Tấn thấy có cái gì đó dờn dợn sau lưng, tiếng gọi đó quả thật khiến anh giật mình.
Lấy chút bình tĩnh, Tấn quay đầu lại xem ai gọi mình.
Một thằng quan Tây đang lù lù đi về phía anh. Thằng này to quá. Tấn đã thuộc dạng to cao rồi nhưng thằng tây kia còn cao hơn Tấn đến gần một cái đầu nữa. Mặt mũi nó thì kỳ dị, mũi lõ, mắt xanh, da lại đầy những nốt như vết chân chim người già. Mắt nó thì đang trợn trừng lên, xong lại đảo liên hồi.
Thằng này quái dị quá – Tấn nghĩ, nó định làm gì mình đây. Từ nãy đến giờ nó ngồi im có can dự vào đâu? Kệ bọn lính ta đấy chứ! Cả cái bốt không thằng nào có súng, duy nhất có khẩu súng trường cạnh ghế hai thằng tây này, giờ nó đang tiến về phía Tấn tay xách một khẩu rồi. Làm sao đây?
Giờ có chạy cũng chả thể thoát được từng này người, lại bị dí súng thế này thì chạy đâu cho thoát!
Thôi thì cứ xem nó định làm gì, nghĩ vậy Tấn giơ tay về phía Dương ra dấu cứ bình thường, rồi tiến lên mấy bước, tay vẫy, đầu cúi lia lịa ra dấu chào. Anh cố cười toe toét cái miệng, mắt nhắm tịt vào luôn.
Tiếng bước chân càng ngày càng tiến lại gần, có tiếng lạch cạch, rồi có cái gì đó rơi xuống đất. Bỗng nhiên Tấn bị đôi tay to lớn lông lá nhấc bổng lên, người bị ôm lấy chặt cứng không cách nào cựa quậy được, thôi phen này toi đời rồi!
Thì lại nghe thấy thằng tây đấy nó quát vào mặt: – Oh belle dame, belle dame! (Quý cô xinh đẹp).
Tấn mở trợn đôi mắt ra mà nhìn nó, thằng tây đang ôm chặt cứng lấy anh và cứ hét liên tục câu đấy, còn ôm anh xoay mấy vòng liền. Mấy thằng lính kia cười rú lên, thằng tây đen còn lại cũng bò lăn ra mà cười. Một thằng vừa cười vừa nói: – Mày sướng nhé thằng dân tộc kia! Được ngài ôm ấp chiều chuộng nhé, haha.
Ra là thằng tây này vừa hút thuốc phiện xong, nên phê thuốc, tưởng Tấn là gái chạy ra ôm hôn thắm thiết. Đúng là dở khóc dở cười. Mặt anh nghệt cả ra, chục năm trong nghề chưa bao giờ gặp cảnh này. Thằng quái đản này nó ôm cứng lấy anh, giãy không giãy nổi, hết ôm hết lắc, nó lại hôn lại thơm vào hết mặt mày Tấn, mồm nó thì toàn mùi thuốc, hôi không chịu nổi.
Thế này còn mặt mũi nào đi tán tỉnh các em xinh đẹp nữa! Tấn đau khổ nghĩ. Anh Dương cũng không kìm được, cười khúc khích không thành tiếng.
Mãi một lúc sau, phải đến khi thằng tây đen còn lại ra bảo thằng tây này một lúc, nó mới tỉnh ra tí, mới biết là mình ôm nhầm đàn ông. Mà biết xong nó cũng không khá hơn là mấy, vẫn cười hềnh hệch, may mà chịu buông Tấn ra. Đến lúc đám của Tấn đi rồi, thằng tây đấy vẫn chưa hết phê, hắn cầm cái khăn mùi xoa mà vẫy đi vẫy lại, chào Tấn, đến tận lúc khuất sau một quả đồi mới thôi.
Tấn vẫn nóng bừng mặt lên, nói với cả đám: – Từ giờ về sau tôi cấm không ai được nhắc hay kể lại chuyện này đấy!
– Thế nói thì sao nào – út Hương lúc này mới nói, bắt đầu không nhịn được cười.
Nói xong cười rống lên, Dương cũng khục khặc cười theo, Tấn tím tái mặt mày mà nói: – Cô còn cười tôi bỏ cô lại ở đây một mình luôn đấy, cũng không mở bao che mặt luôn.
