Vol 3: Triều Dâng Dưới Vầng Trăng Đen – Phần Trung

Chương 9: Thần Quốc - Phần 1-2-3-4-5

Chương 9: Thần Quốc - Phần 1-2-3-4-5

Phần 1:

Ngay khoảnh khắc cửa thang máy khép lại, màn hình hiển thị tầng bỗng nhiên tắt ngúm.

Toàn bộ các nút bấm tầng đều mất hiệu lực, phía trên cửa chỉ còn hai chữ đỏ rực “Thần Đạo” sáng lên.

Hàng lông mày dài của Sở Tử Hàng khẽ run.

Những thùng tài liệu này đáng lẽ được vận chuyển tới một nhà kho nào đó trong nội khu, nhưng chưa từng có ai nhắc đến “Thần Đạo”.

Mà thứ gọi là Thần Đạo, không nên tồn tại trong một tòa cao ốc hiện đại.

Cái gọi là Thần Đạo, trên thực tế có cùng ý nghĩa với Quỷ Đạo, đó là con đường dẫn tới mồ mả.

Người xưa Trung Hoa từng nói:

“Trước mộ mở đường, dựng trụ đá làm mốc, gọi là thần đạo.”

Trong quan niệm cổ nhân, một khi bước lên con đường dẫn tới đại mộ ấy, tức là đã đặt chân vào cõi u minh.

Hai bên Thần Đạo, tượng người đá, ngựa đá đều là tùy tùng của mộ chủ.

Điểm cuối của con đường ấy thường là một cánh cổng đỏ, dẫn vào âm điện, nơi tế tự người đã khuất.

Nếu hiểu theo nghĩa Nhật Bản, Thần đạo là quốc đạo của Nhật, trong các đền thần thường thờ phụng những tồn tại lưng chừng giữa thần và quỷ.

Trong thang máy lan tỏa một bầu không khí thần bí khác thường.

Sở Tử Hàng khẽ kéo thấp vành chiếc mũ quân màu đen, che khuất đôi mắt.

Cửa thang mở ra, mùi hương liệu bị đốt cháy ập thẳng vào mặt.

Trong bóng tối chỉ có một lối đi mờ mờ phát sáng, hai bên đặt những ngọn nến chén màu đỏ.

Sở Tử Hàng kinh ngạc nhận ra mình đang đứng trong một không gian giống hệt chùa chiền.

Lối đi xuyên qua bên dưới một cổng Torii cao 3-4m, lớp sơn chu sa trên đó đã bong tróc, lộ ra sắc gỗ đỏ sậm nguyên thủy.

Rõ ràng đây là một cổ vật có niên đại lâu đời, vốn được dựng ngoài trời mưa gió, sau đó bị tháo rời rồi dời nguyên bản vào Tập đoàn Genji để lắp lại y hệt.

Không gian tĩnh lặng đến tuyệt đối, không một tiếng người.

Sở Tử Hàng điều chỉnh lại chuôi katana giấu trong áo khoác, để có thể rút ra nhanh nhất.

Anh nhanh tay chuyển toàn bộ thùng tài liệu ra khỏi thang máy, rồi ôm lấy một thùng, chậm rãi tiến về phía trước.

Trong bóng tối sừng sững những tượng gỗ cao lớn.

Trước tượng treo những tấm voan mỏng, lờ mờ hiện ra hình dáng Kim Cang hoặc ác quỷ, trên thân quấn dây thừng vàng nhạt.

Trong Thần đạo, có một loại dây thừng linh thiêng gọi là shimenawa, trên đó treo những dải giấy shide.

Nó vừa là dấu hiệu của thần thánh, vừa mang ý nghĩa phân định và phong ấn.

Thần xã Nhật Bản không chỉ thờ những vị thần hiền hòa.

Ở đó còn tồn tại vô số thực thể kỳ dị, nửa thần nửa quỷ, những vị thần mang bản chất song diện, có thể ban phúc, cũng có thể giáng họa nếu bị quấy nhiễu.

Các thần quan quấn shimenawa quanh cây cổ thụ, tảng đá, tượng đất hay tượng gỗ, không hẳn để tôn thờ, mà để trấn an và ràng buộc.

Đó là cách con người vạch ra ranh giới:

Nơi này thuộc về thần, và sức mạnh bên trong không được phép tràn ra ngoài, gây họa cho nhân gian.

Ánh nến yếu ớt khiến phần đầu các pho tượng đều chìm trong bóng tối, như thể đang cúi xuống quan sát kẻ bước vào, uy thế bức người.

Chung quanh bày đủ loại pháp khí tế lễ.

Trên những kiệu gỗ, bệ thờ được đặt trang trọng, bên trong là những cổ thần vô danh ngồi ngay ngắn.

Kiệu bị quấn kín bởi những sợi dây tím to bằng cổ tay, trông như cự long vây quanh ngai ngự của thần.

Nếu thang máy chính là Thần Đạo, thì lúc này Sở Tử Hàng đã bước vào “Âm điện”, nơi thờ phụng tổ tiên.

Phía trước lẽ ra phải là quan quách đặt thi thể.

Anh xuyên qua từng lớp rèm, cho đến khi một ngọn đèn trường minh rọi thẳng vào mắt.

Trước mặt là một bức bình phong khổng lồ.

Bình phong vốn thường được dựng sau cổng để che tầm nhìn, trong phong thủy còn có tác dụng tụ khí.

Bình phong thì không hiếm, nhưng cao lớn đến mức này thì chưa từng thấy, cao khoảng 4m, chạm trần, đỉnh mạ vàng, rộng hơn 10m.

Trên bức bình phong ấy, họa sĩ táo bạo sử dụng đỏ gỉ và  chàm làm chủ sắc.

Những cự nhân nửa người nửa rắn ôm chặt lấy nhau, đuôi dài quấn chồng.

Cự nhân nam uy mãnh dữ tợn, cự nhân nữ đoan trang hiền hòa.

Các yêu ma trong thần thoại Nhật Bản vờn quanh họ.

Sau lưng các cự nhân mọc ra vô số cánh tay, mỗi tay cầm vũ khí khác nhau, giao chiến với bầy yêu quái.

Đó là một tác phẩm đẹp đến mức khiến người ta rơi lệ.

Phẫn nộ khuynh thế, bạo lực khuynh thế, cái chết khuynh thế, yêu diễm khuynh thế, tất cả bị dung luyện trong nét bút, để cuối cùng hiện ra một nỗi bi thương khuynh thế.

Nhưng trên bình phong còn có thứ đáng sợ hơn cả nghệ thuật, máu.

Máu tươi đầm đìa, đỏ sệt, chậm rãi bò xuống, hệt như ai đó đã dội từng xô sơn đỏ lên bức tường.

Sở Tử Hàng từng đối mặt với những tử thị hung tàn nhất, từng chứng kiến hiện trường đẫm máu nhất, nhưng chưa bao giờ thấy cảnh tượng nào khủng khiếp đến thế.

Trong cơ thể một người trưởng thành chỉ có khoảng 5 lít máu.

Dù bị thương nặng đến đâu, lượng máu chảy ra cũng có hạn.

Sau khi tim ngừng đập, máu không còn được bơm tuần hoàn mà dần ứ lại và đông trong hệ mạch.

Nhưng lượng máu trên bức bình phong này đủ để sơn lại cả bức tường.

Phải chết bao nhiêu người mới có thể như vậy?

Và cần thủ đoạn tàn nhẫn đến mức nào, mới khiến máu của họ bị bơm ra gần như toàn bộ trước khi tim ngừng đập, văng khắp nơi?

Sở Tử Hàng tháo kính áp tròng.

Đôi mắt hoàng kim bùng sáng trong bóng tối.

Anh ném thùng tài liệu xuống đất, rút kiếm dài.

Lãnh địa Ngôn Linh · Quân Diễm mở rộng, lưỡi kiếm dưới nhiệt độ cao phát ra ánh sáng nửa đỏ nửa đen.

Máu vẫn còn đang chảy, chứng tỏ cuộc thảm sát vừa kết thúc không lâu.

Khả năng rất lớn là hung thủ vẫn còn ở trong không gian này.

Đến lúc này, che giấu thân phận đã không còn ý nghĩa gì nữa, sống sót mới là chân lý.

Người đến đây cuối cùng hẳn là Caesar.

Anh ta rõ ràng không phải kẻ cuồng sát.

Sở Tử Hàng chỉ mong Caesar không nằm trong số những người đã chết.

Vòng qua bình phong, anh bước vào tầng sâu nhất.

Theo trình tự Thần Đạo rồi đến bình phong, nơi này chính là Âm điện đặt quan tài.

Ánh kiếm mờ chiếu lên gương mặt nghiêng của anh, đôi mắt hung lệ trong bóng tối.

Mùi máu tanh nồng xộc thẳng vào mũi, trước đó đã bị hương liệu che lấp.

Dưới chân là một lớp chất lỏng mỏng tràn sát sàn, giẫm lên dính nhớp. Không

cần nói cũng biết đó là máu tươi chưa đông.

Nếu bật đèn, sàn nhà hẳn đã đỏ rực.

Thi thể nằm la liệt khắp nơi, vây quanh những núi thùng tài liệu.

Tất cả đều mặc áo khoác đen.

Họ là cán bộ của Cục Chấp Hành, tinh anh hàng đầu.

Trong lúc vận chuyển tài liệu thì bị tập kích.

Vết thương cực lớn xuyên thẳng tim.

Động mạch chủ bị chém đứt, đó là mạch chủ dẫn máu từ tim đi khắp cơ thể, nên trong nhịp tim cuối cùng, máu bị bơm ra ngoài dữ dội như vỡ đập, huyết áp sụp đổ chỉ trong chớp mắt.

Sở Tử Hàng tra kiếm vào vỏ, quỳ xuống bên một thi thể, cố gắng phán đoán hung khí.

Nhưng anh không thể xác định.

Vết thương lớn đến mức phi lý, hung khí chém từ vai xuống, dừng lại ở tim, suýt chặt đứt cả vai lẫn cánh tay.

Đây không thể là vết thương do kiếm gây ra.

Trong toàn bộ lịch sử vũ khí loài người, thứ gần nhất có lẽ là rìu phóng đại gấp ba, nhưng lưỡi của nó lại có răng cưa.

Tóm lại, đó là một thứ rìu cưa kỳ dị, lưỡi dài 3 thước, nặng hơn 30kg, vậy mà bị vung lên như gió, điều này hoàn toàn phi thực tế, trừ khi một con Troll trong World of Warcraft giáng lâm nhân gian.

Caesar đang ngồi xổm ở phía đối diện thi thể.

Có anh ở đây, Sở Tử Hàng không cần lo bị tập kích bất ngờ.

Dưới trạng thái gia trì của “Kamaitachi”, gần như không ai có thể đánh lén Caesar, anh chính là radar sống.

