[500-600]

Chương 538

Chương 538

Ngày thứ ba ở Tô Châu.

Đáng lẽ ra vào buổi sáng này, binh lính phải bận rộn dỡ trại để chuẩn bị di chuyển đến địa điểm tiếp theo.

Thế nhưng, đám binh lính lại nhởn nhơ đến lạ thường.

「Tiên sinh Ngô Thiên Hộ, mời dùng bữa sáng ạ.」

「Hờ, hừm, bữa sáng, bữa sáng có gì...?」

「Cá tạp khô chiên, cà tím xào tỏi tây bí ngô, và canh Đông Hải...」

Cá tạp khô chiên là mấy con cá nước ngọt bé tí phơi khô rồi chiên qua loa; cà tím xào tỏi tây bí ngô là món rau xào quân đội điển hình, chỉ đảo qua dầu cho chín tới chứ chả có vị gì; còn canh Đông Hải là cái tên mỉa mai dành cho món canh loãng toẹt, nước nhiều như biển Đông mà cái thì chẳng thấy đâu.

「Dẹp đi. Hờ, nhìn thôi đã muốn ói, khẩu vị vừa mới nhen nhóm tí đã bị đấm cho chết ngắc rồi. Ta ngủ tiếp đây. Ngươi ăn nhiều vào.」

Thực đơn buổi sáng thật thảm hại.

Nhưng chuyện cơm lính thảm hại vốn là điểm chung của mọi nền văn hóa, chẳng riêng gì ở đây.

Không phải là khinh thường binh lính.

Nhưng ở cái tập thể mà không có đầu bếp chuyên nghiệp, lại lắm kẽ hở để bớt xén công quỹ thì chuyện này là bình thường, không phải lính cũng thế thôi.

Đáng lẽ giờ này phải hừng hực khí thế hô hào "Hôm nay ăn trưa trên đường hành quân!", thế mà trời sáng bảnh mắt rồi vẫn nằm ườn ra đó?

Đơn giản là vì họ quyết định ở lại thêm một ngày.

Tại sao? Vì Thần Nữ đại nhân muốn xem Thử Kiếm Thạch.

Nói trắng ra là hoãn lại một ngày để đi tham quan du lịch.

Nhưng thay vì bất mãn, binh lính còn gật gù tán đồng, coi đó là chuyện hiển nhiên.

Phải rồi, đã đến Tô Châu thì phải đi xem Hổ Khâu chứ. Từ lúc đến giờ Người cứ ru rú trong đấu trường luyện công, sao nỡ bỏ qua cảnh đẹp Giang Nam này được.

Và thế là, Hổ Khâu!

Tên đầy đủ là Hổ Khâu Sơn.

Nhưng gọi là "núi" thì hơi quá, vì đỉnh của nó chỉ cao mười trượng, tương đương tòa nhà mười tầng ở quê A Thanh, thực chất chỉ là một cái đồi thoai thoải.

Gọi là núi thì ngại miệng nên người ta chỉ gọi là Hổ Khâu, địa điểm du lịch số một của đất Tô Châu.

Cái đồi nhỏ xíu này có cả đống thứ để xem, đúng chuẩn danh lam thắng cảnh được tối ưu hóa cho du lịch.

Đầu tiên là Hổ Khâu Tháp trên đỉnh đồi.

Thi sĩ Tô Đông Pha lừng danh Trung Nguyên từng nói: "Đến Tô Châu mà không xem Hổ Khâu Tháp là chuyện đáng tiếc nhất đời người".

Hổ Khâu Tháp là tòa tháp Phật giáo bảy tầng, cao mười sáu trượng, cao hơn cả ngọn đồi Hổ Khâu mười trượng, một công trình kiến trúc siêu to khổng lồ.

Điểm đặc biệt của nó là bị nghiêng.

「Ồ, cái này. Ta biết. Tháp nghiêng, là tháp nghiêng này.」

Ở quê A Thanh, Hổ Khâu Tháp cũng được gọi là "Tháp nghiêng của Trung Nguyên".

Tất nhiên, Hổ Khâu Tháp chắc sẽ thấy oan ức lắm.

