại, thời kì đó được ghi lại là thời kì Trịnh – Nguyễn phân tranh là vì lẽ đó.
***
Tiếng than cháy lộp bộp trong bếp. Câu chuyện cuốn hút đến nỗi không ai để ý là một cậu bé dân tộc đã mở cửa vào trong, đứng cạnh mọi người mà không ai biết gì. Đến khi Diệu Bình hỏi thì cậu bé mới nói là mời mọi người ra ăn trưa kẻo muộn. Nhưng không ai muốn đứng dậy, vì muốn nghe cho hết câu chuyện.
– Nhiều năm liền, hai phe bất phân thắng bại, cho đến khi xuất hiện một nhân vật, một người thay đổi mãi mãi cục diện hai miền.
– Đó là vua Quang Trung – Nguyễn Huệ.
– Kẻ đã tận diệt gần như toàn bộ gia tộc Nguyễn chúng tôi.
Mọi người đưa mắt nhìn nhau, không biết nói gì vào lúc này. Rồi Kì nói: – Quang Trung là một vị vua được lòng dân, lại đánh giặc giỏi…
Diệu Bình cười nhạt nói: – Vậy các đời chúa Nguyễn thì không tốt sao?
– Chắc vậy, không thì Quang Trung đã không… ý tôi là… như cô vừa nói đấy.
Mắt Diệu Bình bỗng trợn trừng lên, nói với cái giọng đầy nguy hiểm: – Anh thì biết gì? Ai đã cất công sang tận Ai Lao đón ấu chúa về nước, gây dựng lại nhà Lê Trung Hưng? Ai là người đã mở rộng bờ cõi Việt Nam từ Thuận Hóa trước đây tới tận miền Nam Bộ như ngày nay? Ai là người xây dựng hệ thống kênh rạch để Nam Bộ có điều kiện trở thành vựa lúa lớn nhất cả nước? Còn nhiều thứ mà tôi chả thể kể hết đấy!
Mắt Diệu Bình đỏ lên, dường như sắp khóc bật ra đến nơi, nhưng cô lại nín nhịn lại, quay mặt đi không nói gì nữa. Kì có vẻ thấy mình đã hơi quá lời, nói nhỏ nhẹ: – Tôi xin lỗi. Tôi không có ý… như vậy.
Tấn thì thấy… không có ý kiến gì về việc này. Vì dù sao chuyện cũng đã xa lơ xa lắc rồi. Rốt cuộc cũng chỉ là việc tranh giành quyền lực mà thôi. Người này lên thì người kia xuống. Huống hồ Diệu Bình là người trong hoàng thất nhà Nguyễn thì những gì cô ấy biết, cô ấy kể lại như vậy cũng không có gì lạ… còn thực sự những chuyện đó xảy ra thế nào thì Tấn cũng… chẳng biết nốt…
Diệu Bình có vẻ đã bình tĩnh lại, quay lại, nói giọng nhỏ nhẹ như trước: – Thôi… dù sao… cũng đã là chuyện thời xa xưa lắm rồi… Đào bới lại cũng không được việc gì nữa. Tôi để bụng thì đã không ngồi ở đây rồi…
– Anh em Nguyễn Huệ đã quét sạch Đàng Trong. Trong khi… truy đuổi các chúa Nguyễn, đã lấy được thanh thần kiếm, và biết được bí mật trong nó. Họ, đặc biệt là Nguyễn Huệ, là những tướng lĩnh xuất sắc, điều đó… không sai. Với bản lĩnh có sẵn cộng thêm thanh thần kiếm, Nguyễn Huệ thậm chí đã đánh ra Bắc và đã xóa xổ chúa Trịnh, và… ừ… thống nhất đất nước.
– Khi ra Thăng Long, sau khi đánh bại chúa Trịnh, Nguyễn Huệ đã vào yết kiến vua Lê. Và sau đó, nhờ sự sắp xếp, ông đã được vua gả cho Công chúa Ngọc Hân. Công chúa thấy Nguyễn Huệ là người tài trí hơn người, là người có thể làm nên nghiệp lớn, nên đã bí mật trao lại viên bảo ngọc cho Nguyễn Huệ. Vậy là sau hơn hai trăm năm, Thuận Thiên Kiếm lại một lần nữa được hợp nhất.
– Quang Trung vốn đã là một võ tướng xuất sắc tài giỏi, khi có được Thuận Thiên Kiếm trong tay, thì như hổ mọc thêm cánh vậy. Gọi là Chiến Thần cũng không ngoa. Đánh đâu thắng đó, trăm trận trăm thắng, mà đỉnh cao là trận đánh thắng quân Thanh. Ai cũng biết lúc đó quân đội nhà Thanh mạnh thế nào, lại đông đến hàng chục vạn. Nhưng có tướng giỏi, lại có thần kiếm bên cạnh, không gì là không thể.