“Thế này là sao?”

Caesar bịt mũi, “Xuyên thấu? Xé rách? Hay nổ tung? Hay là… ‘bị rồng khổng lồ cắn một phát’?”

Lời Caesar nói cũng có lý.

Những người này rất có thể đã bị một sinh vật khổng lồ với cái miệng rộng hơn 1m cắn chết, mà răng của sinh vật ấy hẳn phải xếp khít như lưỡi cưa.

“Khi tôi tới, nhiệt độ cơ thể của họ vẫn như người sống,” Caesar nói.

“Nói cách khác, kẻ giết người chỉ vừa rời khỏi đây vài phút trước. Nếu tôi đến sớm hơn vài phút… chắc giờ đã chết rồi.”

“Từ hiện trường, anh đã nhìn ra được gì?”

Sở Tử Hàng hỏi.

“Rất nhanh. Toàn bộ quá trình không quá 10 giây,” Caesar đáp.

“Tất cả bọn họ đều mang súng, vậy mà từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc thảm sát, không một ai kịp rút súng. Trong số những người tôi biết, chỉ có một kẻ làm được tốc độ như vậy, hiệu trưởng.”

Sở Tử Hàng đồng tình với phán đoán ấy.

Nếu đến sớm hơn vài phút, cả hai bọn họ đều sẽ chết.

Dù anh có Ngôn Linh · Quân Diễm, nhưng trước tốc độ có thể sánh ngang Anjou, anh căn bản không kịp kích hoạt ngôn linh, cũng không kịp bộc huyết, đã vì mất máu mà ngất đi.

Khả năng sống sót của Catcó thể cao hơn một chút, nhưng bị giết gần như là điều chắc chắn.

Anh có thể phát hiện đòn tấn công từ sớm, nhưng không đủ sức chống lại một đối thủ nhanh đến mức đó.

Giống như lời trong một quyển tiểu thuyết võ hiệp từng nói:

Thiên hạ võ công, không gì không phá, chỉ có nhanh là vô địch.

“Rốt cuộc là kẻ nào dám tàn sát Cục Chấp Hành ngay trong tổng bộ của Bát Gia Jaki?”

Sở Tử Hàng hỏi.

“Có lẽ là một kẻ yêu nghệ thuật,” Caesar nhún vai.

“Đưa tôi cái đèn pin.”

Anh bật đèn pin, giơ cao quá đầu, men theo sát tường mà đi.

Những bức bích họa dữ dội và rực rỡ lần lượt được soi sáng, như thể một cuộn sử dài đang chậm rãi mở ra trước mắt họ.

Cũng giống như bức bình phong ban nãy, trên tường phủ kín màu đỏ gỉ và chàm.

Những sinh vật cổ xưa nửa người nửa rắn xếp thành một đoàn tế lễ dài đến mức không thấy điểm cuối.

Kẻ giơ cao đuốc lửa, kẻ cầm trượng dài, kẻ khác lại cưỡi rồng hai cánh mọc sau lưng.

Đoàn tế lễ nhảy múa quanh một hố sâu khổng lồ, trong hố nằm một bộ xương to lớn.

Họa sĩ dùng vàng thật nung chảy để vẽ bộ hài cốt ấy, mắt trái là mặt trời, mắt phải là mặt trăng.

Sở Tử Hàng đứng dưới bích họa, ngẩng đầu nhìn lên, rất lâu không nói được lời nào.

Chỉ riêng một bức tranh trên bình phong đã đẹp đến nghẹt thở, còn nơi này, hàng trăm bức cổ họa liền mạch đang cùng nhau phác họa nên một thế giới không sao tưởng tượng nổi.

“Nơi này chẳng có gì khác ngoài mấy thứ này,” Caesar nói.

“Cả đại điện trống rỗng này chỉ để trưng bày bích họa. Họ cần những bức tường đủ lớn, nên dọn trống nguyên cả một tầng lầu. Người Nhật mà đã xa xỉ thì đúng là… tàn nhẫn.”

Sở Tử Hàng đưa tay chạm nhẹ lên bích họa, đầu ngón tay dính lại một lớp bụi đỏ nhạt.

Anh đưa lên mũi ngửi thử:

“Sắc tố làm từ oxit sắt.”

Anh nhận lấy đèn pin từ tay Caesar, chậm rãi bước đi, xem hết bức này đến bức khác, không nói thêm lời nào.

“Nhìn ra được gì chưa?”

Caesar đi theo phía sau khá lâu, cuối cùng không nhịn được mà hỏi.

Cậu chủ nhà Gattuso chịu hạ mình làm “cái đuôi” của đối thủ truyền kiếp, chuyện này bình thường là không thể xảy ra.

Nhưng trong lòng Caesar thừa nhận, về kiến thức tích lũy, Sở Tử Hàng vượt xa anh.

Huống hồ anh quá tò mò về những bức bích họa này, nên cũng chẳng ngại hỏi.

“Giống như Bản Sinh họa trong Phật giáo,” Sở Tử Hàng trầm ngâm hồi lâu rồi nói.

“Nguyên bản chúng không được vẽ ở đây, mà là trên những bức tường vôi của một ngôi chùa cổ. Có người đã dùng keo và hóa chất, lột nguyên mảng bích họa khỏi bức tường mục nát, rồi chuyển chúng sang đây. Trong bảo tồn văn vật, cách làm này gọi là ‘chỉnh thể yết thủ’, yêu cầu kỹ thuật cực kỳ tinh vi.”

“Bản Sinh họa là gì?”

“Trong Phật giáo có một hình thức nghệ thuật tự sự đặc biệt gọi là Phật Bản Sinh họa. Đây là loại tranh kể lại những tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi Ngài còn tu hành trên con đường Bồ Tát đạo. Tranh thường không tồn tại đơn lẻ mà gồm nhiều bức hoặc nhiều cảnh liên hoàn trong cùng một bố cục, sắp xếp theo trình tự thời gian, nhằm truyền đạt các lý tưởng như bố thí, nhẫn nhục, xả thân và đại bi. Loại hình này đặc biệt phổ biến tại Đôn Hoàng, nơi các hang động Phật giáo lưu giữ mật độ lớn Phật Bản Sinh họa. Những đề tài nổi tiếng có thể kể đến như “Cắt thịt đổi chim bồ câu”, “Xả thân nuôi hổ”, “Cửu sắc lộc bản sinh”, đều là các bản sinh truyện kinh điển trong hệ thống Jakata, nhấn mạnh tinh thần hy sinh thân mạng vì chúng sinh của Bồ Tát. Xét về kỹ thuật hội họa, các Phật Bản Sinh họa này rất gần với tranh bích họa trong hang đá Đôn Hoàng. Chúng sử dụng hệ thống sắc tố khoáng tự nhiên như oxit sắt, bột lam ngọc, lục đồng, đôi khi pha bột mica để tạo hiệu ứng ánh sáng. Đây là kỹ pháp vẽ tranh thịnh hành trong mỹ thuật Phật giáo khu vực Trung Á Trung Hoa, phổ biến từ khoảng thế kỷ III–IV sau Công nguyên, gắn liền với quá trình Phật giáo truyền nhập và bản địa hóa tại Trung Quốc. Sử sách Trung Hoa ghi lại rằng vào thế kỷ III, nữ vương Yamatai từng nhiều lần phái sứ giả sang triều Ngụy. Rất có thể chính trong quá trình giao lưu này, kỹ pháp hội họa Phật giáo cùng mô thức tự sự bằng tranh đã được tiếp xúc, học hỏi và truyền bá, rồi dùng để vẽ những bích họa này.”

Sở Tử Hàng kết luận:

“Nói cách khác, tuổi đời của những bức tranh này đã gần 2.000 năm.”

“Tôi không hứng thú với giá trị nghệ thuật hay kỹ pháp hội họa,” Caesar nói thẳng.

“Tôi chỉ muốn biết vì sao chúng lại quan trọng đến mức Bát Gia Jaki sẵn sàng dành cả một tầng lầu để đặt chúng.”

Phần 2:

“Trong nhận thức của Phật đồ, Phật Bản Sinh họa là dòng chảy tái sinh của Bồ Tát trong vô số kiếp quá khứ, những kiếp sống nơi Ngài mang thân phận phàm trần, lấy khổ hạnh và hy sinh làm phương tiện, từng bước viên mãn Ba-la-mật, để cuối cùng chuyển sinh và chứng ngộ Phật quả với thân phận Thích Ca Mâu Ni. Còn những bích họa này…”

Sở Tử Hàng giơ cao đèn pin, ánh sáng quét khắp bức tường, “…tôi nghĩ đây chính là lịch sử chân thực trong lòng Bát Gia Jaki!”

Ánh đèn chiếu sáng toàn bộ bích họa.

Giữa đại dương mênh mông, rồng và rắn uốn lượn tung hoành.

Trên đại địa vươn lên những thành thị hùng vĩ, những con đường chằng chịt vắt ngang qua biển.

Trên bầu trời, rồng đen và rồng trắng song song lơ lửng, mỗi con vươn ra một cánh tay, cùng nắm lấy một cây quyền trượng bằng vàng.

“Hắc Vương… và Bạch Vương!”

Caesar im lặng rất lâu, rồi mới khe khẽ thốt ra mấy chữ ấy, giọng mỏng như hơi thở, tựa như sợ làm kinh động những quỷ thần đang ngủ yên trong lịch sử.

Chỉ nhìn bức đại họa trên bình phong lúc trước, anh vẫn còn hoài nghi rằng đây có thể chỉ là tác phẩm nghệ thuật mang tính tưởng tượng, trong thời đại mông muội, con người thường hình dung viễn cổ là thời kỳ thần và ma quỷ đại chiến, rồi từ phế tích sau chiến tranh mà các cổ quốc nhân loại ra đời.

Nhưng khi nhìn thấy bức họa này, anh đã hoàn toàn tán đồng phán đoán của Sở Tử Hàng:

Đây không phải là câu chuyện hư cấu.

Đây là lịch sử được ghi chép cách đây 2.000 năm, do một nhóm cổ nhân từng biết đến nền văn minh đã thất lạc lưu lại.

Ở Học viện Cassell, tồn tại một bộ lịch sử Long tộc mang tính suy luận, được tổng hợp từ các thần thoại ký sự, cố gắng loại bỏ tối đa trí tưởng tượng của con người để phục dựng “nền văn minh Long tộc chân thực”.

Bí Đảng tin rằng trong lịch sử Long tộc từng tồn tại một thời đại hoà bình huy hoàng.

Khi ấy, Hắc Vương với tư cách thủy tổ thống lĩnh quần long, còn Bạch Vương giữ vai trò tư tế, phụ trợ bên cạnh.

