Quốc Bảo

Chương 10

Chương 10

Có lẽ đúng giữa trưa thì tất cả tới nơi, sau mấy tiếng băng rừng. Diệu Bình cũng không nhớ đường vì khá là vòng vèo. Phần nữa vì mải tranh cãi với Tấn. Ra khỏi bìa rừng, một thung lũng khá lớn hiện ra. Cảnh tượng đẹp đến không ngờ. Cả thung lũng lúa chín vàng đang đợi gặt, gió thổi nhẹ thành những đợt sóng làm cho cả cánh đồng như một tấm thảm khổng lồ, uốn lượn nhẹ nhàng dưới bầu trời xanh trong vắt không có một gợn mây. Ai cũng phải trầm trồ trước vẻ đẹp rất đỗi thanh bình đó. Anh Kỳ nói: -Mùa này bản ta thắng lớn rồi, gạo thừa ăn!

Tấn hỏi: -À anh không phải người ở đây đúng không?

-Đúng vậy, tôi quê Hà Tĩnh cơ. Nhưng lên đây đã lâu, và đã làm lễ Lạo Tồng với một người anh em ở đây, nên coi đây như quê hương thứ hai vậy!

-Lễ Lạo Tồng là lễ gì vậy? - Diệu Bình hỏi

-Là lễ kết nghĩa anh em đấy mà - Tấn giải thích - Hai người đó gọi là kết Tồng với nhau. Thân nhau như anh em ruột. Con cái họ về sau cũng như anh em họ hàng vậy!

-Này người anh em, hay tôi với anh kết Tồng đi, ha ha ha! - Bát cười nói với Tấn. Tấn thấy người này bụng dạ thật thà, lại can đảm hơn người, nên chẳng mất thời gian suy nghĩ trả lời luôn: -Được rồi, thế đêm nay phải uống thật say nhé người anh em, ha ha ha!

Cả bọn đang đi trên một con đường nhỏ đắp đất giữa cánh đồng, là con đường dẫn vào bản của Bát. Tấn chưa thấy bản Tày nào lớn như bản này. Phải đến gần trăm nóc nhà sàn, san sát nhau. Các ngôi nhà phía trong cứ cao dần lên so với những ngôi nhà bên ngoài. Từ xa đã có thể nhìn thấy dân bản đi lại rất đông vui. Bản này lớn vậy chắc hẳn phải giàu có lắm đây! - Tấn nhìn những căn nhà sàn ở đây lớn hơn hẳn ở những nơi khác, cột có lẽ chống bằng gỗ nghiến cũng to hơn hẳn. Nhà làm rất bài bản, kiểu bẩy hàng bẩy cột, mỗi cột cách nhau đều tăm tắp. Ở trên cũng toàn làm bằng những giống gỗ tốt, được đục đẽo cẩn thận. Mái nhà không lợp bằng cỏ rơm rạ mà lợp hẳn bằng ngói máng, hay còn gọi là ngói âm dương, bền nhưng lại dễ sửa, và nhìn từ xa thì rất đẹp. Tấn đang tấm tắc khen thì Bát nói: -Nhà tôi kia kìa người anh em!

Nói rồi chỉ về một căn nhà ở lưng chừng, không khác quá nhiều những ngôi nhà khác, và đều rất đẹp.

Diệu Bình thấy thực sự nhẹ nhõm. Cái không khí này làm cô thấy bớt đi nhiều điều phải lo trước mắt. Dù sao công việc cũng có ít nhiều tiến triển rồi

Bước vào làng, trẻ con thấy khách mới đến, đều chạy ra vẫy tay chào rất thân thiện. Chúng mặc những bộ quần áo chàm, may y hệt người lớn, chỉ khác là cỡ nhỏ hơn thôi. Trên nhà sàn, mấy bà cụ và mấy bà cô ngồi xe sợi, dệt vải làm quần áo. Thấy đám của Tấn đến thì cười khoe hết bộ răng nhuộm đen nhánh. Tấn thấy vậy mới bảo Diệu Bình: -Cô cố gắng phấn đấu như mấy bà cụ kia nhé, tôi thấy cô hợp với răng đen đấy! Ha ha ha

Diệu Bình có vẻ phớt lờ Tấn, đang vẫy tay chào mấy đứa trẻ con. Vừa lúc ấy thì có tiếng gọi: -Chị Diệu Bình ơi!

