Quân đội đang canh cẩn mật bãi đậu xe thì một chiếc xe van lạ lùng, trên thân chạm khắc những hoa văn quái đản, lừ lừ tiến vào. Trên nóc xe, người ta thấy những dòng chữ Phạn uốn lượn đầy bí hiểm.
Cánh cửa xe vừa mở, cô trợ tá đã lao xếch ra, vừa chạy về phía chúng tôi vừa gào lên thất thanh:
"Tiền bối! Em đến rồi đây!!"
"Được rồi, tôi nghe thấy rồi, đừng có gào toáng lên thế."
Nhìn cái dáng vẻ hớt hải quen thuộc của cô nàng, tôi không kìm được mà nhếch môi cười nhẹ. Vì thời gian chẳng còn bao lâu, tôi đã phó thác cho cô vài việc hệ trọng. Giữa cái lịch trình căng như dây đàn ấy, cách cô nàng xoay xở quả thực khiến người ta phải nể phục.
Cánh cửa khoang chứa đồ của chiếc xe van vừa hé mở, một mùi máu tanh nồng bỗng chốc sực nức, xộc thẳng vào mũi. Bước ra với những nhịp chân nặng nề như đổ chì là một gã khổng lồ mang hình hài vĩ đại đến mức khó tin. Gã to lớn đến độ chẳng thể nhét vừa cái ghế nào, mà phải nằm gọn trong khoang chứa hàng rộng hoác.
Gã cao ngót nghét ba mét. Nhưng điều khiến người ta kinh hãi hơn cả là những khối cơ bắp cuồn cuộn, trương phồng trên khắp cơ thể. Dù mang một hình thể lực lưỡng như hộ pháp, nhưng gương mặt đầy những nếp nhăn nhúm lại phản quất cái vẻ già nua của một lão trượng.
"Lão già dạo này xem chừng lại 'nở' ra hơn trước thì phải."
Tay phải lão lăm lăm một cây trượng dài, tay trái ôm khư khư một cuốn thư tịch cổ, cổ đeo tràng hạt lỉnh kỉnh. Cách phục sức ấy khiến lão trông như một nhà sư, nhưng thực chất lão chẳng có chút duyên nợ nào với cửa Phật. Thậm chí, nhìn vào những cây đinh dài đóng chi chít trên mặt lão, chẳng ai dám coi lão là một bậc tu hành. Lão đã tự tay đóng đinh vào đôi nhãn cầu của mình trong hành trình tuyệt vọng đi tìm đứa con gái thất lạc.
Tôi dẫn lão trượng đến một nơi kín đáo để nghỉ ngơi.
"Lão ngồi đây đợi một lát nhé."
"Đã rõ."
Lão là một trong những quân cờ then chốt cho kế hoạch sắp tới của tôi. Có thể coi lão như một tấm bùa bảo hiểm trong trường hợp cuộc tìm kiếm rơi vào bế tắc. Vật thể mà lão sở hữu – "Dự ngôn thư" (Cuốn sách tiên tri) – là một thứ cực kỳ nguy hại khi sử dụng, vậy mà lão vẫn chẳng chút ngần ngại khi nhận lời tôi. Có lẽ, lão làm vậy để đáp lại cái ân tình năm xưa khi tôi giúp lão tìm kiếm tung tích con gái mình.
Năng lực của "Dự ngôn thư" rất giản đơn: nó có thể chỉ ra vị trí của các vật thể ở gần. Trong một không gian chật hẹp như thế này, nó chính là một bảo vật không gì sánh bằng. Khốn nỗi, cái giá phải trả là lão phải hủy hoại đôi mắt bằng đinh sắt, chưa kể đến những tác dụng phụ quái ác đã biến lão thành một kẻ mang hình hài quái vật như hiện nay.