Trong thời kỳ song vương cộng trị ấy, ngay cả những con rồng hung bạo nhất cũng không dám dễ dàng khơi mào chiến tranh.

Uy nghiêm từ hai vương tọa đen và trắng ở phía Bắc đại địa lan tỏa khắp thế gian, khiến tầng lớp quý tộc Long tộc phủ phục dưới áp lực của quyền lực.

Thực chất, bức bích họa này chính là một tấm bản đồ.

Nó phác họa phạm vi lãnh thổ mà văn minh Long tộc từng bao phủ, thậm chí cả các tuyến giao thông huyết mạch, cùng những kẻ thống trị của thời đại ấy.

Những kết luận mà Bí Đảng phải nghiên cứu và tổng hợp suốt hàng nghìn năm, vậy mà đã sớm được trình hiện trên bích họa cổ của một ngôi chùa Nhật Bản.

“Anh thấy những dòng chữ nét nhỏ ở góc trên bên trái không?”

Sở Tử Hàng chỉ lên phía trên bức tranh.

“Đó là chữ triện Trung Hoa. Khoảng hai nghìn năm trước, khi tiếng Nhật vẫn chưa hình thành hệ thống văn tự bản địa dù ngôn ngữ nói đã tồn tại, các họa sư và tăng lữ buộc phải dựa vào chữ Hán du nhập từ Trung Quốc để ghi chép và chú giải. Trong bối cảnh tôn giáo nghi lễ, họ thường sử dụng những dạng chữ cổ, bao gồm cả chữ triện, bên cạnh các thể chữ Hán khác chưa hề thống nhất. Tên bức tranh này là 《Cổ Kham Dư》. ‘Kham dư’ ban đầu chỉ địa hình địa mạo, sau mới phát triển thành phong thủy học. ‘Cổ kham dư’… nghĩa là bản đồ cổ đại. Đây chính là bản đồ thế giới của thời đại mà Long tộc từng thống trị thế gian, cách đây không biết bao nhiêu kỷ nguyên!”

“Trời ạ… nếu họ chịu mang mấy bích họa này ra đấu giá, chắc hiệu trưởng với lão ‘ngựa đực’ kia còn đánh nhau ngay tại phòng đấu giá mất.”

Caesar đứng cạnh Sở Tử Hàng, ngước nhìn bích họa, lẩm bẩm.

Ngắm nhìn những bích họa này, tựa như dòng thời gian bị đảo ngược.

Nền văn minh Long tộc cực thịnh ấy nở rộ trên đại địa như một rừng hoa.

Trong sách giáo khoa lịch sử hiện hành, đó là cuối Kỷ Băng Hà, đại địa hoang vu, băng hà ở bán cầu Bắc đạt cực đại, lan sâu vào lục địa Bắc Mỹ, châu Âu và Bắc Á, khó hậu khắc nghiệt đến mức sinh vật còn sót lại chỉ có thể lay lắt tồn tại trong những vùng trú ẩn ấm hơn ở vĩ độ thấp hoặc ven biển.

Nhưng trong những bích họa này, đó lại là thời đại văn minh phồn thịnh:

Một chủng tộc vĩ đại dựng lên những cột đồng cao chọc trời trên khắp các châu lục, xây thành thị quanh những cột ấy.

Trên đỉnh các thông thiên tháp trong thành có đền thờ.

Còn những hoàng đạo rộng lớn thì nối liền các thành thị cách nhau ngàn dặm.

Sở Tử Hàng lấy máy ảnh từ trong áo khoác ra.

Caesar sững người:

“Cậu kiếm đâu ra máy ảnh thế?”

“Phố Akihabara. Giảm giá 20%, còn tặng kèm bao máy. Vốn định dùng để chụp lõi của Kaguya-hime.”

“Cậu không biết tiếng Nhật mà cũng dám ra ngoài mua đồ một mình à?”

“Không sao,” Sở Tử Hàng nói rất bình thản.

“Chỗ đó toàn người Trung Quốc đi mua đồ điện tử. Nhân viên bán hàng còn vui vẻ nói với tôi rằng anh ta là người Đông Bắc, hỏi tôi quê ở đâu.”

Sau phần bản đồ, nội dung bích họa dần trở nên hoang đường.

Có quái vật dữ tợn với 8 chiếc cổ dài và 9 cái đầu vờn quanh thân thể, những chiếc cổ quấn vào nhau như dây thừng.

Nó bò trên đại địa, các đầu đang uống nước từ thượng nguồn của 8 con sông.

Chiếc đuôi sắc bén chém đôi núi cao ở hạ lưu.

Từ bụng nó chảy ra dòng nước đỏ tươi hòa vào sông ngòi.

Chỉ nhìn bức họa cũng đủ biết đó là một sinh vật dài hàng trăm km.

Lại có những người phụ nữ khỏa thân bị phong băng trong khối băng khổng lồ, một con rắn chui ra từ khe nứt, nói chuyện với con người phía trên khối băng.

Vô số hình ảnh khó tin khác nối tiếp nhau, tính tượng trưng cực mạnh, nhưng lại u ám và khó giải mã.

Những hình vẽ tương tự Caesar cũng từng thấy qua.

Gia tộc anh cất giữ không ít da dê trước thời Trung cổ.

Trong đó, các pháp sư và luyện kim giả thời Trung cổ châu Âu thường dùng hình vẽ tay kết hợp với ký hiệu giả kim và mật tự cổ để ghi chép những phát hiện của mình.

Để tránh người ngoài, đặc biệt là Giáo hội và giới thế tục dễ dàng phát hiện bí mật, những bức họa này cố ý được vẽ theo lối mờ ám, chồng ghép nhiều tầng biểu tượng, chỉ người trong giới mới có thể giải đọc.

Chẳng hạn, nếu một pháp sư vẽ hình một thiếu nữ xinh đẹp cầm chén vàng uống chất lỏng, thì ý nghĩa thật sự lại chẳng hề mỹ lệ.

Trong hệ biểu trưng giả kim Trung cổ, chén vàng tượng trưng cho Chén Thánh, mà Chén Thánh lại là biểu tượng của máu Đấng Cứu Thế.

Thiếu nữ không phải mỹ nhân, mà là vật tế tinh khiết.

Cách giải cuối cùng của bức họa ấy là một nghi thức huyết tế bị cấm, được ngụy trang bằng hình ảnh tôn giáo và thẩm mỹ, nhằm che giấu bản chất tà giáo của việc hiến tế và triệu hồi.

Những thủ pháp ghi chép bằng hình ảnh biểu trưng như vậy là đặc trưng của giả kim thuật và huyền học châu Âu thời Trung cổ.

Thế nhưng, trong các tư liệu dị bản lưu truyền ở phương Đông, từng xuất hiện những bản sao chép và tái diễn giải kỳ lạ.

Tương truyền rằng tại Nhật Bản cổ, có người đã mượn kỹ pháp bích họa Phật giáo chịu ảnh hưởng Đôn Hoàng để ghi lại nội dung của những tri thức bị xem là hắc vu thuật, vốn có nguồn gốc từ các bản chép méo mó của huyền học phương Tây.

Những bích họa ấy không phản ánh một truyền thừa lịch sử trực tiếp, mà là dấu vết của sự hiểu sai, ghép nối và bản địa hóa tà tri thức ngoại lai.

Hắc vu thuật bắt nguồn từ sự hiểu sai Ngôn Linh và Luyện Kim thuật.

Những bích họa này cũng vậy, chúng là những “thư tịch bí mật” cổ xưa hơn cả vu thuật thủ quyển, là sách ghi chép chân lý tối hậu của thế giới, mũi nhọn trực chỉ nền văn minh Long tộc viễn cổ.

“Cậu… xem hiểu được không?”

Caesar dùng đèn pin phụ chiếu cho Sở Tử Hàng.

Kích thước bích họa quá lớn, đèn flash của máy ảnh cầm tay không thể chụp trọn một lần, chỉ có thể chụp từng mảng nhỏ.

“Có thể thử giải đọc một phần rất nhỏ thôi, nhưng cũng chỉ là tầng nông nhất.”

Giọng Sở Tử Hàng trầm xuống.

“Những bức bích họa này chứa đựng lịch sử Long tộc vượt xa khả năng hiểu biết của chúng ta. Bát Gia Jaki chưa bao giờ công bố chúng với Học viện, bọn họ hiểu rõ giá trị của thứ này, nên mới chuyển toàn bộ bích họa vào Tập đoàn Genji để tránh ánh mắt người ngoài.”

Anh dùng đầu ngón tay miết nhẹ lên vùng đỏ sẫm trên bích họa.

“Muốn phát hiện bí mật thật sự thì phải nghiên cứu nguyên bản. Ngửi thử loại màu này đi.”

“Không phải cậu vừa nói là oxit sắt sao?”

Caesar nghi hoặc cúi xuống, ngửi đầu ngón tay của Sở Tử Hàng.

“Mùi dầu mỡ… còn có cả mùi máu. Cái này tuyệt đối không phải oxit sắt!”

Khắp mặt đất đều là máu, nhưng mùi tanh toát ra từ sắc đỏ của bích họa còn nồng đậm hơn nhiều.

Những bức tranh lẽ ra đã có lịch sử 2.000 năm, vậy mà màu sắc vẫn sánh đặc như mỡ.

“Nếu tôi đoán không sai,” Sở Tử Hàng chậm rãi nói, “đây là màu được chế từ mỡ nhân ngư trộn với máu. Dầu nhân ngư hàng ngàn năm cũng không khô, còn máu của chúng thì luôn giữ được độ ‘tươi’. Những thứ chúng ta từng thấy dưới rãnh biển Nhật Bản chính là nhân ngư trong thần thoại Nhật.”

Anh dừng lại một nhịp.

“Người vẽ những bức bích họa này, nếu đã bắt được nhiều nhân ngư như vậy để chế màu, thì nhất định biết đến Takamagahara và Thi Thủ. Họa sư chính là tổ tiên của Bát Gia Jaki. Những bích họa này rất có thể đã bị bóc ra từ tường của gia tộc thần xã. Những hình người trên bích họa đều được vẽ bằng máu mỡ nhân ngư. Điều này mang ý nghĩa tôn giáo đặc biệt, gọi là ‘thông linh’. Nhân ngư vốn là hỗn huyết chủng thời cổ, trong máu chúng có long huyết. Dùng loại máu này để vẽ, mỗi hình người đều có tinh phách.”

Sở Tử Hàng chỉ vào một hình người màu máu được viền bằng vàng.

“Vì thế, họa sư tuyệt đối không được nói dối khi vẽ. Mỗi nét bút đều nhằm tái hiện lịch sử chân thực. Nhân vật này mang ý nghĩa cực kỳ đặc biệt, hắn là kẻ duy nhất được viền vàng. Điều đó cho thấy thân phận và địa vị của hắn vượt xa những người còn lại. Hắn đội vương miện lông cao, cầm một cây trượng. Trong bích họa cổ đại, trượng chỉ có hai hàm nghĩa: vũ khí hoặc quyền trượng. Ở đây, nó đại diện cho quyền trượng. Hắn là thủ lĩnh của tất cả.”