Quay mặt nhìn lại thì Út Hương đã từ đâu chạy đến, Diệu Bình thấy Út Hương cũng nhảy luôn xuống ngựa chạy đến ôm chặt lấy. Út Hương mếu máo luôn: -Hu hu, em nhớ chị quá, lo nữa!

Diệu Bình xoa đầu đứa em thân thiết, nhẹ nhàng bảo: -Con bé ngốc! Chị thì làm sao được mà lo. Em đến đây lâu chưa?

-Em đến từ lúc sáng, với anh Dương nữa. Đang ngồi chơi với mấy đứa trẻ con thì chị đến!

Dương lật đật theo sau. Trên mặt vẫn còn vết bầm sau trận đòn tối qua, nhưng trông vẫn hoạt bát lắm. Tấn cũng đến ôm lấy người anh em: -Anh không sao, em cũng bớt lo!

Kỳ nói với cả đám: -Ta đi ra ngoài cũng lâu rồi, hôm nay mới về, lại có thêm mấy người bạn này nữa. Giờ qua chỗ trưởng bản chào ông ấy một tiếng rồi nghỉ ăn trưa nhé!

Cả đám xuống ngựa đi bộ. Đường chính quanh bản như một đường xoắn ốc vậy. Đường lát đá đẹp và sạch sẽ, có đường dẫn vào từng nhà một, như những nhánh cây mọc ra từ thân cây vậy. Cơ nói với Tấn: -Ông trưởng bản này tốt lắm, đúng ra ông ấy là tay sai cấp dưới cho bọn thực dân, nhưng lại không hề làm theo chúng, lại còn giúp đỡ, che chở chúng tôi. Anh em chúng tôi đều là nhờ ơn ông ấy cưu mang cả đấy!

Đến một ngôi nhà lưng chừng thì cả đám dừng lại, ngôi nhà này lớn hơn những ngôi nhà khác, mái cũng cao hơn. -Đến nhà của trưởng bản rồi! Anh Kỳ nói, rồi xuống ngựa gọi vọng vào trong. Một người đàn ông trung niên chạy ra nói gì đó với Kỳ, anh quay lại bảo: -Ông ấy đang ở cái nhà của một gia đình mới đang cất mái. Ta qua đấy đi!

Cả bọn lại lật đật đi xuống theo hướng chỉ tay của người vừa nãy. Diệu Bình thì vẫn đang thì thầm kể cho Út Hương chuyện đêm qua đến giờ, làm cô bé há hốc mồm ra kinh ngạc, cứ xuýt xoa mãi.

Bỗng nhiên, có một chút ù tai nhẹ. Diệu Bình nghĩ do mệt thôi. Nhưng mọi người cũng đều thấy vậy thì phải. Tấn đứng lại hỏi:

-Có ai thấy ù tai không? Có cái gì đón rền vang lắm

-Trời nhìn kìa! Anh Bát chỉ tay về phía dãy núi ở xa, qua cả cái thung lũng. Cảnh tượng thật kì lạ. Một đám mây có hình thù kỳ lạ có vẻ đang dần dần bay lên cao hơn.

Diệu Bình giật mình, nó có hình dáng giống cây kiếm cô đang giữ!

-Vậy là sao nhỉ? Cô quay sang nhìn Tấn. Tấn cũng đang trợn mắt lên nhìn. Ở đây chỉ có Tấn là người biết hình dáng cây kiếm, Vì đêm qua ở cùng buồng giam. Còn từ đó giờ Diệu Bình đều bọc cây kiếm cẩn thận trong bó vải, rồi đeo sau lưng.

Cảm đám đứng một lúc lâu, xì xào bàn tán. Nhưng rồi  có vẻ không thể đoán định thêm được gì, nên lại cất bước đi . Đa số cho rằng không có gì. Bản thân Diệu Bình cũng không thể giải thích được gì thêm.

Đi thêm một tí thì đến. Một ngôi nhà đã dựng gần xong, có mấy người trên nóc đang lợp nốt mái. Bên dưới khá đông người, đa phần có lẽ là hàng xóm xung quanh và họ hàng. Người Tày sống rất đoàn kết và thân tình với nhau. Khi có nhà nào đấy có việc nói chung, cất nhà nói riêng, hàng xóm đều sang giúp một tay. Thậm chí còn góp vật liệu, góp công giúp chủ nhà. Để rồi sau đến lượt nhà mình xây thì lại nhận lại được y hệt như vậy.

