-Chị ơi, chị tỉnh lại đi!
Diệu Bình choàng tỉnh dậy. Út Hương đang lay hai vai cô. Anh Tấn và Dương cũng đang đứng cạnh đấy.
-May quá chị tỉnh rồi, em lo quá ! Út Hương ôm lấy Diệu Bình
-Tôi, Tôi bị làm sao vậy? Diệu Bình lơ mơ hỏi
-Cô bị ngất đi đó! Tấn trả lời, nhướn mày lên gật đầu. Nãy vừa dừng ngựa, ngồi xuống là cô … ngủ luôn à! Chắc do mấy hôm nay mưa gió mệt nên vậy đó cô nương!
Diệu Bình không nói gì. Đúng là cô thấy mệt mỏi uể oải thật. Chuyến đi vắt hết sức lực của cô. Trời thì gió rét, còn mưa nữa. Ở đây lạnh hơn trong Huế nhiều.
-Cô không sao là tốt rồi. Nghỉ ngơi tí là khỏe thôi! Tấn nói.
Diệu Bình uể oải nhìn xung quanh. Cây cối rậm rạp. trời đang trưa.
– Vậy rút cuộc, hai cô vẫn không cho chúng tôi biết mặt à?
Vẫn là Tấn. Anh đang cời đống lửa, vừa làm vừa hỏi, với cái giọng vừa tò mò, vừa có ý trêu ghẹo.
Cuộc phiêu lưu của Diệu Bình tới giờ đã hơn 3 tháng rồi. Cô cùng út Hương đi cùng hai người dẫn đường là Tấn và Dương.
Và hai cô gái đã che mặt suốt thời gian đó.
Diệu Bình đang dỡ đồ trên ngựa của cô xuống, như thường lệ, không trả lời Tấn. Út Hương cũng vậy.
Tấn nhún vai, quay ra nói với Dương:
– Kiếp độc thân còn dài, người anh em ạ!
Dương không nói gì, chỉ nhướn lông mày ra hiệu.
Họ đang dừng chân dưới chân một con đèo gần phủ Cao Bằng. Khuất xa đường đi một chút để đảm bảo kín đáo và đỡ gió lạnh.
Sắp đến nơi cần đến rồi.
Diệu Bình không để bụng mấy câu trêu đùa của Tấn. Chẳng qua hành trình dài, chưa biết khó khăn thế nào, nên cô cũng không muốn nói chuyện quá nhiều về những chuyện bên lề. Nhưng để anh chàng này cứ nói vậy cũng đỡ buồn.
Nghĩ vậy, cô tự cười thầm. Thôi thì thoải mái chút vậy.
Chợt Diệu Bình lên tiếng, giọng nhẹ nhàng:
– Anh kể về nghề của anh đi, có được không anh Tấn?
Tấn nghe Diệu Bình hỏi vậy, nhướn lông mày lên, rồi bắt đầu nói với giọng xuề xòa:
– Sinh nghề tử nghiệp thôi mà. Chuyện phường chuyển vận chúng tôi, tuy là thật nhưng nói ra chắc mười người thì đến chín người không tin, cho rằng hư cấu.
– Không sao, còn một người tin là được rồi – Diệu Bình giục.
– Người còn lại ai bảo là tin đâu, người ta bỏ đi chỗ khác, chả thèm nghe luôn ấy chứ.
Diệu Bình nghe cũng bật cười theo. Cái anh chàng này, đùa suốt được thôi…
– Thôi thì coi như tôi là người thứ mười một đi – Cô lại giục.
Tấn thấy vậy, đưa mắt ra xa xa nhìn, như thể hồi tưởng lại những sự kiện hào hùng không để đâu cho hết…
– Cô biết lúc vào nghề này, tôi được cha truyền lại cho mấy chữ, bắt phải khắc cốt ghi tâm, không được quên. Biết là những chữ gì không?
– Dĩ nhiên là tôi không biết rồi, anh hỏi thừa.
Lại trầm ngâm một lúc, rồi mới tiếp:
– Cha tôi nói: “Con làm nghề này, nhớ lấy mấy chữ mà làm đạo, cứ thế mà theo:
‘Hàng hóa là sinh mạng’
Nói về cái nghề này phải kể từ thuở xa xưa.