“Đại loại kiểu… gia trưởng?”

Caesar nhún vai.

“Không.”

Sở Tử Hàng đáp gọn.

“Họ gọi hắn là ‘Hoàng đế’. Hoặc chúng ta có thể gọi hắn là… siêu hỗn huyết chủng.”

“Siêu hỗn huyết chủng?”

Caesar ngẩn người. Khái niệm này anh chưa từng nghe qua.

Việc phân hạng hỗn huyết chủng theo huyết thống chỉ xuất hiện sau khi Học viện Cassell được thành lập.

Sau đó, do phát hiện một số cá nhân có năng lực gần bằng Long tộc thuần huyết, người ta mới bổ sung hạng S trên A.

Việc phân hạng không hoàn toàn dựa vào huyết thống, mà còn xét đến biểu hiện thực tế.

Sinh viên hệ chính quy thường chỉ ở haing B trở xuống.

Sau khi tốt nghiệp, gia nhập Bộ Chấp Hành, nếu biểu hiện xuất sắc mới dần được nâng lên A. Những kẻ như Caesar hay Sở Tử Hàng, chỉ dựa vào huyết thống đã được xếp A, đã là dị loại.

Đừng nói đến Lộ Minh Phi, kẻ dựa thuần huyết được đặc cách lên thẳng S, một tồn tại nghịch thiên.

Dĩ nhiên cũng có ngoại lệ như Finger, huyết thống không tệ nhưng biểu hiện quá nát, rớt thẳng xuống F.

Nhưng dù là hạng S, vẫn chỉ là “hỗn huyết chủng”.

Cái gọi là “siêu hỗn huyết chủng” căn bản không tồn tại trong bảng phân hạng.

Chẳng lẽ là thứ vượt qua hạng S, SS?

“‘Hoàng đế’ là một dạng hỗn huyết chủng vượt ngoài nhận thức của chúng ta.”

Sắc mặt Sở Tử Hàng nghiêm trọng hẳn.

“Tất cả hỗn huyết chủng đã biết, dù ưu tú đến đâu, cũng không thể vượt qua ‘hạn mức huyết thống’. Đó là ranh giới tuyệt đối giữa người và rồng. Một khi vượt qua, long huyết sẽ nuốt chửng ý thức, biến con người thành tử thị, đây là quy luật không thể phá. Nhưng theo những bích họa này, Nhật Bản từng tồn tại hỗn huyết chủng có thể bước qua ranh giới ấy. Bọn họ có tiềm năng sánh ngang Long Vương, sinh ra đã là lãnh tụ của Bát Gia Jaki.”

“Chỉ từ một hình người bé tí viền vàng mà cậu đọc ra ngần ấy thứ?”

Caesar không tin nổi.

“Nhìn tranh thì không thấy,” Sở Tử Hàng đáp, “nhưng phần chú giải bằng chữ triện thì đầy rẫy những lời ca tụng dành cho Hoàng đế. Sự ra đời của hắn được gọi là ‘giáng thế’. Ý nghĩa của hắn sánh ngang Prometheus trộm lửa, hay Jesus Christ dùng máu mình cứu rỗi nhân loại. Hắn là thiên tử giáng lâm, đế vương của định mệnh. Tôn hiệu gồm ‘Đông Hoàng’, ‘Diệu Đế’, ‘Chấn Đế’, ‘Thái Vi Chủ’… Hắn hội tụ mọi mỹ đức của nhân loại, sở hữu sức mạnh vĩ đại để đối kháng với thần.”

Sở Tử Hàng quay sang nhìn Caesar.

“Cậu không nghĩ đến một người nào sao?”

“Loại tồn tại cấp Chúa Jesus thế này thì tôi quen kiểu gì được?”

Caesar trợn mắt.

“Tôi chưa nói với cậu à? Cả nhà tôi đều là tín đồ Thiên Chúa giáo đấy. Nếu trên đời thật có thứ quái vật như vậy, tôi chỉ có nước cầu nguyện làm tín đồ của hắn thôi.”

“Hoàng đế sinh ra đã được định sẵn.”

Sở Tử Hàng nói chậm rãi.

“Ngay từ thời niên thiếu, hắn đã được an bài để thống trị phương Đông. Dù tuổi còn trẻ, hắn đã có địa vị cực cao trong gia tộc, đến cả trưởng bối cũng phải nghe lệnh. Hắn là…”

Anh dừng lại, từng chữ một.

“… thiếu chủ gia tộc trẻ tuổi.”

Một cơn rúng động nổ tung trong đầu Caesar.

Anh rùng mình theo bản năng.

“Là… rùa khổng lồ? Thuộc hạ của hắn gọi hắn là… thiếu chủ!”

“Minamoto Chisei mới 26 tuổi, đã là thiếu chủ của Bát Gia Jaki. Chỉ nhờ chiến công trong Cục Chấp hành thôi sao?”

Sở Tử Hàng trầm giọng.

“Khi chúng ta gặp các gia chủ, gia trưởng Tachibana Masamune đứng dậy, mọi người đều đứng dậy theo, duy chỉ có Minamoto Chisei vẫn ngồi yên. Đó không phải vô lễ, mà là thói quen. Giữa anh ta và gia trưởng là địa vị ngang hàng. Người kế thừa thần huyết chính là anh ta. Anh là kẻ thống trị tương lai của Bát Gia Jaki. Người sẽ thống trị trong tương lai,”

Sở Tử Hàng nói khẽ, “đương nhiên không cần cúi đầu trước kẻ đang thống trị hiện tại.”

Caesar hoàn toàn câm lặng.

Tên người Nhật lười biếng, ít nói đó… lại là Hoàng đế, tồn tại đứng trên mọi hỗn huyết chủng sao?

Sau gương mặt lãnh đạm ấy, lại ẩn giấu sức mạnh vĩ đại nhất của hỗn huyết chủng?

Và kẻ mang sức mạnh đó… chỉ muốn đi bán kem chống nắng?

Trò đùa này chẳng khác gì Alexander Đại Đế nói rằng mục tiêu đời mình không phải chinh phục thế giới, mà là ra Địa Trung Hải làm ngư dân cạy hàu.

“Khoan đã khoan đã! Chuyện này quá vô lý rồi!”

Caesar đột nhiên gào lên, vỗ mạnh vào trán.

“Siêu hỗn huyết chủng? Thứ đó làm sao có thể tồn tại! So với cái này, tôi thà tin là trên đời có siêu Saiyan còn hơn!”

Tâm trạng anh cực kỳ phức tạp, giống như đột nhiên nghe tin trên đời có một công tử vừa đẹp trai hơn, vừa ngầu hơn mình.

Anh luôn tin rằng bản thân là ưu tú nhất, nhiều lắm thì chỉ có Sở Tử Hàng có thể chia bớt ánh hào quang.

Nhưng nếu thật sự tồn tại siêu hỗn huyết chủng…

Khốn kiếp!

Chẳng lẽ thiếu gia nhà Gattuso lại biến thành thứ dân dưới hạn mức huyết thống?

Còn Minamoto Chisei mới là công tử chân chính của hỗn huyết chủng?

Sai quá rồi!

Sai đến mức không thể chấp nhận!

Mà Caesar Gattuso thì không thể nào sai.

Vậy nên nhất định là thế giới này sai rồi!

Phần 3:

“Làm sao có thể tồn tại kẻ phớt lờ được hạn mức huyết thống?”

Caesar không giấu nổi vẻ hoài nghi, cố chấp tranh luận với Sở Tử Hàng.

“Đó là vực sâu không thể vượt qua. Bất kỳ ai bước qua ranh giới ấy, thần trí đều sẽ bị long huyết nuốt chửng! Thế nhưng Minamoto Chisei trông hoàn toàn bình thường cơ mà? Long huyết lẽ ra phải khiến hắn hưng phấn, điên cuồng mới đúng chứ? Đằng này cái vẻ lười biếng uể oải đó… trông chẳng khác gì bị rối loạn nội tiết!”

Trong đời mình, Caesar chưa từng cố chấp muốn làm rõ một vấn đề học thuật đến thế, huống chi lại là tranh luận với kẻ thù không đội trời chung.

“Chữ 皇(Hoàng) tách ra thì là gì?”

Sở Tử Hàng nhìn thẳng vào mắt hắn.

“白… 王(Bạch Vương)?”

Sau vài giây im lặng, Caesar khó nhọc thốt ra hai chữ ấy.

“Chết tiệt… bọn họ là hậu duệ của Bạch Vương? Huyết mạch Bạch Vương ư?”

“Đúng vậy,” Sở Tử Hàng đáp.

“Họ chính là dòng máu Bạch Vương mà Bí Đảng từng cho rằng đã tuyệt diệt. Tên của loạt bích họa này là 《Bạch Đế Bản Sinh》, ghi lại lịch sử của Bạch Đế và con cháu của hắn. Bát Gia học được chữ Hoàng từ Trung Hoa cổ. Trong nhận thức của họ, chữ này sinh ra là để chỉ siêu hỗn huyết chủng. Hoàng mang hàm nghĩa thần, như ‘Đông Hoàng Thái Nhất’ trong Sở Từ. Không chỉ vậy, chữ ấy còn che giấu cả danh xưng của vị Bạch Đế kia. Hoàng là con người gần với thần nhất trên thế gian. Kẻ ấy thừa hưởng huyết mạch của Bạch Vương. Mà Bạch Vương là Long Vương khống chế tinh thần, có thể thao túng ý thức của kẻ khác, nhưng bản thân thần trí vĩnh viễn thanh minh.”

Sở Tử Hàng dừng lại, giọng trầm xuống:

“Hoàng kế thừa thiên phú ấy. Vì vậy, dù vượt qua hạn mức huyết thống, năng lực tinh thần vẫn bảo vệ hắn khỏi bị long huyết xâm thực. Hắn là dị loại duy nhất. Trong cơ thể gần như toàn bộ là long huyết, nhưng lại mang một trái tim… của con người.”

“Quái… thai.”

Sau một hồi im lặng kéo dài, Caesar chỉ thốt ra được hai chữ.

—-

Cùng lúc đó, tại tầng đáy của Tập đoàn Genji, sâu hơn cả Thần Điện Khung Sắt, trong bóng tối tuyệt đối, một ánh đèn đỏ sẫm bật sáng.

「ならく」.

Đó là bảng chỉ dẫn của một thang máy.

“Naraku” là một thuật ngữ ngoại lai bắt nguồn từ Phật giáo Ấn Độ, chỉ Na-lạc-ca, tầng địa ngục sâu thẳm nhất trong luân hồi.