Có mấy người đang ngồi dưới một cái gốc cây cho bớt nắng. Nhìn qua toàn người nhiều tuổi, đang chỉ chỏ về phía căn nhà. Trong đó có một ông cụ tóc bạc phơ, có lẽ là nhiều tuổi nhất, nhìn rất đẹp lão. Ông đội một cái mũ đen bằng vải chàm, miệng ngậm tẩu thuốc. Có mấy người đang chỉ chỏ về phía đám mây kì lạ kia, bàn tán xôn xao.

Kỳ tiến lên trước, cúi đầu nói to: -Con chào ông, lúc ngam pây mì phiếc mà! (con mới đi công chuyện về ạ)

Ông lão ấy nheo mắt lại một chút, nhận ra người quen, ông đứng dậy, cầm cái gậy chống tiến lại chỗ anh Kỳ, vui vẻ nói: -Đây khến, đây khến! (tốt lắm, tốt lắm!)

Kỳ ôm ông cụ, có vẻ thân thiết lắm. Mấy người kia cũng lần lượt lên chào ông cụ. Kỳ bảo với đám Tấn: -Các anh cứ lên cúi đầu nói “con chào cụ” là được rồi!

Tấn gật đầu. Anh đi lên trước, làm như Kì nói. Ông cụ cũng tươi cười gật đầu. Rồi đến Dương, rồi Út Hương, rồi cuối cùng là Diệu Bình. Cô cúi đầu chào như mọi người, nhưng dây buộc thanh kiếm sau lưng bị tuột ra. Thanh kiếm rơi xuống đất, miếng vải bọc cũng tuột ra, để lộ hoàn toàn thanh kiếm. Diệu Bình đang định cầm lên thì ông trưởng bản đã cầm thanh kiếm lên, trợn mắt, lắp bắp:

– Con ló! Thẳng ré câu khả! (khoan đã! Dừng lại!)

Diệu Bình  quay sang nhìn Tấn, rồi nhìn anh Kì, cả Bát nữa, nhưng có vẻ cũng không ai hiểu chuyện gì đang xảy ra. Xung quanh tiếng xì xào bàn tán, chỉ tay này nọ. Ông trưởng bản mắt cũng trợn trừng lên, đảo mắt liên tục từ thanh kiếm qua Diệu Bình, rồi nhìn xa xa về phía đám mây.

Bỗng ông lão buông gậy, quỳ sụp xuống, hai tay cầm thay kiếm như đang dâng lên, miệng lắp bắp:

– Thiên mệnh! Thiên mệnh!

Những người xung quanh ông, thấy ông vậy, cũng quỳ sụp xuống theo mà nói theo: – Thiên mệnh, thiên mệnh, thiên mệnh…

Diệu Bình ngạc nhiên cực độ.

Tất cả xung quanh vẫn đang tiếp tục quỳ lạy mà nói câu đi nói lại câu “thiên mệnh” không ngớt. Diệu Bình chưa biết làm gì thì anh Kì đã chạy lại chỗ ông trưởng bản, đỡ ông dậy mà hỏi: – Mỳ phiếc lắng thếm à! (có chuyện gì vậy!)

Ông cụ ngước dần lên, run rẩy, chỉ tay vào Diệu Bình nói: – Mác kiếm! (thanh kiếm!)

Rồi lại quỳ xuống mà nói: – Công chúa!

***

17 năm về trước

Tại một nơi không phải Việt Nam.

Trên một bãi biển ở một đất nước xa xôi.Đang là buổi chiều tà.

Có hai người, một nam một nữ đang đi bộ. Người đàn ông còn khá trẻ, đeo kính, tóc để ngắn, dáng người mảnh khảnh. Người phụ nữ cũng khá trẻ, tóc để dài, khá xinh đẹp. Người đàn ông khoác vai người phụ nữ trẻ, ân cần nói:

– Nàng đừng lo nghĩ nhiều, rồi mọi chuyện sẽ tốt đẹp thôi!

Cô gái nói, vẻ mệt mỏi:

– Thiếp thấy lo lắm thưa ngài. Chuyện này… dường như quá sức với thiếp!

– Ta biết, việc này gian nan, vất vả. Nhưng đừng vì thế mà lấy làm nhụt chí.

Siết nhẹ vai cô gái trẻ, người đó lại nói: – Việc chắc chắn sẽ thành công, vì nó là thiên mệnh mà!

– Ngài chính là thiên mệnh đó thôi – cô gái nói.

Người đàn ông không nói gì, trầm ngâm một lúc lâu mới nói tiếp:

– Ta từng là. Giờ thì, ta chỉ là một con người bình thường, thậm chí không được sống trên mảnh đất quê hương, thì đâu còn là thiên mệnh nữa.