– Thôi mà ma đam, đừng nổi nóng mà.
Nói xong thì cười nghiêng ngả, ngã luôn xuống đất, may là bờ cỏ nên không sao, kéo theo Diệu Bình luôn. Dương chạy ra đỡ hai người dậy, cởi dây trói tay ra, còn Tấn tức quá đi ra một góc mà ngồi, chả thèm giúp.
Đi ra từ một lùm cây, tất nhiên sau khi đã che kín lại khuôn mặt, Diệu Bình mới gọi Tấn: – Thôi mà anh Tấn đừng giận nữa mà. Chuyện đó cũng… chỉ là chuyện chẳng may thôi mà.
Cô phải cố không cười thành tiếng để Tấn nghe được. Nín được giọng lại lại nói tiếp: – Không có anh thì chúng ta không qua bốt được rồi. Chúng tôi cảm ơn anh nhiều lắm. Út Hương, không cười nữa, em cảm ơn anh Tấn đi!
Út Hương vẫn cười, thè lưỡi trêu ngươi: – Cảm ơn ma đam nhé, haha!
– Thôi đủ rồi, Út Hương, không trêu đùa nữa – Diệu Bình nạt.
Út Hương giờ mới chịu thôi.
Tấn đang ngồi ở một góc, coi như không nghe thấy, ngoảnh mặt ra chỗ khác nghịch vu vơ. Diệu Bình đi đến gần chỗ anh, nhẹ nhàng nói: – Này anh chàng tốt bụng, tử tế, hiệp nghĩa, anh hùng ơi!!
Nghe câu này thì đến Tấn dù đang đầy một bụng hậm hực cũng phải nghệt mặt ra không nói nổi, bình thường Diệu Bình rất ít khi khen ai, hay dành lời tâng bốc ai.
Tấn nói, lấy lại cái giọng hay đùa cợt quen thuộc của anh: – Tiểu thư khen thế tôi không dám nhận, tổn thọ lắm!
Thấy anh chàng có vẻ đã bình thường trở lại rồi, Diệu Bình lại tiếp: – Tôi có nói gì quá đâu, hì hì. Nãy tôi tuy bị bịt mặt không thấy gì nhưng nghe cũng đủ hiểu hết rồi, anh dũng cảm lắm, không phải ai cũng dám đứng trước mặt toán lính mà…
– Mà gì? – Giọng Tấn bắt đầu sôi nổi trở lại, thậm chí là đang bắt đầu cười.
– À thì… nói láo, hì hì hì – Diệu Bình cười nói.
Tấn đứng dậy, khoa chân múa tay mà nói: – Bản lĩnh đàn ông thể hiện ở những chỗ như vậy. Gặp chuyện bất bình sao có thể bỏ qua, huống hồ trang nam tử đầu đội trời chân đạp đất… à nhầm, đầu đội trời chân đạp đất.
Tất cả đều cười lên, út Hương trêu chọc: – Thôi anh cứ đội đất cũng được đấy anh ngốc ạ, ha ha, từ giờ anh chồng cậy chuối mà đi nhé!
Tấn phẩy tay tiếp: – Đơn giản, cái gì tôi chả làm được, chỉ là bình thường tôi không thích thể hiện thôi, ngày xưa ấy…
– Thôi thôi biết rồi, lại dắt cướp lên quan hả, hahaha – út Hương lại xỏ xiên.
Tấn vùng chạy đuổi bắt lấy út Hương. Hai người cứ đuổi bắt nhau mãi không chịu thôi. Bỗng đang đuổi thì Tấn va phải một người dân tộc, nãy giờ mấy người họ ngồi quây lại một chỗ, chả nói chả rằng gì, chỉ xì xào với nhau bằng tiếng Tày mà chả ai hiểu hết. Khi Tấn va phải, người đó trừng mắt lên nhìn anh, nhưng không nói gì. Tấn lùi lại mấy bước, hết vẻ đùa cợt, hỏi thăm họ bằng giọng hết sức chân thành: – Tầu chếp dý hâu mí? (Có làm sao không).
Người Tày đó trả lời, thật bất ngờ, là bằng tiếng Kinh: – Chúng tôi không sao.