Vì nó được xây dựng trước tháp nghiêng Pisa ở Tây Vực tận hai trăm năm, lẽ ra phải gọi tháp Pisa là "Hổ Khâu Tháp của Tây Vực" mới đúng chứ.

Đường đường là bậc tiền bối đi trước hai trăm năm mà lại bị gọi là bản sao của tháp nghiêng Tây Vực thì có tức không.

Nhưng ngay cả người Trung Nguyên cũng chỉ nói đùa chứ chẳng ai nghiêm túc đòi lại danh phận cho nó, chắc là do độ nghiêng và chiều cao đều thua kém tháp Pisa.

Thấy oan ức thì nghiêng thêm tí nữa đi cưng.

「Đại tỷ, tỷ thấy cái ao bên dưới kia không? Đó chính là Kiếm Trì. Tương truyền Ngô Vương Hạp Lư đã vứt ba ngàn thanh bảo kiếm mà ông ta sưu tập xuống đó. Tất nhiên chưa ai tìm thấy gì nên chắc chỉ là sử sách thêu dệt thôi, nhưng tỷ có tò mò tại sao lại có giai thoại đó không? Người đời bảo là do hình dáng cái ao giống thanh kiếm, à, nhìn từ đây thì hơi khó hình dung, nhưng nhìn từ dưới lên sẽ thấy nó thon dài...」

「Ngươi nói nhiều quá đấy. Hừm. Ăn cái này đi.」

Ngắt lời Gia Cát Lý Huyền, Bành Đại Sơn chìa ra một miếng bánh gạo màu hồng xinh xắn, trong veo như ngọc.

「Hả!? Sơn ? Kiếm đâu ra món điểm tâm quý thế này?」

「Nhặt được trên đường đấy.」

A Thanh nheo mắt đầy nghi ngờ.

Tất nhiên miệng hắn vẫn đang cười tủm tỉm.

A Thanh không hề biết sức sát thương của khuôn mặt mình.

Nụ cười mỉm chi tinh quái trên dung nhan tuyệt mỹ ấy trông thật sự rất... yêu nghiệt.

Lông mày Bành Đại Sơn giật giật.

「Đừng có cười kiểu mắt híp lại như thế.」

「Sao thế? Tại sao?」

「...Nhìn ghét lắm, chỉ muốn đấm cho một phát.」

「Thì ta cố tình làm cho ghét mà?」

「Hừm.」

「Không, nhưng mà rốt cuộc ngươi nhặt ở đâu ra thế? Chỉ cho ta với. Chắc có chỗ nào người ta đánh rơi tập thể à? Để ta ra vơ vét một mẻ mang về trữ.」

Bành Đại Sơn ho khan khụ khụ rồi quay mặt đi chỗ khác.

A Thanh không biết sự tình nên thấy rất hài lòng.

Ủa, Sơn nhà mình thay tính đổi nết à?

Dạo này cu cậu không chịu nổi cảnh mồm ta rảnh rỗi hay sao ấy?

Từ trước đến giờ Bành Đại Sơn tuy hay cằn nhằn nhưng vẫn thường xuyên bao ăn bao uống.

Nhưng giờ thì khác hẳn.

Trước kia phải vòi vĩnh mãi mới miễn cưỡng mua cho, giờ thì sao?

Cứ như bà nội sợ cháu đói, cứ chốc chốc lại dúi đồ ăn vào tay.

Miệng thì cứ: "Ăn cái này đi", "Ăn đi cho mồm bớt hoạt động", "Đừng có tốn sức nói nhảm nữa, ăn đi"...

Hỏi lấy ở đâu thì toàn bảo nhặt được, người ta cho, hay thấy người bán hàng rong ế ẩm tội nghiệp nên mua ủng hộ.

Gì đây, khoai tây mùa xuân ngon lắm hả?

Định làm trò "Ngoài lạnh trong nóng" à?

Nhưng mà bánh ngon thật.

Màu hồng tưởng là phải có mật ong hay đường, ai dè là bánh nhạt không nhân, đúng là lừa đảo trắng trợn.

Lại còn bôi mỡ bóng loáng tưởng dẻo lắm, hóa ra kết cấu xốp xốp như bánh bò. Đã thế vị ngọt còn thoang thoảng kiểu nửa mùa.