Nước Việt ta, đất đai thiên nhiên đã vốn hoang sơ nhưng cũng đầy kỳ vĩ: sông to, núi lớn, không thiếu gì. Việc đi lại từ xưa đến nay cũng vì vậy không khỏi có nhiều khó khăn. Người Kinh vốn trước đây tập trung chủ yếu ở đồng bằng ven sông trồng lúa chăn nuôi, còn các bộ tộc khác sống trên núi cao, xa xôi cách trở, nên giao tiếp buôn bán cũng ít. Nhưng nước ta có của cải, châu báu nhiều, chim quý thú lạ không ít, nên từ thời các vua Hùng đã có những người chuyên đi săn tìm của ngon vật lạ để dâng lên vua. Họ là những người giỏi nhất, gan dạ nhất, liều lĩnh nhất, mới có thể đến những nơi hang cùng ngõ hẻm, không bỏ sót chân trời góc bể nào, để tìm kiếm những thứ ít ai tìm được. Sự tích vua Hùng kén rể với những “voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao” mà từ xa xưa truyền lại cũng đã cho thấy đã có những con người như vậy từ rất lâu rồi.
Đến thời Bắc thuộc, họ được gọi là những truy bảo nhân, hành tung đi lại bí ẩn, nhiều khi còn được gọi là ẩn lộ nhân, không ai biết đường đi nước bước của họ ra sao.
Một thời gian dài sau đó, họ vẫn làm những công việc như những ngày đầu tiên. Cho đến thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, rồi Đàng Trong – Đàng Ngoài, việc đi lại, giao lưu buôn bán giữa các địa phương trở nên khó khăn hơn nhiều. Vốn là những người đã đi đến cùng trời cuối đất, không có con đường nào mà họ không đặt chân đến, nên những truy bảo nhân lại kiêm thêm công việc mới: đó là chuyển vận hàng hóa, hộ tống đoàn người đi khắp từ Bắc chí Nam, đảm bảo an toàn tối đa cho người và hàng hóa. Những người này về sau được gọi là bảo tiêu, cũng gần giống như bảo tiêu bên Tàu vậy, nhưng cái đặc sắc hơn là những nơi không có đường đi được thì họ sẽ tạo ra được đường mà đi, do kinh nghiệm kiến thức cả ngàn năm truyền lại.
Thời đó, Đàng Ngoài có Bắc Lộ Bảo Tiêu Cục, Đàng Trong lại có Nam Giao Bảo Tiêu Cục, uy thế ngang nhau. Đều là nơi tụ họp những người giỏi nhất. Thanh thế quyền lực của họ lúc đó rất lớn, đến quan lại cũng phải nể vài phần. Điều giúp họ thành công chính là cái sự “nửa chính – nửa tà” của họ: chỉ cần khách trả đủ tiền, họ sẽ chuyển hàng đến nơi đến chốn, cho dù hàng đó là người, là vật, hay những thứ kim cổ hiếm gặp.
Khi nhà Nguyễn thống nhất giang sơn, những người đứng đầu các cục đã hợp lại với nhau thành một tổ chức duy nhất, gọi là Việt Nam Bảo Tiêu Cục, với tên lấy theo quốc hiệu nhà Nguyễn lúc bấy giờ.
Đến thời Pháp thuộc, tiêu cục vẫn hoạt động bình thường, không can hệ đến người Pháp, vì nhiều khi chính người Pháp cũng phải nhờ những người này vận chuyển giúp. Bước ngoặt chỉ đến khi xảy ra sự biến cụ Tôn Thất Thuyết tấn công Pháp ở Huế, rồi phong trào Cần Vương nổ ra, những người của Việt Nam Bảo Tiêu Cục đã quyết định đứng về phía nhà vua và nghĩa quân – việc vốn chả liên quan đến họ.
Kết cục là binh biến thất bại, phong trào bị đàn áp dã man, tiêu cục cũng không tránh khỏi họa diệt thân. Cơ sở bị phá bỏ hoàn toàn, những người liên quan: người bị giết, người bị đi đày, không ai thoát. Cơ sở chính ở Hà Nội bị phá bỏ. Quân Pháp đã xây nhà tù Hỏa Lò khét tiếng ngay trên đấy, như để thể hiện sự thống trị của mình. Chúng cũng mở những công ty vận tải, sử dụng ô tô, tàu hỏa để vận chuyển hàng hóa, nhằm nắm hết con đường mưu sinh của dân ta. Việc làm ăn càng thêm khó khăn.