Trong giọng nói không giấu nổi nỗi niềm chua xót của kẻ xa xứ, rồi lại nói tiếp:

– Nhưng nước Việt Nam ta không thiếu người tài giỏi. Không có ta, sẽ có người khác tài giỏi hơn ta, dẫn dắt dân tộc đến tự do, không còn chịu cảnh lầm than cực khổ nữa.

Lại im lặng một lúc, rồi cô gái nói:

– Thiếp sẽ không phụ sự tin tưởng của ngài. Thiếp sẽ nuôi dạy đứa bé thật tốt, để nó đảm trách được nhiệm vụ này!

Người đàn ông cười hiền từ nói:

– Ta vẫn chưa đặt tên cho con nhỉ, theo nàng thì nên đặt là gì?

– Thiếp không biết. Tùy ý ngài ạ.

– Chà, nếu là con trai, thì đặt tên là Bảo Phúc, còn nếu là con gái… đặt tên là Diệu Bình. Nàng thấy có được không?

– Tùy nghi ngài. Ngài thích con trai hay con gái hơn?

– Tất nhiên là một thằng bé thì hơn, dù sao trách nhiệm cũng nặng nề. Là đàn ông con trai thì tiện hơn. Nhưng nếu là một bé gái, thì cũng không sao cả, ta tin nó sẽ là một cô gái cứng cỏi, cương nghị như ta… và xinh đẹp như nàng vậy!

Cô gái bỗng khóc nấc lên thành tiếng. Vừa sụt sùi vừa nói:

– Đời người được mấy chục năm, mà sao cứ phải chia cách, rồi khổ đau thế này. Thiếp không muốn xa ngài chút nào!

Người đàn ông siết nhẹ bờ vai cô gái nói:

– Ta cũng đâu có muốn xa nàng. Nhưng như ta nói nhiều lần rồi đấy, vận nước trong tay ta, không thể ngồi yên mà nhìn nhân dân trăm bề cực khổ được. Nàng có muốn thấy điều đó không?

Cô gái vẫn sụt sùi không nói gì, người đàn ông nói tiếp:

– Vì dân vì nước, ta gác lại chuyện riêng tư, có được không vậy, Mai Vàng?

Cô gái gật nhẹ đầu, nói:

– Ngài có tấm lòng thương dân như vậy, thiếp cũng xin khắc cốt ghi tâm tâm nguyện của ngài, thưa hoàng…

– Đừng gọi ta bằng từ đó, ta đã không còn làm… công việc đó từ lâu rồi.

– Thiếp xin lỗi, nhưng xin phép ngài cho thiếp nói từ đó một lần nữa không ạ?

Người đàn ông không nói gì. Cô gái cúi thấp đầu nói nhỏ nhẹ:

– Hoàng thượng anh minh!

***

Người dân bản thấy xung quanh cũng ra sức quỳ lạy theo ông trưởng bản. Diệu Bình chạy lại đỡ ông lão dậy. Nhưng khi cô đưa tay ra thì ông lão rụt tay lại không dám động vào, mặt lại cúi sát đất nói mấy câu cô không hiểu gì cả. Diệu Bình lùi lại, đứng gần chỗ Tấn, đưa mắt nhìn anh như tìm sự giải thích cho chuyện này, nhưng anh ta có vẻ cũng giống cô, đang ngây người ra nhìn xung quanh. Kì bỗng nói lớn:

– Đủ rồi, mấy người đi theo tôi! Anh Bát bảo dân làng ai về nhà đấy!

Anh Kì đỡ ông cụ trưởng làng theo, dẫn mọi người trở lại căn nhà của ông cụ. Leo lên những bậc thang.

Có lẽ phải kể câu chuyện của mình rồi! Diệu Bình tự nhủ. Cô không nói thì chắc những người xung quanh cô cũng sẽ hỏi thôi. Út Hương, anh Tấn, Anh Dương. Họ đều là những người đồng hành tuyệt vời. Cả những người dân tộc khởi nghĩa ở đây nữa.

Biết đâu mình lại biết thêm điều gì !