Cái bánh này láo toét thật.

Ba lần láo toét. Phải nhai nát bét để trừng phạt mới được.

A Thanh đang hì hục nhai bánh nhồm nhoàm thì Đường Nan Nhi bất thình lình nhảy bổ ra chặn đường.

「Cái, lại nữa. Thanh A, ta cũng đói.」

「Hả? Vừa mới dùng bữa trưa xong mà? Đã đói rồi á? Ta vẫn còn no căng bụng đây này, sao lại đói nhanh thế? Lúc nãy ăn nhiều lắm rồi mà?」

Lông mày Đường Nan Nhi giật giật.

Bởi vì người nói câu đó lại chính là A Thanh.

Dù là A Thanh đi nữa, nhưng đây là câu nói tuyệt đối không muốn nghe từ miệng hắn.

Cái con mụ ăn gấp mười lần người khác, lại còn nuốt chửng không thương tiếc đống đồ ăn vặt mà cái tên họ Bành mặt chồn kia đưa cho, mà dám mở mồm nói câu đó à? Thật là trơ trẽn hết chỗ nói.

「Hứ, mặc kệ. A...」

「Không, ăn hết luôn á? Gì vậy trời, thiếu thì bảo thiếu chứ...」

Đường Nan Nhi nhét tọt miếng bánh "láo toét" còn lại vào miệng.

A Thanh nhìn cảnh đó, thầm nghĩ: Ừm, chắc là đói lắm. Thế thì lúc nãy ăn trưa nhiều vào chứ.

「Tiểu thư, nhìn kìa. Con cá chép to bằng bắp tay luôn.」

「Ồ, thật á? Oa, to thật. Hầm kỹ chắc ngon lắm. Hơi nhiều xương tí nhưng canh cá chép, ừm, canh cá chép cũng ngon.」

「......?」

「......?」

「A, Đại tỷ! Tỷ thấy cái đình kia không? Đó chính là Tôn Vũ Đình! Là nơi Tôn Vũ – tác giả Tôn Tử Binh Pháp – đã huấn luyện binh sĩ nước Ngô đấy ạ!」

「Tôn Tử đó hả? Thật á?」

「Vâng ạ! Nước Ngô có thể xưng bá thiên hạ không phải nhờ tài năng của Hạp Lư, mà là nhờ hai vị trọng thần: Danh tướng Ngũ Tử Tư và Đại tướng quân Tôn Vũ. Điều này chứng minh hưng vong của một quốc gia phụ thuộc vào việc dùng người tài, như Quản Trọng nước Tề, Tiên Chẩn nước Tấn, Tôn Thúc Ngao nước Sở, Phạm Lãi nước Việt, Bách Lý Hề nước Tần và còn...」

「Đằng kia có bán đấy. Ăn đi này.」

「Hả, Sơn đệ? Lại gì nữa đây? Cho ta ăn á? Ui cha, Sơn à, sao tự nhiên ngoan đột xuất thế?」

「Hừ. Ta chưa bao giờ để ngươi đói khát cả.」

「Cũng đúng. Hí hí, cảm ơn nhé.」

Dù sao thì chuyến tham quan Hổ Khâu cũng rất vui.

Với đội hình này thì chẳng cần Hổ Khâu, đi dạo ngoài đường cũng vui, nhưng mà kéo dài thêm một ngày cũng đáng đồng tiền bát gạo.

Và cuối cùng là Thử Kiếm Thạch!

A Thanh nghĩ nếu cứ bảo ở lại chơi một ngày thì kiểu gì cũng có người nghi ngờ.

Thế là trong mớ kiến thức tạp nham của Gia Cát Lý Huyền – cái tên mà nếu để yên thì có thể huyên thuyên suốt mười ngày mười đêm không nghỉ...

Nhắc mới nhớ, sao dạo này Gia Cát nói nhiều thế nhỉ? Hồi trước đâu đến mức này, giờ thì lẽo đẽo theo sau làm thuyết minh viên luôn.

...A Thanh đã tìm ra một cái cớ hoàn hảo.