Về sau đó, những bảo tiêu ở những tiêu cục nhỏ hơn, hay những người trốn thoát được khỏi cuộc truy quét đó, dần đi vào bóng tối. Có người giải nghệ, có người vẫn làm nhưng kín tiếng hơn, hoạt động âm thầm hơn, chỉ làm việc và giao dịch với những người thân quen mà thôi.
Tấn và cha là những người hiếm hoi vẫn còn làm nghề này. Vất vả, bạc bẽo, nguy hiểm nên càng ngày càng ít người làm. Cha anh tuổi cao cũng đã nghỉ, không làm ba bốn năm nay, ở nhà làm phụ nghề gốm, làm chén bát với mẹ anh. Tấn theo cha đi theo hàng từ lúc mới mười bốn, đến năm nay đã được mười mấy năm có lẻ, tuổi nghề không phải là nhiều nhưng được cái gan dạ, máu liều lĩnh, lại khôn ngoan trải đời, nên việc giao cho anh đều làm đến nơi đến chốn. Cả năm chỉ về nhà vài bận. Cũng may Tấn là con thứ, trên đã có anh cả lo việc nhà nên cha mẹ cũng không lo lắng lắm, chỉ giục anh kiếm cô vợ sinh thằng cu cho cha mẹ mừng. Nhưng mỗi lần như vậy anh chỉ cười xuề xòa, không nói gì.
Tấn to cao, người săn chắc vì đi lại nhiều, nhưng không phải là gầy gò ốm yếu, thân hình chắc nịch như khúc gỗ. Nước da ngăm ngăm đen – là vì có nước da giống mẹ anh vốn rất trắng, nếu không thì anh đã phải đen như cái cột nhà cháy rồi. Chân tay sẹo đếm không xuể, chiến tích những chuyến đi mà thi thoảng anh vẫn lôi ra đếm mà khoe với mọi người, nhưng khuôn mặt thì tuyệt nhiên nhẵn nhụi lành lặn. Có lần hỏi thì Tấn nói: “Giữ cái mặt lành lặn, sau lấy vợ đêm đỡ dọa cho vợ sợ!”
Ngồi nghe Tấn thao thao bất tuyệt, Diệu Bình không nói gì, chỉ nghe và gật đầu tán thành. Cô biết chuyện anh nói mười phần thì chín phần là nói khoác rồi, nhưng cứ kệ cho anh chàng kể thôi, coi như là cảm ơn vì mấy lần giúp đỡ trên đường. Không chỉ Tấn, anh Dương cũng không nề hà mà rất nhiệt tình giúp đỡ. Diệu Bình rất cảm kích điều này.
– …Lúc đám cướp đó lao đến, tôi liền thủ thế, cầm gậy mà quét một lượt, tất cả chúng trở tay không kịp, té ngã sõng soài ra. Tôi lại gõ cho mỗi tên một cái vào đầu, chúng lăn kềnh ra luôn, vậy là cha tôi chỉ việc lấy sợi dây thừng trói hết cả thể lại là xong.
– Có phải sau đó anh dẫn chúng lên quan lĩnh thưởng, nhưng ra đến nơi thì quan đi vắng nên anh lại thả chúng về, bắt chúng hứa không làm ăn cướp nữa đúng không? – Út Hương đang lim dim bỗng chen vào câu chuyện của Tấn.
– Ủa sao cô biết hay vậy? – Tấn ngạc nhiên.
– Vì câu chuyện này anh đã kể đến lần thứ năm rồi, anh chàng ngốc ạ! – Út Hương chỉ đợi đến câu này để bộc phát ra.
Diệu Bình cười khúc khích, còn út Hương thì bò ra mà cười. Tấn thấy mình làm oai mà cuối cùng thành trò cười, ngượng không để đâu cho hết, phải chữa thẹn:
– Cô nhóc này, ai bảo vậy. Ta gặp nhiều đám cướp lắm, mỗi lần kể là đám khác nhau. Chỉ là ta vốn rộng lượng thương người, tha cho chúng nên hôm nào cũng nói giống nhau, thực ra là khác nhau đấy!
– Eo ôi, chả tin anh đâu, anh nói khoác lên tận ngọn cây rồi ấy chứ, ha ha ha.