Tôi vẫn thường khuyên lão hãy buông bỏ cuốn sách ấy nếu còn muốn kéo dài hơi tàn, nhưng lão nào có nghe. Tất nhiên, lời khuyên của tôi cũng chẳng mấy sức nặng khi mà chính tôi vẫn đang mang theo Watson bên mình.
"Dự ngôn thư" dù có phần kém cạnh khi đặt lên bàn cân với Watson, nhưng nó là thứ không thể thiếu để giải quyết vụ này. Tôi có thể hỏi Watson để biết câu trả lời ngay lập tức, nhưng bản năng mách bảo tôi rằng tuyệt đối không được cầu xin sự giúp đỡ ấy. Tôi cảm thấy một nỗi bất an rợn người: nếu nhờ Watson giải quyết vụ này, một điều gì đó còn kinh khủng hơn cả cái chết sẽ xảy ra.
Sau đó, thêm nhiều người nữa lục tục kéo đến. Từ những tay làm nghề tự do chuyên săn Vật thể ở Rừng Seoul để lấy tiền thưởng, cho đến đội tìm kiếm chuyên nghiệp của Viện Nghiên cứu. Tôi huy động tất thảy những mối quan hệ mà mình có thể chạm tới. Chỉ tiếc là không thể gọi gã mặc đồ đen từ đội điều tra Viện Trung ương, nghe đâu dạo này gã đang bận túi bụi với những cuộc điều trần.
Kế hoạch chia làm hai ngả: Kế hoạch A là cuộc tìm kiếm của các chuyên gia, và Kế hoạch B là sử dụng Vật thể.
Kế hoạch A, cuộc sục sạo công khai vào lòng trại tị nạn, khả năng thất bại là mười mươi, nhưng tôi vẫn phải thực hiện như một thủ tục cần thiết. Nếu họ trắng tay, tôi sẽ phải chuyển sang Kế hoạch B. "Dự ngôn thư" chắc chắn sẽ tìm ra món đồ ấy, bởi tầm hoạt động của nó bao phủ được toàn bộ trại tị nạn.
Nhưng ngộ nhỡ vẫn không tìm thấy thì sao? Liệu tôi sẽ phải đứng nhìn mưa tên lửa trút xuống, hay lại phải tìm đến sự cứu giúp đầy nghi hoặc từ Watson?
Đứng từ trên đỉnh bức tường thành cao ngất nhìn xuống trại tị nạn. Trước khi hỏa lực dội xuống, tôi phải chiếm quyền kiểm soát nơi này và tìm ra Vật thể đã sinh ra lũ bướm. Nhưng chỉ nhìn thôi đã thấy cái độ khó của nhiệm vụ này không hề nhỏ.
"Oa, kia là trại tị nạn sao? Người ta đứng ở đó như lính canh gác vậy."
"Đó mới là vấn đề. Rất khó để xâm nhập."
Nếu tôi gây ra náo loạn, lũ phóng viên của tờ "Nhật báo Vật thể" đang chực chờ quanh đây sẽ lao tới như diều hâu gặp xác chết mà chụp ảnh loạn xạ. Để tránh những cái tít gây sốc như "Cưỡng chế trại tị nạn", "Áp chế quyền lực nhà nước", tôi buộc phải hành động thật êm và thật nhanh.
Kế hoạch 0: Khống chế toàn bộ người trong trại nhanh nhất có thể.
Kế hoạch A: Cho đội điều tra sục sạo bên trong.
Kế hoạch B: Nhờ lão trượng dùng "Dự ngôn thư" định vị mục tiêu ngay trung tâm trại.
"Vậy nếu Kế hoạch 0 đổ bể, chúng ta bó tay sao anh?"
Cô trợ tá vừa nhìn bản đồ tác chiến vừa trầm ngâm suy nghĩ.
"Nhưng tiền bối này, sao mình không bắn bỏ hết đi? Anh nói là đằng nào cũng chẳng còn ai sống sót mà? Có binh lính ở đây, cứ xả súng là xong hết!"
Cô nàng lại bắt đầu thốt ra những ý tưởng điên rồ.