Đó chính là Thử Kiếm Thạch.

Thử Kiếm Thạch, đúng như tên gọi, là tảng đá dùng để thử kiếm.

Đây là nơi thử nghiệm thanh Mạc Tà – một trong cặp phu thê kiếm Can Tương và Mạc Tà lừng danh thiên hạ.

Ngô Vương Hạp Lư – người sưu tập được ba ngàn thanh bảo kiếm – có lòng tham vô đáy với kiếm. Ông ta triệu tập thợ rèn Can Tương đến và ra lệnh rèn thanh kiếm tốt nhất từ nguyên liệu tốt nhất.

Can Tương từng học nghề rèn sắt cùng Âu Dã Tử, nên Hạp Lư tin rằng ông ta làm được.

Can Tương đã rèn ra kiếm.

Trong quá trình đó có sự giúp sức của thê tử là Mạc Tà. Tùy theo dị bản từng vùng, có nơi bảo bỏ tóc Mạc Tà vào lò, có nơi bảo Mạc Tà nhảy luôn vào lò như chuông Emille.

Kết quả là hai thanh kiếm ra đời.

Lấy tên hai phu thê đặt cho kiếm, cặp song kiếm huyền thoại Can Tương - Mạc Tà ra đời từ đó.

Tuy nhiên, Can Tương chỉ dâng thanh kiếm Mạc Tà cho Hạp Lư.

Bởi ông linh cảm được cái chết của mình.

Ngô Vương Hạp Lư cầm lấy Mạc Tà, cảm thán trước lưỡi kiếm lạnh lẽo sắc bén, liền vung kiếm chém thử vào tảng đá.

Tảng đá bị chém ngọt xớt, còn Mạc Tà không hề mẻ một miếng nào, quả xứng danh thiên hạ đệ nhất kiếm.

Tảng đá bị chém đó chính là Thử Kiếm Thạch.

Vậy nên việc A Thanh muốn đi xem Thử Kiếm Thạch cũng chẳng có gì lạ.

Kiếm sĩ muốn xem vết tích của kiếm thì có gì lạ đâu.

Vì A Thanh là người từng nhìn vách đá Tuyệt Kiếm Bích mà ngộ ra chiêu thức, nên hắn rủ rê cả đám bằng hữu đi cùng: "Biết đâu lại ngộ ra được gì đó, đi nào các huynh đệ, tay trong tay vượt qua bức tường".

Và cuối cùng A Thanh cũng nhìn thấy vết chém đó.

Công Tôn Yêu Nghệ tò mò hỏi nhỏ:

「Tây Môn tiểu thư? Thế nào ạ? Tỷ có cảm nhận được tâm tượng gì không...?」

「Hử? Chỉ là tảng đá thôi mà?」

Đương nhiên chỉ là đá thôi.

Thử Kiếm Thạch cái khỉ mốc. Chỉ là tảng đá bị nứt thôi chứ gì?

「Chỉ là đá ư? Kiếm Hữu! Huynh không thấy vết cắt sắc bén này sao!? Quả nhiên là Mạc Tà, thế gian có vô số bảo kiếm nhưng đỉnh nhất chỉ có một cặp Can Tương - Mạc Tà. Nhìn cái nhuệ khí không hề phai mờ theo năm tháng này xem!

Ôi, được nhìn thấy một lần đúng là chết không hối tiếc! Đúng lúc Kiếm Hữu đang có ý định dùng song kiếm, ta cứ nghĩ trời cao sẽ mở đường cho huynh chạm đến hai thanh thần kiếm này, nhưng mà vết kiếm này, thực sự, quá cảm động!」

Nam Cung Thần Tài làm quá lên.

Nhưng với A Thanh thì nó vẫn chỉ là tảng đá nứt.

Làm quái gì có chuyện kỹ thuật lạc hậu của người nguyên thủy cách đây hai ngàn năm rèn được thanh kiếm chém đá như chém bùn.

Kể cả là danh kiếm thật đi nữa thì cũng thế thôi.

Việt Nữ Kiếm – võ công đầu tiên của Trung Nguyên – xuất hiện vào thời Phù Sai, con trai của Hạp Lư.