– Không tin thì tùy cô nhóc, mà ta có kể cho cô nghe đâu, ta kể cho chị của cô cơ mà. Chị cô không nói gì nghĩa là chuyện ta kể rất là hay đấy chứ.
Út Hương “xì” một tiếng, không nói nữa, chạy đến cái lá to mà Tấn bày ra từ nãy để đặt thức ăn lên, thò tay nhúp một miếng ăn ngon lành rồi:
– Đợi anh Dương về rồi ăn cả thể đi em, đừng nhúp nhặt trước như thế là xấu đấy em – Diệu Bình bảo em.
– Nhưng em đói chị ơi, hì hì, em là em út, cho em được ưu tiên đi mà – cô bé lại làm nũng.
Cũng vừa lúc anh Dương xin được nước về, mọi người đã khá đói nên tập trung mà ăn, chả nói nửa câu.
Nhưng vì đang che mặt mà cứ đeo khăn thì vướng, không ăn được, nên cứ đến bữa, Diệu Bình và út Hương mang đồ ra một chỗ ăn riêng, ăn xong mới trở lại chỗ cũ. Có đồ ăn vào bụng, sắc mặt mới có chút thần thái trở lại. Đúng là có thực mới vực được đạo!
Tấn lấy trong túi áo chẽn ra cái đồng hồ quả lắc – món đồ anh có được của một tay buôn sứ người Hoa trong một lần giúp hắn đi con đường mòn qua cửa khẩu để trốn quan đánh thuế. Đưa lên xem giờ, đã 3 giờ chiều rồi, bèn nói tiếp:
– Chúng ta nghỉ ngơi thêm chút rồi lên đường nhé, cũng gần đến rồi.
Diệu Bình lại hỏi:
– Ta đi qua ba con đèo, chí ít cũng ba chục dặm đường rồi, mà sao không gặp bóng quan quân nào nhỉ? Ta nghĩ những địa thế hiểm trở trọng yếu thế này phải có lính đồn trú chứ nhỉ?
Vốn là từ khi từ đất Lào về lại đất mình, Tấn đều dẫn đoàn tránh những đồn trú của quan quân. Những chỗ đó không chỉ có lính Việt ta, còn có cả lính Pháp nữa. Bọn chúng được trang bị súng đầy đủ, đi qua quả rất ngặt nghèo, cũng may là không phải qua trạm nào. Cũng có khi đang đi thì có những toán lính đang hành quân đi qua, nhưng tụi này thì không chú ý đến dân bên đường lắm, chỉ cần đi tránh ra, dẹp
vào bên đường cho chúng đi qua là xong. Họ ăn mặc cố ý rách nát, quần áo nhàu nát để chúng khỏi để ý, mặc nhiên là người đang đi đào cây lấy củ về làm thuốc Bắc, nên không ai nghi ngờ gì cả.
Tấn đang nói chuyện với Dương, có vẻ tươi tắn lắm. Nghe Diệu Bình hỏi vậy, thì mắt nheo lại, im lặng một lúc, rồi nói:
– Cô nói đúng lắm, qua thung lũng này là đến đồn to đầu phủ Cao Bằng, lính coi rất ngặt, và đây là đường độc đạo, không còn con đường nào khác. Ta chuẩn bị tinh thần đi nhé.
***
Diệu Bình hỏi: – Vậy anh đã có phương cách nào chưa?
Tấn vẫn đang khều mấy tàn than, chắc đang suy nghĩ ghê gớm lắm.
Vốn dĩ cái đồn này anh đã từng đi qua trước đây, xì cho chúng vài đồng uống nước là qua được thôi. Nhưng mấy năm nay, tình hình thay đổi nhiều. Chúng thi hành chính sách khủng bố kinh khủng hơn. Lại nữa là nhiều nơi đang khởi nghĩa, đánh đồn diệt bốt, nên tụi lính lại càng kinh sợ. Chúng kinh sợ lại càng khủng bố nhiều hơn, vì chúng nghĩ rằng chỉ có khủng bố mới dập tắt được những mầm mống chống đối…
Cũng có đôi lúc thấy dân mình bị chúng ức hiếp, Tấn cũng muốn can ngăn, nhưng tự nghĩ sức mình có hạn, chân tay cũng không thể chọi lại súng ống, nên làm thinh mà bước qua, cũng rủa thầm lũ lính vài câu, hy vọng có ngày có người sẽ dạy cho chúng một bài học. Nhưng chắc, chả phải là anh đâu!