"À! Dùng súng thì tiếng ồn sẽ kéo lũ phóng viên đến mất! Mà đám binh lính cũng nói là họ không biết rõ chi tiết mà phải không? Hừ, tính sao đây? Không còn cách nào khác à?"
Rõ ràng Tử thần Xám có cách để áp chế lũ bướm, nhưng nhìn cái trại vẫn im lìm thế kia, có lẽ cần một khoảng thời gian dài để em ấy phát huy tác dụng. Hay là Tử thần cần phải trực tiếp ra tay? Cái việc không thể giao tiếp này thực là phiền phức quá đỗi.
Mà nhắc mới nhớ, Tử thần Xám vừa ở đây giờ đã biến đâu mất rồi?
Góc nhìn của Tử thần Xám (MC):
Xem chừng mấy gã thám tử này chẳng thể giải quyết nổi vấn đề nếu thiếu sự ra tay của tôi. Nếu rắc rối ở Viện Trung ương mang tên "Lophiomus", thì lần này chính là "lũ người nhiễm bướm".
Tôi biết thừa kẻ thù trước mắt không còn là người, nhưng vì chẳng thể chứng minh, tôi vẫn phải đối xử với chúng như con người – một tình cảnh thực là tréo ngoe. Nghe mấy gã thám tử và cô trợ lý bàn bạc những chuyện vô thưởng vô phạt, tôi chợt nảy ra một ý định.
Phải rồi, cứ thổi bay tất cả là xong. Chuyện này chẳng khó khăn như lúc đấu với Lophiomus. Lũ người nhiễm bướm kia chỉ cần chạm nhẹ là sẽ vỡ tan tành. Nghĩ theo hướng ấy, cái bức tường bao quanh kia hóa ra lại có cái công dụng riêng của nó.
Sau khi xuyên qua bức tường bằng trạng thái hư ảo, thứ tôi tìm thấy ở cuối con đường là một kẻ coi như đã chết, đang nôn ra từng búng máu tươi. Hình như người ta gọi gã là phóng viên tờ "Nhật báo Vật thể" thì phải? Gã lẩm bẩm cái gì đó, nhưng ai mà thèm quan tâm.
Lũ người nhiễm bướm đang vây quanh gã phóng viên, mải mê tiếp tế những cánh bướm đen cho gã. Người đàn ông với lớp da đã nhăn nheo như tấm da thuộc bỗng chốc trương phồng trở lại, hiện nguyên hình hài con người.
Hành vi của lũ bướm lần này dường như có chút khác biệt so với lúc ở Viện Trung ương. Chúng tinh khôn hơn và cũng đáng sợ hơn nhiều. Tốc độ "ăn tươi nuốt sống" một con người cũng tăng lên đáng kể. Lũ bướm dường như chẳng mấy bận tâm đến tôi, cứ như đây là lần đầu chúng thấy sinh vật này vậy.
Tôi mỉm cười, tiến lại gần rồi vỗ nhẹ vào chúng một cái. Chúng vỡ tung như những quả bóng nước. Tại nơi con người vừa nổ tung, chỉ còn sót lại những mảnh da thịt vụn nát, đẫm máu. Lũ người nhiễm bướm bắt đầu nhận ra tình hình, chúng hốt hoảng tủa ra chạy trốn khắp mọi phía.
Giờ thì, bắt đầu trò chơi đuổi bắt thôi nào!
Góc nhìn của một kẻ giấu mặt (???):
Á á á á!
Một tiếng thét thất thanh vang lên từ góc xa của trại tị nạn. Tôi vội lấy hai tay bịt chặt miệng, hít thở thật khẽ. Tuyệt đối không được để bị phát hiện. Tuyệt đối không. Nếu bị bắt gặp, tôi sẽ lại biến thành bướm mất.
Sột soạt, sột soạt.
Tiếng đế giày mềm mại chậm rãi dẫm lên bãi cát khô khốc bên ngoài truyền vào tai tôi.