– Nguyễn Huệ lên ngôi, lấy hiệu là Quang Trung. Quang Trung hoàng đế đã thống nhất được giang sơn, chấm dứt cảnh chia đôi đất nước. Phải nhìn nhận ông là một người có công lớn với giang sơn xã tắc. Nhưng như mọi người đã biết rồi, ông đoản mệnh chết sớm, con nhỏ lên thay không có được cái uy thế như cha. Triều Tây Sơn đi xuống, dù có thần kiếm nhưng cũng không thể tránh khỏi sự suy tàn. Rồi cuối cùng, bị chính người trước đây truy sát, quay trở lại lật đổ, lấy lại ngai vàng, chính là Thế Tổ Nguyễn Ánh.
– Sau khi trở thành vua, Thế Tổ cũng đã thu lại được thanh thần kiếm. Ngài đã làm như vua Lê Lợi trước đây, là tách nó thành hai phần. Thanh kiếm được gọi là Thượng Phương bảo kiếm. Còn viên ngọc, được gọi với cái tên mới, là Truyền Quốc Bửu Tỉ Ấn Ngọc. Thanh kiếm sau đó được cất và bảo quản kĩ lưỡng, và không được mang ra ngoài. Còn viên ấn ngọc thì thường được vua mang theo người.
– Mọi chuyện dường như êm đẹp, cho đến khi Pháp sang xâm chiếm nước ta. Khí tài quân sự chúng vượt ta rất nhiều. Quân lính triều đình nhiều năm không tham gia chiến đấu, vũ khí cũ kĩ, không thể địch lại chúng. Tất dẫn tới thua trận. Và, vì nhiều lý do, cả chủ quan lẫn khách quan, nước ta hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của Pháp.
– Vừa mới thống nhất giang sơn, trọn vẹn độc lập chỉ vài chục năm, đã lại rơi vào tay bọn thực dân Pháp, nhìn chúng đè đầu cưỡi cổ dân ta, lòng người đều oán hận. Làm vua, là người đứng đầu quốc gia, không thể cứ thế đứng nhìn đất nước như vậy được. Năm Hàm Nghi thứ hai, nhà vua đã cùng với các bề tôi trung thành gây dựng phong trào Cần Vương mà ngài là lá cờ đầu, nhằm chống lại quân Pháp. Trong đêm trốn thoát khỏi kinh thành Huế, nhà vua đã định mang theo thanh thần kiếm, nhưng do không kịp nên chỉ mang theo được viên ấn ngọc. Còn thanh kiếm vẫn trong hoàng cung.
– Nhưng vì lực lượng mỏng, lại bị phản thần phản bội, vua Hàm Nghi bị bắt sau đó mấy năm. Phong trào Cần Vương cũng nhanh chóng tan rã. Nhưng viên ấn ngọc, thì đã không theo ngài trở về, nó đã biến mất trong dân gian. Không ai biết được nó ở đâu từ đó đến nay, dù nhiều lần triều đình cử người đi tìm kiếm.
-Khoan đã ! Hôm qua viên ngọc này do tên Đốc lý mang đến mà! Tấn nói, rồi kể lại chuyện trong buồng giam cho mọi người nghe.
-Đúng, và nó hoàn toàn không phải là tình cờ!- Diệu Bình nói tiếp.
– Sức mạnh của thanh kiếm và viên ngọc là như nhau. Vì thế những gì người giữ thanh kiếm cảm nhận được thì người giữ viên ngọc cũng vậy, và ngược lại. Nhưng viên ngọc đã biến mất từ lâu, không ai biết tung tích của nó. Mẫu thân ta đã rất lo lắng về việc này. Nếu viên ngọc trong tay người tốt, có thể có cơ hội thu hồi lại được viên ngọc. Nhưng nếu rơi vào tay kẻ xấu, thì là một chuyện rất không hay. Vì với những chỉ dẫn đó, hoàn toàn có thể tìm ra được “kim quang lộ”.
– Và có vẻ như nó rơi vào tay những kẻ xấu xa nhất mà ta có thể nghĩ tới, là bọn thực dân Pháp.
-Nên lần này ra đây, ngoài việc như lúc đầu tôi nói, tôi còn phải tìm kiếm tung tích viên ngọc. Và thật kì lạ, hay cơ duyên, nó lại tìm đến tôi.!
Diệu Bình nhìn sang Tấn. Cô biết anh ta nhớ đoạn tấm bản đồ hiện ra khi chiếu thanh kiếm dưới ánh sáng. Nhưng Tấn không nói thêm gì, chỉ nhún vai. Có lẽ anh ta tôn trọng Diệu Bình, dù sao cây kiếm cũng là của cô. Diệu Bình gật đầu, thầm cảm ơn Tấn. Có lẽ giờ chưa phải lúc nói về tấm bản đồ đó.
– Tôi nghĩ, thậm chí chúng còn đến trước chúng tôi nhiều đấy, vì chúng tôi phải đi lòng vòng từ Huế ra đây mất nhiều thời gian quá!- Diệu Bình tiếp tục nói
Tấn cầm lấy thanh kiếm hỏi: – Thực sự là nó có sức mạnh gì vậy?
– Ôi! – Út Hương buột miệng nói ra, mắt trợn ngược lên. Tấn cũng há hốc mồm, đặt cây kiếm xuống nền nhà gỗ, mặt lộ rõ vẻ hoang mang.
– Chính là nó! – Cả Út Hương và Tấn cùng nói.
0 Bình luận