Tấn nói: – Hôm nay ta gặp ải này, coi như là khó khăn nhất từ lúc xuất hành đến giờ. Đồn đông lính lắm. Quả là rất khó khăn…
Đưa tay lên dụi cằm như thể đang xoa râu, Tấn tỏ vẻ nghiêm trọng, nhưng được một chút thì đánh mắt láo liên. Không qua được mắt Diệu Bình, liền nói: – Tôi thấy anh xem chừng có cách rồi đấy. Không cần vuốt râu nữa đâu, không lại không mọc được đâu.
– Ha ha, cô tinh lắm. Quả là tôi có cách rồi, nhưng phải hơi vất vả cho hai tiểu thư đài các.
Nói rồi cúi đầu chắp tay, ra bộ lạy hai cô gái. Út Hương che miệng cười, rồi nói: – Chỉ có chị Diệu Bình là tiểu thư lá ngọc cành vàng ở đây thôi, chị nhỉ!
Diệu Bình không kể đến út Hương, hỏi tiếp Tấn: – Anh nói luôn đi, có gì bày ra luôn, hy vọng là cách nào đó tốt, chứ không phải như mấy chuyện anh kể đâu nhé!
– Ha ha, cô yên tâm, đảm bảo thành công. Nhưng tôi nhắc lại là mấy tên cướp đấy đều là thật cả đấy.
– Được rồi, tôi tin anh mà, anh bày cách đi.
– Cách này hơi vất vả cho hai người, nhưng tôi nghĩ chắc không còn cách nào ngoài cách này.
Nói rồi lấy trong cái bị đan ra mấy bộ quần áo – là quần áo của người dân tộc. Có 4 bộ tất cả, rồi đưa cho Diệu Bình: – Cô và út Hương thay hai bộ quần áo này vào đi, của người Tày đấy. Hai bộ này của tôi và anh Dương.
– Sao ta lại phải thay quần áo này? – Diệu Bình hỏi, đưa bộ quần áo lên ngắm thử.
Cả mấy bộ quần áo đều chỉ có một màu đen, dệt kiểu thổ cẩm bằng sợi bông, khá là dày dặn. Của Diệu Bình và út Hương là một cái áo cánh với váy, dài đến gót chân. Còn Tấn và Dương thì áo cánh cài khuy và quần què đũng rộng, nói chung khá là đơn giản. Tấn lại bày ra mấy đôi giày vải, cho mỗi người một đôi. Tấn nói tiếp: – Có nhớ lúc vừa qua Thái Nguyên, gặp một đoàn người dân tộc đi xuôi ngược đường, tôi quay lại đứng với họ một lúc lâu không? Là tôi mua mấy cái áo này cho mọi người đấy, mất mấy đồng bạc. Dân tộc họ không lấy tiền, chỉ lấy bạc thôi, may mà có sẵn.
– Tôi đang hỏi anh sao lại phải thay mấy bộ này mà? – Diệu Bình sốt ruột hỏi.
– À, đây là quần áo của người Tày.
– Là sao? – Diệu Bình hỏi.
– Ta mặc quần áo người Tày thì sẽ thành người Tày, vậy thôi. Ta chuẩn bị “tiến vua” ha ha ha.
– Là sao vậy, vua nào ở đây?
Tấn lắc đầu, ra vẻ hiểu biết: – Ở đây có những kẻ không phải là vua mà cứ như vua đấy.
Người ta bảo “đất có thổ công, sông có hà bá”. Hà bá ở đây là tên quan Pháp lãnh trách nhiệm giữ thành. Chúng bắt dân ta phải đào bờ, đắp thành, đào hào cho chúng, rồi bắt người lên núi cao nổ mìn đào đá. Lại phải đi đào quặng, đào vàng cho chúng, không làm thì chúng đánh đập dã man. Chúng còn dùng tiền mua chuộc quan lại triều đình ở địa phương. Tất cả đều răm rắp nghe theo, không ai dám chống lại, và trở thành tay sai đắc lực cho chúng. Những nơi lính Pháp không tới được, sẽ có những tên Việt gian này vươn tới giúp. Dân quanh vùng ghét những kẻ đó cũng ngang ghét lính Pháp vậy.