Tất cả đều bất ngờ, Tấn trợn tròn mắt lên, lại hỏi: – Các anh nói được tiếng Kinh sao?
Người đó không trả lời, chỉ gật đầu.
– Vậy sao từ đầu không chịu nói? – Tấn lại hỏi.
Người đó lại nói: – Có hỏi đâu mà nói.
Tấn chợt nhớ ra chưa hề hỏi họ bằng câu tiếng Kinh nào. Vốn anh nghĩ họ người Tày thì anh hỏi tiếng Tày cho tiện. Đang nghĩ ngợi thì bỗng người Tày đó tiến lại gần Tấn, đưa con dao găm lên, Tấn giật mình tưởng sắp chém mình, giật lại mấy bước, nhưng không phải, người Tày đó đưa dao lên chém vào không khí một nhát, rồi cất dao đi, cúi đầu trước mặt Tấn một cái, rồi nói: – Không nợ nần gì nữa!
Nói xong ba người họ lại đẩy xe kéo đi về phía trước một đoạn có một cái ngã ba, họ rẽ vào con đường nhỏ đi qua một quả đồi lớn, rồi khuất dạng. Đám Tấn vẫn đang ngạc nhiên, không hiểu chuyện gì, cứ để họ đi mà chả nói được câu gì. Lúc sau Diệu Bình mới hỏi Tấn: – Mấy người đó là như thế nào vậy? Họ nói vậy có nghĩa là gì?
Tấn lắc đầu trả lời: – Tôi cũng không biết. Nhưng chắc là sau chuyện giúp họ ở cái bốt, thì họ không muốn làm gì chúng ta nữa đâu.
– Vậy là họ mang đao kiếm nên bị đánh có phải không?
Tấn trả lời: – Có lẽ vậy, dân bình thường thì mang dao dựa là bình thường, nhưng mấy người này thì lại giấu trong người. Bọn quan quân không để yên đâu. Chúng sợ ta làm loạn, rồi thì khởi nghĩa… đại loại thế.
– Vậy họ mang đao kiếm qua bốt làm gì nhỉ? Không có anh chắc họ bị đánh chết rồi cũng nên.
Tấn thành thực trả lời: – Tôi không biết, có trời mới biết được.
***
– Mọi người đi sát nhau vào nhé, đừng nhìn ngó lung tung, đừng có nhìn chằm chặp vào ai, thế là không hay đâu, biết chưa?
Tấn dặn dò mọi người. Từ chỗ họ dừng vừa nãy, đi thêm một đoạn, qua vài đoạn khúc khuỷu là một đám lố nhố mấy dãy nhà hiện ra, chính là phủ Cao Bằng.
Phủ Cao Bằng cũng không lớn lắm, vì vốn trước đây chỉ có quân lính đồn trú, về sau dân mới đến buôn bán, nhưng cũng chỉ lẻ tẻ, phục vụ đám quan quân là chính, khách vãng lai qua đây cũng ít.
Có một cái ngã ba lớn nhất, tạm gọi là trung tâm. Con đường mấy người đang đi dẫn đến ngã ba đó, xung quanh hai bên đường là mấy hàng quán nhỏ lẻ, lụp xụp, cái xây bằng gạch, cái thì đắp đất. Tiến thêm một đoạn thì đến khu mấy tiệm của người Hoa. Người Hoa tuy ít nhưng cửa hàng, nhà cửa bề thế hơn, buôn bán cũng to hơn, đó cũng là khu tấp nập nhất ở phủ Cao Bằng này. Đến đúng ngã ba, một đường rẽ đi Trùng Khánh, phủ quan cũng ở phía đó, còn một đường rẽ còn lại đi về phía Nguyên Bình rồi đi Hà Giang. Phía đó có trại lính với cái khám to nhất tỉnh này. Đi qua ngã ba đó, qua cây cầu bắc qua sông Bằng là một cái đền ngự trên một quả đồi cao, chính là đền Tam Trung thờ ba ông quan ngày xưa, gặp bạo loạn vẫn tận trung với vua, lấy cái chết để thể hiện tấm lòng, về sau được vua ghi công, lập đền thờ.
Đó cũng là nơi mấy người họ sẽ đến hôm nay.