Đó không phải là hư không vô tận hay sự sa đọa vĩnh viễn, mà là cảnh giới quả báo dành cho những chúng sinh tạo ác nghiệp nặng:

Một nơi tăm tối, kéo dài tưởng như vô hạn, nơi các ác quỷ và tội nhân rơi xuống đáy khổ đau, chịu giày vò suốt vô số năm tháng.

Chỉ đến khi nghiệp lực tiêu tận, họ mới có thể rời khỏi Naraku và tái sinh vào những cõi khác của nhân thế.

Cửa thang máy mở ra.

Một bóng người bước vào màn đêm không thấy nổi bàn tay đưa ra trước mặt.

Ngoài tiếng quạt thông gió xoay đều, nơi này tĩnh lặng như nghĩa địa.

Bức tường phía trước đột ngột phát sáng.

Một bức tường khổng lồ cao 7, 8m tỏa ra ánh lam u u.

Nhìn kỹ mới nhận ra, đó là một bể chứa nước khổng lồ.

Bức “tường” thực chất là mặt kính của bể, ghép từ hàng trăm khối kính vuông cỡ 1m, liên kết bằng khung kim loại hẹp.

Trên đỉnh bể lắp tuabin nước và bộ lọc cỡ lớn.

Dung tích bể chẳng kém gì thủy cung.

Hệ thống cấp nước thông thường không thể đáp ứng, nên nó lấy nước từ cống ngầm, lọc sạch rồi dẫn vào.

Khi thay nước, tuabin lại hút ra, trả về hệ thống Thần Điện Khung Sắt.

Bóng người ngồi bệt xuống trước vách kính.

Ánh lam chiếu lên gương mặt nghiêng của cậu, đường nét cao gầy, tinh tế, như những pho tượng thiếu niên Hy Lạp bằng cẩm thạch trong đền Parthenon.

Nhìn từ một góc, hắn mang vẻ nữ tính mê hoặc.

Đổi góc khác, lại giống một đứa trẻ đơn độc ngồi trong thủy cung ngắm cá voi trắng.

Luôn có những đứa trẻ như thế.

Chúng có thể ngồi hàng giờ trước bể kính, trong khi cá voi trắng chỉ thỉnh thoảng mới bơi lại nhìn chúng.

Người lớn đi ngang qua, nhìn bóng lưng đứa trẻ, đều cảm thấy nó vừa kỳ lạ vừa sâu sắc đến đáng sợ.

Trẻ con… đôi khi vốn là những sinh vật rất kỳ quái.

Cậu thiếu niên bóc một miếng kẹo cao su, nhét vào miệng.

Đối diện với bể nước trống rỗng, cậu hoàn toàn không sốt ruột.

Từ sâu trong bể vang lên tiếng nước ào ào.

Một sinh vật thủy sinh khổng lồ bắt đầu di chuyển nhanh, chiếc đuôi dài quét thành những vòng xoáy.

Cậu lấy từ trong áo ra một cây bút laser, bật lên.

Chấm đỏ xuất hiện trên mặt kính.

Người nuôi mèo thường dùng thứ này để trêu mèo con, chấm sáng di chuyển nhanh, mèo thì nhảy bổ loạn xạ.

Cậu chậm rãi di chuyển tia laser.

Chấm đỏ lập lòe, cuối cùng thu hút sự chú ý của sinh vật trong nước.

Nó bơi lại gần.

Không chỉ một con.

Là cả một đàn.

Những con cá lớn áp sát mặt kính, mắt không chớp nhìn chằm chằm chấm đỏ.

Gương mặt chúng tái nhợt, như xác chết trôi dạt nhiều ngày trên biển.

Một đàn cá… mang gương mặt con người.

Chúng nhìn trộm thế giới loài người qua lớp kính.

Có con vô cảm.

Có con khóe môi nhếch lên, như đang cười.

Hình dạng của chúng không giống nhau.

Đa phần có đuôi dài, thân phủ vảy.

Một số mang những cơ quan dị dạng khó tin:

Móng vuốt khổng lồ sắc bén, vây xương như lưỡi dao.

Khi hô hấp, các khe ở cổ mở ra, lộ lớp mang đỏ sẫm.

Cậu thiếu niên xoay nhẹ cổ tay.

Những “cá mặt người” uốn lượn thân thể, truy đuổi chấm sáng, ngoan ngoãn như thú cưng.

Cả bể nước bị khuấy động.

Từ đáy bể, một bộ hài cốt màu vàng sẫm nổi lên, hình dáng nửa người, nửa cá, nửa chim.

Rõ ràng khi còn sống, nó là đồng loại của chúng.

Những con cá mặt người dường như không hề ngại ăn thịt đồng loại khi đói.

Bộ xương đầy vết răng, trông như bị chém bằng rìu đốn gỗ.

Cậu tắt laser, tiến sát vách kính.

Mất mục tiêu, đàn cá tản ra.

Bể nước rộng chẳng khác nào hồ ngầm nhỏ trong tầng đá.

Nước ngầm đã lọc khá trong, nhưng khi cá bơi xa, bóng dáng chúng dần mờ đi.

Chỉ còn một con nhỏ hơn vẫn lượn lờ gần mặt kính, dường như vẫn tìm kiếm chấm sáng bí ẩn kia.

Cậu thiếu niên áp chặt bàn tay lên kính.

Qua ánh phản chiếu, có thể thấy vách kính dày tới nửa mét, được xây từ những khối kính khổng lồ.

Con cá mặt người áp sát khuôn mặt vào bức tường kính, dán chặt lên đó để quan sát bàn tay cậu bé.

Lúc này, dung mạo của nó mới hiện ra rõ ràng.

Nó là giống cái, hay nói đúng hơn, mang dáng dấp của một người phụ nữ.

Mái tóc dài đen nhánh xõa xuống, khuôn mặt trắng bệch nhưng vẫn giữ được nét thanh tú.

Giữa lông mày và khóe mắt mơ hồ có dấu vết của những ca tiểu phẫu thẩm mỹ tinh vi.

Nếu không phải trong hoàn cảnh quỷ dị thế này, mà gặp gương mặt ấy giữa phố Shibuya đông đúc, người ta thậm chí còn có thể gọi đó là… một cuộc gặp gỡ lãng mạn nho nhỏ.

“Cô thật đẹp,” cậu bé khẽ nói, “khi cô còn sống.”

Chỉ có gương mặt là đẹp.

Từ cổ trở xuống, cơ thể nó đã biến dạng hoàn toàn, phần dưới hợp nhất thành chiếc đuôi khổng lồ như trăn, thấp thoáng còn thấy tàn tích của đôi chân từng tồn tại.

Trong thần thoại khắp thế giới, hình tượng mặt người thân rắn lặp đi lặp lại không dứt.

Từ Phục Hy, Nữ Oa của nhân loại, đến Thái Hạo trong Tam Hoàng Ngũ Đế.

Từ “Uy Xà” mặc áo tím đội mũ son mà Tề Hoàn Công từng thấy trong Trang Tử.

Đến thần Chac Âm của núi Chung trong Sơn Hải Kinh, “mặt người thân rắn, đỏ như máu, mở mắt là sáng, nhắm mắt là tối”.

Rồi Naga trong Phạn văn, Medusa trong thần thoại Hy Lạp, hay những vị thần rắn đã thất truyền tên tuổi trong điện thờ Maya…

Chúng đứng giữa ranh giới của thần và ác quỷ, tượng trưng cho cám dỗ và bí ẩn tột cùng.

Các nhà thần thoại học đến nay vẫn không lý giải nổi vì sao hình tượng quái dị ấy lại xuất hiện đồng loạt trong những nền văn minh không hề liên hệ.

Nhưng nếu họ từng nhìn thấy sinh vật trước mắt, một thứ quái vật thậm chí còn có thể gọi là xinh đẹp, họ sẽ hiểu.

Tổ tiên loài người thực sự đã từng trông thấy những thứ như vậy bò qua, bơi tới, hoặc bất ngờ lao thẳng về phía họ.

Quá kinh hoàng, quá vặn vẹo, tuyệt đối không thể là sinh vật do Thượng Đế tạo ra.

Chỉ có thể là một trò đùa tàn nhẫn của ác quỷ đối với nhân loại.

Ấn tượng đó như tia sét nổ tung trong đầu những con người nguyên thủy, rồi được truyền lại, đời này sang đời khác dưới cái tên thần thoại.

Cậu bé bật cây bút laser.

Chấm đỏ xuất hiện ngay giữa trán cá mặt người, như một nốt chu sa tươi rói.

Gương mặt tái nhợt ấy bỗng được chiếu sáng.

Nếu không nhìn phần thân thể kinh tởm bên dưới, nó thậm chí còn mang vẻ “mỉm cười xinh đẹp, đôi mắt long lanh”, một loại mị hoặc mềm mại đến nguy hiểm.

Nó vươn chiếc móng vuốt dị dạng chộp lấy điểm sáng.

Móng vuốt cứng như thép, nhưng trên kính siêu cứng chỉ để lại những tiếng kèn kẹt chói tai.

Không bắt được, nó đột ngột nổi giận.

Há to miệng, gào thét trong im lặng.

Lúc này mới thấy rõ cấu trúc miệng khủng bố ấy:

Đôi môi mỏng như cánh hoa anh đào, nhưng hai bên có những khe nứt kéo dài đến tận mang tai.

Khi nó há miệng, dường như toàn bộ hộp sọ đều bung ra, để lộ hàm răng dài sắc nhọn dày đặc như bụi gai.

“Như thế thì xấu rồi,” cậu bé nói thản nhiên.

Tiếng gầm của nó chỉ kéo dài vài giây.

Một cánh vuốt khổng lồ từ phía sau ập tới, kéo phăng nó vào trung tâm bể nước.

Cậu bé tắt laser, lặng lẽ đứng nhìn cuộc tàn sát.

Hơn 10 con cá mặt người vây lấy đồng loại nhỏ bé hơn.

Chúng cắn chặt từng phần cơ thể con mồi, điên cuồng vẫy đuôi, dùng sức xoắn của thân thể để xé nát nó.

Cách săn mồi ấy giống hệt bầy cá mập trắng khi giết cá voi con, kéo nạn nhân xuống đáy biển, vừa đâm vừa xé, cho đến khi cá voi mẹ lao đến thì chỉ còn lại những mảnh xương vỡ vụn.

Con mồi và kẻ săn mồi quấn lấy nhau, tạo thành một đóa hoa thịt quái dị, một đóa hoa với cánh như rắn, mỗi cánh đều co giật,

từng làn khói máu đỏ bốc lên mặt nước.

“Thế giới này… thật xấu xí.”