Mở toang cánh cửa gỗ ra, mọi người bước vào trong. Không có ai cả. Căn nhà cũng giống những căn nhà của người Tày khác, bên trong trang trí lòe loẹt, bắt mắt. Có một bức tranh lớn, treo phía bên trái, chiếm hết lấy cả một góc ngôi nhà. Diệu Bình hiếu kỳ nhìn bức tranh. Tranh vẽ bằng bút lông, chỉ có màu mực đen, vẽ trên giấy gió có vẻ đã bị ố đi nhiều. Bức tranh diễn tả lại một cảnh đánh trận có vẻ rất quy mô và hùng tráng. Có lẽ là tranh từ ngày xưa để lại. Và Diệu Bình nhận ra trong bức tranh có một thứ rất quen. Quay ra nhìn ông trưởng bản, ông lão vẫn còn run rẩy. Kì đưa ông ngồi cạnh bếp lửa chỉ còn chút than hồng, rồi chỉ mọi người ngồi xung quanh. Rồi nói:

– Chuyện này là như thế nào vậy thưa cô?

Diệu Bình nhìn một vòng xung quanh, rồi nói:

– Ở đây nhiều người quá!

– Ai không liên quan đi ra ngoài đợi đi! – Kì nói. Có mấy người đứng dậy đi ra ngoài. Sau cùng chỉ còn bốn người đám của Diệu Bình, anh Bát, anh Kì, và ông trưởng bản. Kì nói: – Giờ được chưa, cô hãy giải thích chuyện này? Cả lý do cô xuất hiện ở đây nữa!

Diệu Bình hít một hơi thật sâu, cố gắng sắp xếp câu chuyện thật rõ ràng.

– Tôi và anh Tấn đến đây không phải để đi buôn. Chúng tôi có một nhiệm vụ quan trọng cần làm ở đây!

– Là nhiệm vụ gì? – Anh Kì hỏi.

– Tôi cần truyền lại bảo vật cho một người, một người tôi biết đang ở gần đây, có thể dẫn dắt cả dân tộc thoát khỏi ách thống trị của bọn Pháp.

Một thoáng yên lặng trong căn phòng. Rồi Kì nói: – Bảo vật đó là gì?

Diệu Bình đặt nhẹ thanh kiếm xuống sàn gỗ. Mọi người chăm chú nhìn xem nó là thứ gì mà đặc biệt vậy. Trong ánh sáng bếp lửa bập bùng, cùng chút ánh nắng vàng xuyên qua các khe cửa, thanh kiếm và viên ngọc bừng lên ánh sáng rất diệu kỳ.

– Nhưng trước khi vào câu chuyện, tôi muốn nhấn mạnh một điều: những điều tôi chuẩn bị kể, không phải để kết tội, đổ lỗi cho ai. Đây là câu chuyện về thanh kiếm, chỉ vậy thôi. Còn những chuyện của quá khứ thì cứ để nó là quá khứ thôi. Bản thân tôi nếu không chấp nhận điều đấy, thì cũng đã không đến tận đây và làm những việc này. Tôi nói thế, mọi người có hiểu không?

Mọi người không nói gì, coi như đã thông. Bát thì thầm giải thích cho ông trưởng bản. Diệu Bình nói tiếp:

– Đây là thanh bảo kiếm của vương triều Nguyễn, đại diện cho sức mạnh và quyền uy của nhà vua.

– Vậy sao cô có nó? – Kì lại hỏi.

– Vì tôi là…

– Là công chúa hả? – Tấn nói vào khi Diệu Bình còn chưa kịp nói hết câu. Mặt anh chàng vẫn đang đầy vẻ hoài nghi.

– Phải rồi, anh có biết tên đầy đủ của tôi là gì không?

– Cô nói đi – Tấn giục.

Diệu Bình thở dài một hơi không thành tiếng rồi nói: – Tên đầy đủ của tôi là Nguyễn Phúc Diệu Bình. Tôi sinh năm Bảo Đại nhất.

– Nguyễn Phúc Diệu Bình ư? – Tấn thốt ra, vẻ ngạc nhiên.

– Phải rồi, tên tôi đấy – Diệu Bình trả lời, thấy Tấn như nhận ra điều gì đó.

– Tất cả người trong hoàng tộc Nguyễn đều có đệm đầu là chữ “Phúc” như của cô, người dân thường không được mang đệm đó! – Tấn chậm rãi nói. – Vậy cô là con vua Bảo Đại?

“Anh ta cũng hiểu biết nhiều đấy chứ!” Diệu Bình cười thầm, trả lời: – Nếu ngày trước mà anh nói tên húy của tôi như vậy là phạm tội khi quân rồi đó. Giờ thì… À không phải, tôi không phải con vua Bảo Đại.