"Ư..."
Tôi giật mình đến mức suýt thì nín thở. Rõ ràng là tiếng động từ đằng xa, nhưng sao nghe lại gần đến thế!
Cộc, cộc, cộc.
Một tiếng gõ cửa nhỏ nhẹ, nghe có vẻ rất đáng yêu vang lên.
Cộc, cộc, cộc, cộc, cộc.
Tiếng gõ dồn dập hơn, tim tôi như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Tôi nín thở, thầm cầu nguyện cho Tử thần hãy đi qua đây mà không dừng lại.
Rầm-!
Vách tường công-te-nơ bị đâm thủng, một cánh tay nhỏ nhắn của Tử thần thò vào bên trong.
"Á á á!"
Rầm-! Rầm-! Rầm-!
Vách tường liên tục bị xuyên thủng, những cánh tay của Tử thần cứ thế mọc ra khắp nơi. Tôi chỉ biết gào thét trong tuyệt vọng, cả người run cầm cập. Một lỗ hổng lớn bị xé toạc, và gương mặt của Tử thần hiện ra.
Đó là một khuôn mặt đáng sợ với đôi nhãn đồng rực rỡ sắc kim. Gương mặt ấy không chút biểu cảm, nhưng với tôi, nó như đang reo hò: "Tìm thấy ngươi rồi!"
"Á á á! Xin hãy cứu tôi với!"
Tôi nghiến răng, điên cuồng chạy trốn. Nhưng cái trại tị nạn này là một không gian khép kín, tứ bề là tường cao hào sâu. Chẳng có nơi nào để trốn chạy khỏi con quái vật ấy cả. Cuối cùng, tôi bị bắt kịp, hóa thành một cánh bướm đen, trơ mắt nhìn da thịt mình tan rã thành một vũng huyết nhục nồng nặc mùi tanh.
Công việc gác cổng dạo này vốn dĩ khá thong thả, nhưng lại đầy rẫy những chuyện quái đản. Việc phong tỏa hoàn toàn cái trại tị nạn của thường dân bằng những bức tường thép và giám sát chặt chẽ đã là một chuyện lạ lùng. Mà cái sự yên bình giả tạo này, bất chấp những lời cảnh báo nghiêm ngặt, lại càng khiến người ta thấy bất an.
Như mọi khi, khi tôi vừa rời tháp canh để cùng đồng đội nấu bát mì gói ăn đêm, một âm thanh lạ lùng bỗng vang lên.
"Mở cửa ra! Mở ra ngay đi! Quái vật... có quái vật đang đến kìa! Làm ơn mở cửa nhanh lên!"
Một cư dân trong trại đang đập cửa sắt rầm rầm, gào thét với chúng tôi. Theo những gì tôi được quán triệt khi nhận ca, những nỗ lực đào thoát kiểu này xảy ra như cơm bữa. Họ cố tình gây chú ý để chúng tôi mở cổng, rồi sau đó sẽ ùa ra để trốn thoát. Vì thế, chỉ thị là mặc kệ mọi âm thanh phát ra từ bên trong.
Nhưng điều lạ lùng là, thường thì họ sẽ lấy cớ có người bệnh, đằng này lại là "quái vật"? Thật là một cái cớ nực cười. Tiếng đập cửa thưa dần, rồi im bặt.
"Đúng là chẳng có chuyện gì nghiêm trọng nhỉ?"
Tôi quay sang định nói với anh bạn đồng nghiệp, nhưng chẳng thấy tiếng đáp lời. Ngoảnh đầu lại, tôi thấy anh ta mặt mày tái mét, miệng há hốc, tay run rẩy chỉ về phía cánh cổng sắt.
Nhìn theo hướng ngón tay anh ta, một dòng huyết dịch đặc quánh, tanh nồng đang không ngừng chảy tràn qua khe cửa sắt vốn dĩ được đóng chặt bưng.
0 Bình luận