Cậu bé nói nhạt nhẽo, gương mặt không buồn cũng chẳng vui.

Một tiếng rạn vỡ khe khẽ lan dọc theo toàn bộ bức tường kính.

Khung kim loại chống đỡ bắt đầu xoắn vặn, biến dạng.

Đàn cá mặt người đang ăn cũng nhận ra sự thay đổi, đồng loạt bỏ lại đống thịt nát, bơi dồn về phía bức tường, như tù nhân nghe thấy tiếng cửa nhà ngục mở ra, vô thức nhìn về cùng một hướng.

Bức tường kính lung lay dữ dội.

Một khối kính khổng lồ bị áp lực nước đẩy bật khỏi khung.

Rồi khối thứ hai, thứ ba…

Mỗi tấm kính đều rộng 1m vuông, dày nửa mét, nặng hàng tấn.

Từ chỗ vỡ, dòng nước phun vọt ra xa hàng chục mét.

Chỉ vài giây sau, bức tường trong suốt hoàn toàn sụp đổ.

Hàng chục nghìn tấn nước phá vỡ “đập”, cuốn theo không biết bao nhiêu cá mặt người.

Đó vừa là cơn cuồng triều chết chóc, vừa là cảnh tượng đẹp đến tận cùng.

Trong màn ánh sáng lam u u, những khối kính rơi xuống phản chiếu thứ ánh sáng lạnh như băng.

Trong ánh sáng ấy, những bóng đen giống rồng, giống rắn bay lượn giữa dòng nước.

Đẹp như ngày tận thế.

Cậu bé không hề bỏ chạy.

Ngay trước khi bị cơn lũ lam nuốt chửng, cậu khẽ thở dài.

—-

“Tiếng nước!”

Caesar nhíu mày.

Ngay cả khi không kích hoạt Kamaitachi, thính giác của anh vẫn nhạy hơn người thường gấp nhiều lần.

Anh nghe thấy tiếng nước, không phải dòng chảy trong ống dẫn, mà là âm thanh của thủy triều dâng.

Nhưng tập đoàn Genji nằm ở Shinjuku, cách biển ít nhất 4, 60km.

“Chắc Thần Điện Khung Sắt lại xả nước thôi.”

Sở Tử Hàng vẫn mải chụp ảnh bích họa, không quay đầu lại.

“Dự báo nói đêm nay Tokyo lại mưa lớn. Không có hệ thống thoát nước cấp độ này thì thành phố sớm sập rồi.”

Caesar đảo mắt tìm cửa sổ xem có mưa thật không, nhưng đại sảnh bích họa không hề có cửa sổ.

Cũng dễ hiểu, để bảo vệ các bích họa khỏi oxy hóa và bụi bẩn, Bát Gia Jaki hẳn đã lắp đặt hệ thống lọc bụi và khử ẩm trung tâm.

Mở cửa sổ là điều tối kỵ.

“Chiếu đèn cao lên,” Sở Tử Hàng nói.

“Chúng ta xem toàn cảnh bức họa này. Chắc chắn nó mang ý nghĩa đặc biệt.”

“Chỉ lần này thôi nhé!”

Caesar càu nhàu, “lần sau đừng dùng giọng đạo diễn sai khiến thợ ánh sáng với tôi!”

Anh giơ cao đèn pin.

Ánh sáng quét qua, bích họa rực rỡ hẳn lên.

Giống như bức họ từng thấy trong kho, bức họa này cũng sử dụng lượng lớn vàng ròng làm sắc liệu.

Ở châu Âu thời nghệ thuật vẽ Đức Mẹ Maria hưng thịnh, vàng đã không còn là kim loại hiếm tuyệt đối.

Thông qua mạng lưới thương mại Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương, vàng từ châu Phi được đưa vào lưu thông rộng rãi.

Tại nhiều bến cảng, nó thậm chí có thể đổi lấy bằng chuỗi hạt thủy tinh và các hàng hóa chế tác.

Nhưng Nhật Bản thì khác.

Khoảng 2.000 trước, dù đã tồn tại vàng sa khoáng với quy mô rất nhỏ, Nhật Bản chưa có khả năng khai thác mỏ vàng một cách hệ thống.

Vàng vì thế vẫn là kim loại cực kỳ khan hiếm, mang ý nghĩa nghi lễ và quyền lực nhiều hơn là vật liệu thông dụng.

Phần lớn vàng được sử dụng phải vận chuyển từ lục địa, chủ yếu qua bán đảo Triều Tiên và Trung Hoa, theo những tuyến giao thương ven bờ và hải trình ngắn trên biển Hoa Đông.

Những chuyến vượt biển ấy luôn đối mặt với gió mùa dữ dội, sóng lớn và kỹ thuật hàng hải thô sơ.

Không ít thuyền nhỏ đã lật úp giữa biển, thủy thủ bỏ mạng trong làn nước lạnh.

Chính vì thế, ở Nhật Bản cổ đại, vàng không chỉ hiếm vì khó kiếm, mà còn vì nó được đánh đổi bằng sinh mạng.

Lượng vàng quý giá ấy lẽ ra phải được dùng để đúc ấn tín hay trang sức, vậy mà lại được phung phí đến xa hoa cho một bức bích họa.

Điều đó chỉ chứng tỏ một điều:

Bức tranh này, trong toàn bộ hệ thống bích họa, giữ địa vị tối thượng.

Phần 4:

Sở Tử Hàng quan sát bức bích họa từ trên xuống dưới, từng chút một.

Anh có thể chụp ảnh, nhưng nếu muốn nghiên cứu kỹ chất liệu màu vẽ và các chi tiết tinh vi, thì không gì bằng trực tiếp đứng trước nguyên bản.

Bức tranh mang tính trừu tượng rất cao:

Một bộ xương có đôi cánh đang trao cho con người một mảnh xương.

Điều khiến người ta kinh ngạc là bộ xương và con người lại cấu thành một bố cục giống hệt âm dương ngư.

Bộ xương màu vàng nằm trên nền đen, con người màu vàng nằm trên nền trắng.

Cânh tay xương cầm mảnh xương chạm vào bàn tay người sống, toàn bộ hình ảnh như đang xoáy tròn không ngừng.

Ngay cả Caesar, người hoàn toàn mù tịt về huyền học cũng nhìn ra được ý nghĩa biểu tượng của bức tranh:

Cái chết và sự sống luân chuyển không ngừng.

Bộ xương tượng trưng cho tử vong, con người đại diện cho sinh mệnh.

Nhưng mấu chốt lại nằm ở mảnh xương mà bộ xương trao cho con người, rốt cuộc, trong vòng sinh tử ấy, nó đang truyền sinh thứ gì?

“Thái Cực đồ?”

Caesar thử đoán.

Sở Tử Hàng lắc đầu:

“Thái Cực đồ xuất hiện sớm nhất vào đầu thời Bắc Tống, trong truyền thuyết được cho là do Trần Đoàn truyền lại, nhưng với hình thức chuẩn hóa quen thuộc ngày nay, nó thực chất chỉ được hệ thống hóa tương đối muộn, gắn với truyền thống Dịch học và các học giả như Chu Đôn Di, còn việc quy toàn bộ nguồn gốc cho Trần Đoàn phần nhiều mang tính diễn giải hậu kỳ. Tuy nhiên, những bích họa này lại cổ xưa hơn rất nhiều so với triều Tống. Những hình thức tương tự đã từng xuất hiện độc lập trong nhiều nền văn minh khác nhau: cặp song ngư bơi đối xứng, hay hai con rắn nối đầu liền đuôi thành một vòng khép kín. Ở tầng nghĩa sâu xa, chúng không đơn thuần chỉ về “giao hợp” theo nghĩa sinh lý, mà là cách cổ nhân hình tượng hóa tư tưởng nhị nguyên: sinh tử, âm dương, phân tách và hòa hợp, chu kỳ tuần hoàn và sự vận động không ngừng của vũ trụ.”

“Giao… gì cơ?”

Caesar nghẹn lời.

“Giao phối.”

Sở Tử Hàng đành nói thẳng.

“Người sống với người chết giao phối? Nghe bệnh hoạn thật đấy, chẳng lẽ đây là thứ dâm tà của người Nhật?”

Caesar cau mày.

“Không. Đây là giao phối mang ý nghĩa tôn giáo. Trọng tâm không nằm ở hành vi, mà ở thứ được truyền sinh. Vật mà bộ xương trao cho con người kia, nó tượng trưng cho ‘sinh mệnh’. Họa sĩ lấy mảnh xương ấy làm tâm điểm để vẽ nên toàn bộ bức tranh.”

Sở Tử Hàng nói khẽ.

“Cho nên, mấu chốt chính là khối xương đó.”

“Chú giải bằng chữ triện nói gì?”

Caesar hỏi.

“Trong đó có rất nhiều cổ tự và dị thể, tôi cũng chỉ miễn cưỡng đọc được.” Sở

Tử Hàng dừng lại giây lát.

“Nhưng có 8 chữ thì tôi chắc chắn mình không thể nhầm.”

Anh chậm rãi nói:

‘Cổ đạo Hoàng Tuyền… Con đường Hóa thần’

“Nghe chẳng hiểu gì. Hoàng Tuyền chẳng phải là địa ngục trong tiếng Hán sao?”

“Anh còn nhớ Thúy Ngọc Lục không?”

“Tất nhiên. Bất kỳ hỗn huyết chủng có học thức nào cũng biết Thúy Ngọc Lục. Nó giống như Kinh Thánh đối với tín đồ Cơ Đốc vậy.”

Caesar nhún vai.

“Bức tranh này,” Sở Tử Hàng hạ giọng, “gần như chính là bản Thúy Ngọc Lục của Nhật Bản.”

Caesar giật mình.

Thúy Ngọc Lục là một tồn tại kỳ quái trong lịch sử tư tưởng phương Tây.

Thực ra, nó không hẳn là một cuốn sách, bởi toàn bộ văn bản chỉ gồm 13 câu châm ngôn ngắn ngủi, súc tích như lời thì thầm của một trí tuệ cổ xưa.

Bản thân văn bản ấy cũng vốn không có tên gọi gốc.

Danh xưng Emerald Tablet, Thúy Ngọc Lục xuất hiện từ truyền thuyết hậu thế, cho rằng những mệnh đề ấy từng được khắc trên một phiến ngọc lục bảo.

Tuy nhiên, cho đến nay, chưa từng tồn tại bằng chứng khảo cổ xác nhận sự hiện hữu của bản ngọc nguyên thủy này.

Phiến ngọc có lẽ chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng biểu tượng của các luyện kim sư.

Văn bản được gán cho Hermes Trismegistus, vị “Hermes ba lần vĩ đại”, một nhân vật huyền thoại kết tinh từ thần Thoth của Ai Cập và Hermes của Hy Lạp, biểu trưng cho trí tuệ, tri thức bí truyền và nghệ thuật huyền học.