Tức là cái thời Hạp Lư chém đá thì khái niệm võ công còn chưa ra đời ở cái chốn Trung Nguyên mông muội này, thì làm sao chém ra vết tích chứa đựng ý niệm gì được.

Nên A Thanh nhận ra ngay Thử Kiếm Thạch chỉ là cú lừa, một chiêu trò câu khách du lịch.

Thay vào đó, A Thanh hiểu rất rõ lý do nước Ngô diệt vong.

Ngô Vương Hạp Lư sau khi có được Mạc Tà đã nghĩ: Nếu để tên thợ rèn này sống, hắn có thể rèn ra thanh kiếm khác giống thế này!

Bảo kiếm chỉ là nhất khi nó là duy nhất, nếu có nhiều cái thì không còn là nhất nữa.

Thế nên phải giết tên thợ rèn này.

Một tư duy thật sự tởm lợm, và vì không ai can ngăn vua nên ông ta làm thật.

Đến lúc chết ông ta còn tệ hơn.

Ba ngàn thanh bảo kiếm không chia cho ai mà đòi mang theo xuống mồ, thế nên mới có cái Kiếm Trì kia.

Đúng là thiên hạ đệ nhất khốn nạn.

Và đối diện Kiếm Trì là một quảng trường rộng rải đầy những tảng đá màu đỏ, gọi là Thiên Nhân Thạch.

Hạp Lư chết, con trai là Phù Sai xây lăng mộ cho cha ở Hổ Khâu.

Sợ bị trộm mộ, Phù Sai đã dốc toàn lực để giấu kín vị trí lăng mộ.

Khi công trình hoàn thành, hắn mở tiệc chiêu đãi tất cả công nhân để "cảm ơn", rồi... giết sạch.

Máu nhuộm đỏ cả quảng trường, người ta bảo Thiên Nhân Thạch có màu đỏ là do máu và oán khí của những người thợ đó không tan đi được.

Sử sách ghi là mười vạn người, nhưng con số đó hơi điêu.

Dù sao thì, để bảo vệ cái xác của ông phụ thân đã chết, thay vì ban thưởng cho những người dân bị bóc lột, hắn lại giết sạch để bịt đầu mối.

Con của kẻ khốn nạn quả nhiên cũng là kẻ khốn nạn.

Vua trước khốn nạn, vua sau cũng khốn nạn.

Thảo nào mất nước là phải.

Theo truyền thuyết, Cửu Thiên Huyền Nữ đã hiện thân xuống nước Việt để dạy binh pháp cho quân đội nước Việt cũng vì lý do này.

Là ý trời muốn tiêu diệt cái nước Ngô do lũ khốn nạn cai trị.

Đêm đầu tiên ở Tô Châu

 A Thanh ngủ cùng Nan Nhi và Y Lý.

Đêm thứ hai ngủ với Yêu Nghệ và Mộ Dung tiểu thư.

Và đêm thứ ba lại quay về ngủ với Nan Nhi và Y Lý.

Nhưng khổ nỗi con bé Nan Nhi mãi không chịu ngủ.

Đến lúc mãi mới ngủ, tay ngừng sờ soạng, thở đều đều khò khò rồi, thì thính giác của nó lại nhạy kinh khủng.

Chỉ cần A Thanh động đậy là nó tỉnh dậy ngay như ma làm: "Ơ, Thanh A? Đi đâu đấy? Đi vệ sinh à?".

So với nó, Công Tôn Yêu Nghệ và Mộ Dung Chu Hy thì chỉ cần lẻn ra, ghép hai đứa lại là chúng nó tự động ôm nhau ngủ say sưa, đúng kiểu "say giấc nồng".

Cho nên, phải làm thế này.

A Thanh trườn ra khỏi giường như một con rắn, ngắm nhìn hai khuôn mặt đang ôm nhau ngủ ngon lành với nụ cười dịu dàng.

A Thanh cũng mỉm cười.

Và thế là, đêm khuya. A Thanh lặng lẽ mặc y phục, biến mất khỏi khách sạn không một tiếng động.

Như Lý Bạch từng than thở về con đường độc hành.

Độc đạo hành, độc đạo hành

Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!