– Vậy là con vua Khải Định?

– Cũng không phải!

– Vậy cô là… cô là con của ai?

Diệu Bình nghĩ tới phụ thân và phụ mẫu, bỗng thấy buồn, giọng trùng xuống: – Phụ thân tôi là vua Duy Tân, mẫu thân tôi là Hoàng Quý Phi Mai Thị Vàng.

Tấn và anh Kì ồ lên một tiếng, rồi lại im lặng. – Nhưng ông ấy bị đi đày lâu lắm rồi, sao sinh ra cô được?

– Mẫu thân tôi chịu đi đày cùng phụ thân. Nhưng sau đó về nước, và sinh ra tôi ở Huế, tại nhà dì ruột của tôi.

– Là bà Thanh Mai đấy hả?

Diệu Bình gật đầu rồi nói tiếp: – Tôi và mẹ sống ở nhà dì Thanh Mai. Đến mãi 3 năm trước, tôi và mẹ mới chuyển lên một ngọn núi trên dãy Bạch Mã ẩn cư, chờ ngày lên đường ra Bắc.

Út Hương ngồi gần Diệu Bình, ghé lại gần siết nhẹ cánh tay cô, làm cô thấy ấm áp và vững tin lên nhiều. Rồi nói tiếp: – Ban đầu dự định là hai mẹ con tôi đến ngày rồi cùng đi ra Bắc. Nhưng sau đó, mẹ tôi chẳng may bị ngã, liệt nửa người… không đi lại được…

– …Dì tôi gửi Út Hương lên chăm sóc và đỡ đần hai mẹ con tôi. Rồi ba tháng trước, tôi lên đường ra Bắc cùng Út Hương, anh Tấn và anh Dương đây.

– Nhưng sao cô biết ở đây có người cô cần gặp? – Kì hỏi, vẻ thắc mắc.

– Cách đây ba năm, mẹ tôi khi ngủ đã được báo mộng.

Rồi Diệu Bình kể lại chuyện ba năm về trước, giấc mơ và bài thơ mẫu thân cô nghe được, chuyện hai người phải bỏ đi trong im lặng trong một đêm mưa gió. Nghe xong Tấn thắc mắc: – Mục Mã Thành là ở đâu vậy?

– Trước đây phủ Cao Bằng có một tòa thành gọi là thành Mục Mã. Giờ nó là bên trong phủ, là từ chỗ Chợ rồi mấy khu phố, đến hết cái đền Tam Trung đó – Bát nói, thay luôn lời Diệu Bình đang định nói.

-Đúng vậy. Có thể hiểu câu báo mộng đó là: Tìm người tài ở đây để trao lại bảo vật!

– Tôi không tin vào những điều mê tín dị đoan – Kì nói, giọng chắc chắn.

Diệu Bình không nói gì. Nhưng nghĩ những bí mật huyền thoại này không phải ai cũng biết, nên nghe qua thì khó tin. Cô hạ giọng nhẹ nhàng nói:

– Anh mới nghe thì không tin cũng phải. Nhưng khi nghe hết câu chuyện, biết được huyền thoại này thì anh sẽ phải tin thôi.

– Huyền thoại nào? – Kì hỏi vẻ dò xét.

– Huyền thoại về thanh kiếm này, thanh kiếm nổi tiếng nhất trong lịch sử Việt Nam.

– Vì sao nó nổi tiếng vậy?

Diệu Bình chậm rãi nói:

– Chủ nhân đầu tiên của nó là đức Thống Thiên Khải Vận Thánh Đức Thần Công Duệ Văn Anh Vũ Khoan Minh Dũng Trí Hoàng Nghĩa Chí Minh Đại Hiếu Cao Hoàng Đế. Hay còn được gọi là Lê Thái Tổ – Lê Lợi.

– Có những thời điểm huyền thoại và hiện thực tiến sát và tiệm cận nhau. Đây chính là vật kết nối hai thế giới đó. Nó là huyền thoại, nhưng là có thật. Đây là câu chuyện chỉ những người trong hoàng triều, những người trực tiếp kế vị mới được biết. Nó không hề được truyền ra ngoài. Nên sau đây đừng có ngạc nhiên vì những gì tôi kể.

Diệu Bình dừng lại, nhìn xung quanh. Mọi người vẫn đang chăm chú nghe, rồi mới nói tiếp:

– Đây là Thuận Thiên Kiếm…

– Thanh kiếm huyền thoại trong sự tích Hồ Gươm.

Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!