Tấn và Dương sẽ vào vai những kẻ Việt gian như vậy. – Tôi và anh Dương sẽ đóng giả là đi dâng gái đẹp cho thằng quan Pháp, còn hai cô sẽ là gái đẹp đó – Tấn nói.
– Á á, anh có bị làm sao không vậy, tôi không chịu đâu. Chị Diệu Bình nói gì đi, em không chịu nạp mạng cho ai đâu – út Hương há hốc mồm, thảy luôn bộ quần áo xuống đất.
Diệu Bình nhìn chằm chằm Tấn mà không nói gì. Tấn tỏ vẻ sốt ruột nói tiếp: – Các cô không biết đâu, thằng quan Pháp này vốn hám gái háo sắc, nên cho người đi tìm gái đẹp khắp nơi. Thấy gái là hắn sáng mắt ra rồi. Nên chỉ cần viện cớ dâng gái đẹp lên lão là bọn gác sẽ không gây khó dễ gì đâu, vì chúng đâu có muốn làm phật ý ông vua của chúng.
– Anh nói láo, thiếu gì cách mà phải làm thế. Ngộ nhỡ chúng lại dẫn ta thẳng đến chỗ tên quan đó thì anh làm thế nào – út Hương lại vặn lại.
– Cô yên tâm, từ đồn gác đến chỗ tên quan tận mấy dặm liền, chúng sao dám bỏ gác mà đưa các cô đi. Và chúng cũng phân công rõ ràng rồi, có những kẻ chuyên đi săn tìm gái đẹp, không cần những kẻ khác bận tâm.
– Và quan trọng nhất là tôi có cái này – Tấn nói, lôi ra mảnh giấy nhỏ bằng bàn tay, trên có mấy dòng chữ đánh máy, toàn là tiếng Pháp, và có một vết dấu đỏ ở phía cuối.
– Cái đó là cái gì vậy? – Diệu Bình hỏi.
– Đây là giấy thông hành do chính tên quan ban cho, có cái này thì chúng không dám làm gì ta cả.
– Sao anh lại có tờ giấy đó?
Tấn trả lời, không giấu nổi vẻ khoái trá: – Hồi năm ngoái, tôi có đi qua vùng này. Lúc đến một chỗ nghỉ, gặp mấy tên Việt gian ở đó, nghe chúng nói chuyện, nói về tờ giấy này. Tôi nghe thấy, thấy đây quả là món đồ hữu ích, bèn lấy cớ gây sự, rồi đánh lộn với chúng một trận. Được vài đường, chúng kéo thêm người đến, tôi tìm đường trốn luôn, ha ha.
– Có vẻ mấy chuyện anh hay kể cũng có vài phần thật – Diệu Bình trả lại Tấn tờ giấy.
– Vậy các cô đã tin tôi chưa? Chỉ có cách đó mới đi qua được đồn gác thôi.
– Nếu anh đã có tờ thông hành này thì còn cần gì chúng tôi phải thay trang phục rồi giả này giả kia?
– Vì những kẻ được phát tờ giấy này, chỉ để làm một công việc đi lùng gái đẹp. Vậy nếu không giả là bắt được hai cô thì sao mà chúng tin được.
Có lẽ cũng không còn cách nào khác.
Diệu Bình thở dài, rồi quay sang út Hương nói: – Thay quần áo đi em, mình sắp đến nơi rồi, sắp xong việc rồi, nốt việc này là xong rồi.
– Nhưng em sợ lắm chị ơi, chẳng may bị bắt đi thật thì sao – út Hương vẫn không tin là việc này có thể thành công.
– Đừng lo mà em, có chị ở đây rồi. Anh Tấn và anh Dương nữa, không ai làm gì được em đâu.
– Em sợ lắm, chị hứa đi, không được xảy ra chuyện gì nhé! – Vừa nói cô bé vừa rơm rớm.
Ôm lấy cô bé, xoa nhẹ mái tóc, Diệu Bình vỗ về cô bé: – Chị hứa mà, không sao đâu em.
Vậy hai cô ra đằng kia thay quần áo đi, còn anh em mình ra sau cái cây thay đồ thôi anh Dương – Tấn vỗ vai Dương báo ra thay quần áo. Dương gật đầu lật đật theo.