Việc quy thuộc tác giả này không mang ý nghĩa ghi chép lịch sử theo nghĩa hiện đại, mà là một tuyên ngôn tư tưởng:

Tri thức trong Thúy Ngọc Lục được xem như đến từ cội nguồn thiêng liêng vượt khỏi thời gian.

Những câu chuyện kể rằng Alexander Đại đế từng phát hiện Thúy Ngọc Lục tại Ai Cập, hay phiến ngọc từng được đặt trong hành lang Thư viện Alexandria, đều thuộc về truyền thuyết luyện kim thời Trung cổ và Phục Hưng.

Không có tài liệu cổ đáng tin cậy nào xác nhận các chi tiết ấy, và “lăng mộ của Pharaoh Hermes” cũng không tồn tại trong lịch sử Ai Cập học.

Dấu vết lịch sử sớm nhất mà giới học thuật có thể xác nhận về Thúy Ngọc Lục xuất hiện vào khoảng thế kỷ VIII–IX, dưới dạng bản văn tiếng Ả Rập, trong bối cảnh các học giả Hồi giáo tiếp nhận, bảo tồn và tái diễn giải di sản tri thức Hy Lạp, Ai Cập.

Từ đây, văn bản được dịch sang tiếng Latinh vào thời Trung cổ và dần lan truyền khắp châu Âu.

Từ thế kỷ XV đến XVIII, khi thuật luyện kim và tư tưởng huyền học bùng nổ, thế giới xuất hiện hàng trăm dị bản, bản sao và bản chú giải khác nhau của Thúy Ngọc Lục.

Mọi luyện kim sư đều coi 13 câu châm ngôn ấy là manh mối dẫn đến con đường tối thượng.

Nhưng bởi ngôn từ của nó mơ hồ như thơ huyền học, đa tầng như biểu tượng tôn giáo, có lẽ cho đến nay vẫn chưa từng có ai thực sự giải mã hoàn toàn được Thúy Ngọc Lục.

Trong nội bộ Bí Đảng, luôn tồn tại một học phái cho rằng Thúy Ngọc Lục thực chất ghi chép quy luật tiến hóa từ con người lên loài rồng.

Thành tựu tối cao của luyện kim không phải luyện kim loại, mà là luyện chính bản thân mình, đả thông con đường long hoá.

Nếu bức họa này là Thúy Ngọc Lục của Nhật Bản, vậy thì khối xương mà bộ xương trao cho con người kia… chính là pháp tắc tiến hóa.

“Hoàng Tuyền đúng là có nghĩa là địa ngục,” Sở Tử Hàng nói tiếp, “nhưng sau khi băng qua tầng sâu nhất của địa ngục, thứ chờ đợi lại chính là thiên đường. ‘Cổ đạo Hoàng Tuyền’ là con đường xưa tồn tại giữa địa ngục ác quỷ hoành hành và nó cũng chính là ‘con đường hóa thần’. Chỉ cần vượt qua, sẽ có thể tiến hóa thành thần. Trong Thúy Ngọc Lục cũng có câu tương tự: ‘Dưới giống như trên, trên cũng như dưới; nhờ đó hoàn thành kỳ tích của Thái Nhất.’ Bất luận đi lên hay đi xuống, chỉ cần phá vỡ cực hạn, đều có thể chạm tới sự hoàn mỹ tối hậu.”

Sở Tử Hàng ngẩng đầu, nhìn vòng tròn ám dụ cho ý nghĩa chung cực của luyện kim:

“Bộ xương vàng kia tượng trưng cho Bạch Vương. Hắn ban xương máu của mình cho nhân loại, tạo nên huyết duệ của Bạch Vương, tức những nhân ngư. Nhưng thần còn để lại một di sản quý giá hơn: phương pháp tiến hóa từ hỗn huyết chủng thành rồng. Dù vô cùng nguy hiểm… nhưng không phải là bất khả.”

“Nếu cậu biết phương pháp đó, cậu có muốn thử không?”

Caesar đứng cạnh anh, cùng ngước nhìn vòng luân hồi thần bí.

“Không.”

Sở Tử Hàng nói rất khẽ.

“Làm vậy… cha tôi sẽ rất thất vọng.”

“Thật ra tôi cũng hơi muốn thử…” Caesar thở dài, “nhưng chắc mẹ tôi cũng sẽ thất vọng lắm. Thôi bỏ đi. Ở đây còn có thứ quý giá hơn cả bức này.” Caesar hất cằm.

“Đi, xem bức đáng tiền nhất ở đây.”

“Đây là bức anh nói sao?”

Sở Tử Hàng ngước nhìn bức tường cao trước mặt.

“Cậu không thấy à?”

Caesar đứng cạnh anh.

“Ít nhất thì nó là bức đắt nhất.”

“Làm sao anh biết?”

“Kẻ xâm nhập sẵn sàng giết nhiều tinh anh của Cục Chấp Hành như vậy, nhưng cuối cùng lại chỉ lấy đi đúng bức bích họa này. Điều đó chứng tỏ hắn không chỉ là một kẻ biết thưởng thức nghệ thuật, mà bức tranh này chắc chắn còn là tác phẩm xuất sắc nhất trong tất cả các bích họa.”

Trước mặt họ là một bức tường trắng toát.

Bích họa đã bị lấy đi.

Những bức khác ít nhiều đều vương vết máu, chỉ riêng bức tường này sạch sẽ tinh khiết, không lưu lại chút dấu vết nào.

Điều đó cho thấy hung thủ đã nhanh chóng xử lý xong các cán bộ Cục Chấp Hành rồi mới lấy tranh, khi cuộc thảm sát kết thúc, máu sẽ không còn bắn lên tường nữa.

Nếu là do chính Bát Gia Jaki tháo tranh đem đi tu sửa, thì trên tường hẳn phải còn vết máu.

“Mỗi lần chuyển tài liệu lên đây cách nhau chưa đầy 10 phút,” Caesar trầm giọng.

“Hắn phải giết người rồi bóc tranh trong vòng 10 phút, tốc độ ấy kinh khủng thật.”

“Những bích họa này sau khi tách khỏi bức tường nguyên thủy thì được gắn lên vải vẽ truyền thống đã xử lý phèn,” Sở Tử Hàng vừa nói vừa lướt ngón tay dọc theo bức tường, nhận lấy đèn pin từ tay Caesar để kiểm tra kỹ hơn.

“Nhưng lớp vải lại được dán vào tường bằng keo. Bình thường muốn gỡ tranh phải dùng dung môi rửa keo trước. Hắn làm được nhanh như vậy…”

“Thám tử Sở Tử Hàng,” Caesar nhún vai, “cậu định tìm dấu vân tay trên bức tường này à?”

“Không.”

Sở Tử Hàng chiếu đèn vào một mảng màu vàng nhạt.

“Tôi đang xem lớp keo. Ở đây vẫn còn sót lại keo dính, chứng tỏ hắn xé thô bạo chứ không tháo đúng quy trình, vì thế mới nhanh. Nhưng xé như vậy rất khó bảo đảm nền tranh không bị hỏng. Nếu hắn thật sự trân trọng bức họa này, tại sao lại đối xử với nó tàn nhẫn như vậy?”

“Hợp lý. Với người sưu tầm nghệ thuật, làm hỏng một bức tranh chẳng khác nào làm nhục một tuyệt sắc mỹ nhân, không thể tha thứ.”

“Câu đó là cha anh nói à?”

Sở Tử Hàng hỏi.

“Không.”

Caesar cười lạnh.

“Cậu đánh giá lão khốn đó quá cao rồi. Ông ta có vẻ yêu nghệ thuật, yêu sưu tầm, nhưng thực chất chẳng yêu gì cả. Thứ duy nhất ông ta quan tâm là bản thân mình. Ông ta có thể bỏ ra hàng chục triệu đô mua một bức danh họa, lưu ảnh trong điện thoại để khoe khoang với cả thế giới, rồi một buổi sáng nào đó bảo quản gia tháo tranh khỏi phòng khách quẳng xuống hầm rượu. Cách ông ta đối xử với phụ nữ cũng vậy. Đêm trước còn đọc thơ Shelley cho người đàn bà mặc lễ phục, sáng hôm sau tỉnh dậy lại thấy thân thể trần truồng ấy xấu xí đến buồn nôn, liền đi tắm rồi dặn quản gia mau chóng tống khứ ‘đống thịt khó coi’ đó đi.”

Caesar mỉa mai cay độc, lời sắc như dao.

“Ông ta là kiểu người ích kỷ đến tận xương tủy. Với ông ta, cả thế giới này chỉ là đồ chơi, chơi chán thì vứt.”

Sở Tử Hàng liếc nhìn Caesar.

Về chuyện này anh không tiện bình luận.

Nhưng anh chợt nhận ra mối quan hệ tệ hại giữa Caesar và Pompeii không chỉ đơn thuần là bất đồng về phong cách sống.

Caesar vốn là người khá bao dung, chỉ cần anh chịu được thái độ cao cao tại thượng của Caesar, thì anh vẫn sẽ nhận được sự ‘quan tâm từ trên cao’.

Thậm chí trong những chuyến công tác, Caesar còn mua quà cho toàn bộ cán bộ Hội Sinh Viên.

“Biếu tặng vừa phải là sự hào phóng cần có của giới quý tộc”

Đó là một trong những câu cửa miệng của Caesar.

Ngay cả khi cạnh tranh với Sở Tử Hàng gay gắt nhất, Caesar cũng hiếm khi buông lời cay nghiệt.

Nhưng nhắc đến Pompeii, trong anh lại lộ ra một thứ cảm xúc có thể gọi là… oán độc.

“Kẻ đó không quan tâm đến giá trị nghệ thuật của bức bích họa,” Sở Tử Hàng nói khẽ.

“Mà là manh mối quan trọng ẩn giấu bên trong nó, có thể là chìa khóa để giải mã toàn bộ hệ thống bích họa. Trước khi chữ viết ra đời, hội họa chính là chữ viết, dùng để ghi chép lịch sử. Những bích họa này chắc chắn đang che giấu một bí mật nào đó. Và kẻ trộm bức tranh kia, thứ hắn muốn chính là bí mật ấy.”

“Phương pháp tiến hóa hoàn mỹ?”

Caesar cau mày.

“Có thể.”

Sở Tử Hàng ngồi xuống, rọi đèn pin về sát mặt đất.

Một mảnh tranh vải cỡ khoảng 20cm vuông vẫn còn dính lại trên tường, mép rách nham nhở, rõ ràng là bị xé vội.

Anh cúi xuống chụp ảnh.

“Hoa văn rất phức tạp, lượng thông tin không nhỏ. Khi về chúng ta in ảnh độ phân giải cao, có thể suy ngược nội dung bích họa nguyên bản.”