Bốn người họ đi bộ, dắt theo con ngựa phía sau, giờ này đang là tầm chiều, tuy chưa muộn nhưng là mùa đông nên mặt trời đã gần chạm mấy đỉnh núi cao, trời dần chuyển sang sắc đỏ của buổi chiều tà. Đoạn này là phố buôn bán, người đi lại cũng khá đông. Ở đây bán gần đủ các mặt hàng như dưới xuôi, có mấy tiệm vải, rồi tiệm bán gạo, tiệm hàng khô, mấy nhà Hoa kiều thì bán cả thuốc bắc rồi hàng ăn, nói chung là đủ đáp ứng nhu cầu hàng ngày. Trên đường có khá nhiều người dân tộc qua lại, qua cách ăn mặc là biết. Họ mua bán với người Kinh, mang những thứ mình làm được, kiếm được trên bản trên rừng xuống đây trao đổi để mua những thứ cần thiết cho cuộc sống của họ. Bên trái là đường có một cái chợ con, nhưng chợ họp sáng thôi, nên giờ chỉ còn trơ lại mấy cái bàn cũ đen sì đóng bẩn, mấy cái bếp trơ than ra. Có mấy người ăn mày, người thì nằm ngủ ngon lành trên mấy cái bàn, người thì lại tìm chấy bắt rận cho nhau, thật là hết sức bi đát bẩn thỉu.
Thỉnh thoảng có những toán lính ba, bốn tên đi tuần quanh mấy dãy nhà, nhưng nhìn bộ dạng rõ là đi cho có, và nhìn chúng thì chả có tí sức sống gì cả. Tên thì gầy gò ốm yếu, tên thì da dẻ bủng beo vàng vọt, tên thì lại thậm thọt cà nhắc. Đặc biệt nhìn điệu bộ cử chỉ Tấn biết bọn này toàn lũ nghiện thuốc phiện và thường bị đói thuốc. Bổng lộc lương lậu thì chắc được ba cọc ba đồng, mà thuốc thì ngày nào cũng phải hút, vậy nên cứ phải ra ngoài, rình rập ai có sơ hở mắc lỗi thì bắt chẹt ăn tiền, mà không có nữa thì tính cả đến bài trộm cắp vặt. Chó, mèo, gà qué chúng bắt hết, cuối cùng chả biết là trộm thật nhiều hơn hay quan lính trộm nhiều hơn!
Tóm lại đây là một nơi khá phức tạp, thật giả trắng đen chưa biết đằng nào mà lần. Diệu Bình nghĩ bụng sao cái chỗ này lại là nơi quan trọng mà mình phải đến nhỉ? Không thấy tí gì linh thiêng hay huyền bí ở đây cả, nhìn những khuôn mặt người quanh đây cũng không thấy ai khả dĩ để mà “Quốc bảo truyền” cả.
Lại nói về thứ đó, giờ vẫn đang trong chiếc hộp gỗ và được gói ghém cẩn thận qua mấy lớp vải rồi đặt trên lưng ngựa cùng vài món đồ khác. Nhìn qua thì người ta cũng chỉ nghĩ đó là món đồ đạc bình thường thôi. Tuy thế nhưng Diệu Bình vẫn không dám rời mắt lâu khỏi cái đó, cứ chốc chốc cô lại ngoái lại nhìn xem nó còn ở đấy không.
Mấy hôm nay, khi gần đến đất Cao Bằng, Diệu Bình đã bắt đầu nghĩ, đến nơi rồi thì sẽ làm gì tiếp? Quả thực là rất mơ hồ, chỉ dựa vào mấy câu thơ trong giấc mơ của mẫu thân mà làm, rồi mình sẽ gặp ai? Sẽ làm gì lúc đó? Liệu đó có phải là người thực sự mình cần tìm không?
Rồi còn phải tìm kiếm “cái kia” nữa. Liệu nó có đang ở gần đây không? Những người giữ nó tốt hay xấu?
Mà liệu nó còn tồn tại không? Hay bị phá hủy rồi…
Nhưng cũng không phải là không có hy vọng.
Với chính sách cai trị bóc lột của thực dân Pháp, khởi nghĩa nổi dậy ở thời này chả có gì là hiếm gặp.