– Khoan đã anh Tấn, có chuyện này không được – Diệu Bình chợt nhớ ra một chuyện, gọi giật lại.
Tấn quay lại hỏi: – Có chuyện gì vậy?
– Tôi thay quần áo thì che mặt kiểu gì đây?
Tấn chưa nghĩ đến chuyện này, hai người này thật lắm chuyện, lại còn phải khăn với chả che. Nhưng không sao, có cách rồi. – À quên chưa nói, hai người sẽ làm như bị trói tay và bịt miệng, rồi trùm một cái bao lên đầu, để không cho lên tiếng, vậy là coi như che được mặt rồi. Các cô cố chịu khó chút nhé, như thế mới giống đi bắt người.
Tấn gãi đầu cười trừ. Quả là hơi bất tiện cho hai cô gái này, nhưng mà đành thế thôi biết làm sao đây.
Diệu Bình có vẻ hơi trùng xuống một chút, nhưng cũng không nói gì.
Mấy người lật đật đứng dậy thay đồ. Một lúc sau trở ra, nhìn đã ra dáng dân tộc chính cống rồi. Diệu Bình và út Hương đã tự trùm một cái bao tải lên đầu, và làm như bị trói tay. Tấn thấy hai người kia trong bộ quần áo dân tộc, tặc lưỡi nghĩ, không biết hai công nương này thực ra mặt ngang mũi dọc thế nào, mà cứ che che dấu dấu suốt mấy tháng trời.
Mấy hôm đầu anh còn chưa quen với kiểu đó, vì thấy không tự nhiên lắm, nhưng sau rồi cũng quen. Dạn dĩ như anh, có chuyện gì mà chưa trải qua.
Tấn lại nói: – Kể ra kiếm được mấy cái vòng bạc cho hai cô đeo thì mới giống người Tày thật, con gái Tày họ hay đeo vòng lắc bạc lắm. Nhưng mà chả kiếm đâu ra được, thời này kiếm mấy đồ đấy coi bộ hơi khó.
– Hai bộ này khá vừa vặn đấy, sao mà lại hay vậy? – Diệu Bình hỏi. Cô cao hơn út Hương đến nửa cái đầu. Bộ của hai người giống hệt nhau, chỉ khác ở cái khăn đai quanh bụng. Của Diệu Bình màu hồng nhạt như màu hoa đào phai, còn của út Hương thì là màu vàng.
Tấn cười ranh mãnh trả lời: – À tôi phải ngắm hai cô thật là kỹ, để chọn được bộ cho đẹp đấy, thấy mắt thẩm mỹ của tôi tốt không?
– Chả ra gì cả, quần áo xấu mù thế này, đẹp gì mà đẹp chứ, lại còn hôi nữa chứ, hứ! – út Hương chành chọe nói.
– Quần áo để trong bị lâu nên thế, chịu khó đi. Mà như vậy mới giống bị trói mang đi, chứ cô nghĩ bị trói thế đi bao xa mà người ngợm vẫn thơm tho à. Chịu khó qua được bốt rồi, đến quãng nào kín đáo thì lại thay ra là được mà. Giờ để tôi khoác giúp hai cô cái áo khoác sợi khô này ở ngoài nữa.
Giúp hai cô gái mặc áo xong, Tấn dắt một con ngựa đến nói: – Giờ hai cô ngồi con ngựa này, nhưng ngồi quay lưng vào nhau, một người quay ra đằng trước, một người quay ra đằng sau, rồi tôi trói tay hai người lại. Yên tâm là tôi buộc hờ thôi, không đau đâu.
– Giờ lùa ba con ngựa kia đi, tôi và anh Dương đi bộ theo hai cô thôi, khi trở ra ta sẽ kiếm ngựa khác – Nói rồi Tấn cởi bỏ yên cương mấy chú ngựa kia, quất roi mạnh đuổi chúng đi. Cũng muốn để lại ba con ngựa ở đây để khi trở ra đỡ phải kiếm ngựa, nhưng chỗ này gần đồn bốt, làm thế dễ gây chú ý.
Yên vị trên ngựa rồi, Diệu Bình nói từ trong cái bao chụp đầu nói ra: – Anh nói kiếm ngựa khác, vậy anh đã có cách từ đó đi ra chưa?
– Ha ha, cứ để đến đâu hay đến đó tiểu thư à – Tấn cười to.
0 Bình luận