Nổi dậy ở nhiều nơi, nhưng mỗi nơi có sự khác biệt riêng. Nếu ở miền đồng bằng, hệ thống đồn trú dày đặc, lại nhiều Việt gian, phong trào thường phải tổ chức bí mật. Thì ở những miền rừng núi thế này, đường xá hiểm trở, dân cư thưa thớt, nên phong trào hoạt động dễ dàng hơn nhiều. Vậy nên có thể có ai đó có khả năng lắm chứ!
Mải nghĩ cô va phải một người đi ngược đường mà chả hay biết. Một gã hôi hám, người đầy mùi rượu, răng xỉn đen sì. Gã va vào Diệu Bình rồi cười hô hố lên, lại lao vào định ôm lấy cô. Nhất thời không làm gì được, chỉ biết chân chân đứng nhìn, may có Tấn can thiệp kịp lúc, anh giằng lấy tay hắn ta rồi lẳng xuống đất, lạnh lùng nói: – Thằng nát rượu, cút đi!
Xung quanh chả ai thèm để ý đến Tấn và Diệu Bình, cả tên say rượu kia nữa, như thể nó là chuyện bình thường như cơm bữa ở đây vậy…
Tấn thì thầm với Diệu Bình: – Cô đi đứng kiểu gì đấy, tôi nói phải để ý vào mà.
Diệu Bình quay đi nói: – Tôi đang mải nghĩ nên không để ý, ta đi tiếp đi, kệ hắn ta. Mà anh không cần phải nói nặng lời với hắn vậy đâu, dù sao cũng là người say rượu.
Tấn cứng giọng mà đáp: – Đây không phải chỗ cho cô thương người đâu, bọn này mà không rắn là nó bầy nhầy lắm.
Nói rồi cả đám lại đi. Không khí có phần nặng nề hơn trước. Tấn đi sát lên gần Diệu Bình thì thào hỏi: – Này tiểu thư, đến Cao Bằng rồi, làm gì nữa đây?
– À, tôi… định đến đền Tam Trung thăm viếng, xong đó ta tính tiếp – Diệu Bình trả lời.
– Cô tính gì thì tính nhanh lên, chứ sắp tối rồi đấy ạ – Tấn nói, hất đầu lên phía trước. Hướng này thẳng hướng tây, và trời thì có vẻ cũng sắp tối rồi.
Diệu Bình hơi bối rối, trả lời: – Chúng ta chắc ở lại đây vài ba ngày. Ta đi thăm đền rồi kiếm chỗ nào nghỉ được không anh Tấn?
– Được rồi, chuyện ăn nghỉ để tôi sắp xếp. Nhưng như cô thấy đấy, nơi này không phải nơi ở lâu được, nên cô có công chuyện gì thì cố gắng mà làm xong cho nhanh đi nhé.
– Tôi biết rồi, anh… yên tâm.
Diệu Bình nói Tấn yên tâm mà chính cô cũng chưa thấy yên tâm chút nào cả.
Đi một lát đã đến ngã ba, rồi đi qua cầu. Mùa này là mùa khô nước sông khá cạn, lại là sông nhỏ nên thuyền bè trên sông không nhiều lắm, chỉ có mấy cái thuyền nan nhỏ của dân ra đánh cá, không còn đám bè buôn gỗ tấp nập như mùa mưa. Qua cầu là đến ngôi đền rồi. Đền nằm trên một ngọn đồi khá cao, được xây cất khá khang trang. Bậc lên lát đá, cây cối xung quanh được phát quang khá gọn gàng. Đầu bậc đá có cánh cổng lớn xây bằng gạch, trang trí khá cầu kỳ, trên có đôi câu thơ vẽ bằng mực đỏ:
Tuyệt bút một chương trung lẫn hiếu
Hi sinh ba vị chết như còn
Dưới chân đền có mấy quán cóc bán nước với đồ đi lễ cho dân đến đây thắp hương khấn bái, Tấn chỉ vào một quán bảo: – Ta vào làm chén nước đã mọi người!
Diệu Bình lại: – Út Hương à, em ngồi đây với anh Tấn và anh Dương nhé, chị lên đền thăm quan một lát!
Út Hương đáp: – Thôi cho em đi cùng đi ạ. Em không ngồi đây với hai người này đâu!
Diệu Bình không nói gì, chỉ gật đầu. Cô và Út Hương bước lên những bậc đá lên đền.
0 Bình luận