“Phiền phức quá.”

Caesar rút Dictator từ sau lưng, luồn mũi dao vào khe sau lớp vải, cẩn thận cắt keo từng chút một.

“Hắn đã trộm cả một bức lớn như vậy rồi, tại sao ta không mang luôn mảnh này đi? Phân tích hiện vật gốc, chẳng phải thu được nhiều thông tin hơn sao?”

Sở Tử Hàng sững lại 1 giây rồi gật đầu.

Phong cách làm việc của nhà Gattuso luôn trực diện và bá đạo, đa phần là quá mạnh tay, nhưng đôi lúc, thẳng thừng cũng không hẳn là xấu.

“Chụp nhanh những bức còn lại.”

Caesar vừa nói vừa giấu mảnh tranh vào lớp lót áo.

“Lộ Minh Phi vừa đến là ta rút ngay. Tạm thời đừng để ý đến Kaguya-hime. Hôm nay thu hoạch của chúng ta còn lớn hơn cả việc cho nổ tung nó.”

Anh đột ngột trầm mặc vài giây, rồi vỗ vai Sở Tử Hàng.

“Đạo diễn, tự chiếu đèn tự quay nhé. Nhanh lên — có người đang đến.”

“Anh nghe thấy gì?”

Sở Tử Hàng lập tức cảnh giác.

“Thang máy. Không phải thang hàng ta đi lên, mà là thang VIP bên cạnh. Thang VIP vốn dừng ở tầng này, giờ đang đi xuống. Có người ở tầng dưới gọi thang. Mà người đủ tư cách dùng thang VIP thì chỉ có thể là…”

Caesar huýt sáo nhẹ.

“Con cự long mang hình người đó, đúng không?”

“Chưa chắc hắn sẽ lên tầng này,” Sở Tử Hàng nói.

“Đừng hy vọng viển vông thế. Ngày mai Sở Cảnh sát sẽ đến khám nghiệm hiện trường, tối nay họ gấp rút chuyển hồ sơ, toàn bộ người vận chuyển đều là Cục Chấp Hành, chứng tỏ tài liệu cực kỳ quan trọng. Vì thế rồng hình người và Tachibana Masamune mới đích thân thị sát. Đã xem hiện trường bên dưới, họ có thể không lên đây sao?”

Caesar lao về phía thang máy.

“Khi hắn bước ra khỏi thang mà thấy đầy xác chết, còn chúng ta thì đang trộm đồ ở đây, có giải thích kiểu gì cũng vô ích. Nhanh chụp nốt số bích họa còn lại đi! Tôi sẽ tìm cách câu giờ cho cậu!”

Cánh cửa thang VIP làm bằng đồng khắc hoa văn.

Caesar bật đèn pin cỡ nhỏ, ngậm trong miệng, dùng hai tay nạy mạnh khe cửa, cưỡng ép mở ra.

Gió lạnh trên dưới cuồn cuộn , bên ngoài là giếng thang sâu hun hút.

Chỉ cần nhìn giếng thang là đủ cảm nhận quy mô của tòa nhà.

Giếng thang của cao ốc bình thường chỉ chứa 3-4 thang máy, diện tích khoảng 40m vuông.

Nhưng giếng thang của tập đoàn Genji có thể cho hơn 10 thang máy vận hành đồng thời, diện tích vượt quá 100m vuông.

Trong không gian đó dựng san sát những cột thép góc cường độ cao, liên kết bằng xà thép ngang.

Đây đều là thang máy siêu tốc cho cao tầng, cabin kim loại lao lên xuống với tốc độ 5m mỗi giây, sượt qua trong gang tấc, khiến người ta liên tưởng đến những thành phố tương lai trong tiểu thuyết khoa học viễn tưởng.

Thang VIP đang dừng ở tầng thấp nhất, hẳn là đang đón người.

Hiệu ứng dội âm trong giếng thang rất tốt, với thính lực của Caesar, a mơ hồ nghe được tiếng Tachibana Masamune và Minamoto Chisei đang trò chuyện.

Phần 5:

Thang máy VIP bắt đầu đi lên.

Trên màn hình phía trên cửa hiện ra hai chữ “Thần Đạo”.

Phỏng đoán của Caesar đã được chứng thực, những kẻ đứng đầu tối cao của Bát Gia Jaki đang trên đường tiến đến tầng này.

Tầng đặt đại sảnh bích họa nằm đâu đó trong khoảng từ tầng 30 đến 40.

Mỗi tầng cao gần 5m, tính ra thì chỉ cần 30 đến 40 giây là thang máy có thể lên tới nơi.

Đúng lúc ấy, thang máy chở hàng bên cạnh cũng bắt đầu nhích xuống chậm chạp.

Và đúng vào khoảnh khắc chết người này, Lộ Minh Phi vừa kịp khuân xong 50 thùng tài liệu, đang trên đường lên tầng để gặp họ.

Để giữ độ ổn định, thang máy hàng chỉ chạy với tốc độ bằng vài phần của thang máy VIP.

Điều đó đồng nghĩa, Minamoto Chisei và những người kia sẽ tới trước.

“Chết tiệt thật chứ! Trùng hợp kiểu quái gì thế này!”

Caesar ngẩng đầu quan sát giếng thang.

Họ đã ở rất gần đỉnh tòa nhà, đến mức có thể nhìn thấy rõ cụm bánh răng kéo cáp thép đang vận hành phía trên.

“Ở trong hai giếng thang sát nhau, ngay cạnh một con rồng hình người… nếu cậu ta biết chuyện này chắc sợ đến đái ra quần mất.”

“Chỉ còn cách thử thôi.”

Caesar thò nửa người vào giếng thang, hai tay cầm súng, nhắm thẳng vào cụm bánh răng và bóp cò.

Từng phát đạn đều trúng đích.

Nhưng uy lực của Desert Eagle vẫn chưa đủ để phá hủy hoàn toàn hệ bánh răng.

Đạn bật ngược trong giếng thang, tóe ra những tia lửa chói mắt, va đập loảng xoảng không dứt.

Caesar vốn không định để cabin rơi tự do, đè chết con rồng hình người cùng Tachibana Masamune. Mục tiêu của hắn chỉ là kích hoạt hệ thống an toàn, buộc thang máy phải phanh gấp giữa chừng.

Trong các cao ốc, thang máy luôn có nhiều tầng bảo hiểm.

Chỉ cần hệ thống nhận định vận hành bất ổn, nó sẽ lập tức tự động phanh lại.

Mà khi đã bị kẹt trong cabin, Minamoto Chisei cũng không thể khởi động lại thang máy, thứ duy nhất hắn có thể làm, là cạy cửa ra, rồi leo thang bộ lên.

Mấy chục tầng lầu đủ để leo đến mỏi chết.

Bánh răng phanh bắt đầu quay, cọ mạnh vào đĩa hãm, tóe ra một chuỗi tia lửa rực rỡ.

Đúng lúc đó, Minamoto Chisei bỗng im lặng.

Anh đưa tay nắm lấy thanh Kumokiri bên hông.

“Sao vậy?”

Tachibana Masamune giật mình.

Ông nhìn Minamoto Chisei lớn lên, chỉ cần một động tác nhỏ cũng đủ hiểu tâm trạng anh.

Lúc này, từ người Minamoto Chisei tỏa ra sát khí lạnh lẽo đến rợn người.

Kumokiri vẫn còn trong vỏ, nhưng trong lòng anh, thanh katana ấy đã sớm rút khỏi bao.

Minamoto Chisei ngẩng đầu nhìn lên phía trên, gương mặt không chút biểu cảm:

“Có chuyện rồi. Con ngửi thấy mùi máu… mùi máu từ phía trên trôi xuống.”

Vừa dứt lời, tiếng súng long trời lở đất vang lên từ phía trên đầu.

Đó là tiếng của một khẩu súng lục cỡ lớn, âm thanh trong không gian kín của giếng thang bị dội lại, chồng chất, khuếch đại đến chói tai.

Cabin rung lắc dữ dội, như thể bất cứ lúc nào cũng có thể rơi xuống.

Nhưng cả Minamoto Chisei lẫn Tachibana Masamune đều không hề tỏ ra hoảng loạn.

Tachibana Masamune rút ra từ trong tay áo kimono một khẩu súng lục ổ xoay cỡ lớn:

“Thứ chuột nào dám chui vào Tập đoàn Genji, lại còn ra tay trước?”

“Các bang phái trung thành với Moukishu đều đã bị chúng ta đè xuống. Danh sách truy nã chỉ còn Osho và Ryuo là lọt lưới…”

Minamoto Chisei cau mày.

“Vậy mà vẫn có kẻ dám xâm nhập tổng bộ của chúng ta sao? Đã dám vào, chắc chắn đối phương đã chuẩn bị kỹ.”

“Không cần lo.”

Tachibana Masamune lạnh giọng.

“Khi thiết kế đã tính đến an toàn thang máy. Đừng nói súng lục, cho dù là lựu đạn cũng không thể ảnh hưởng đến vận hành của thang máy VIP. Khi bị tấn công, nó sẽ chuyển sang chế độ an toàn. Không tới 1 phút, chúng ta sẽ lên tới tầng cao nhất.”

Thang máy VIP vẫn tiếp tục đi lên, chỉ là từ siêu tốc, nó đã biến thành một chiếc thang máy bình thường, đang vận hành trong chế độ an toàn.

“Con không lo cho thang máy.”

Giọng Minamoto Chisei lạnh như băng.

“Con lo cho kẻ đang nổ súng kia… rất có thể hắn đang ở đại sảnh bích họa.”

Sắc mặt Tachibana Masamune lập tức thay đổi.

Ông móc điện thoại ra, bấm số:

“Kaguya-hime, tòa nhà chuyển sang chế độ phong tỏa toàn diện. Cấm tất cả mọi người ra vào. Đóng toàn bộ hệ thống thông gió và cống ngầm. Triển khai xạ thủ bắn tỉa!”

“Người ra lệnh: Tachibana Masamune. Người thực thi: Kaguya-hime. Mệnh lệnh hợp lệ, mệnh lệnh đã được tiếp nhận. Tòa nhà sẽ hoàn tất phong tỏa toàn diện trong 30 giây.”

Chỉ 1 giây trước, Tập đoàn Genji vẫn còn rực sáng ánh đèn.

Ngay khi mệnh lệnh được ban ra, ánh sáng tắt dần từ dưới lên trên, từng tầng một, chỉ còn đèn khẩn cấp chiếu sáng lờ mờ.

Lối thoát hiểm và cửa khẩn cấp đồng loạt khóa chặt.

Cả tòa nhà bị chia cắt thành các khu vực hạn chế.

Muốn đi từ khu này sang khu khác, chỉ có cách phá cửa hoặc phá tường, và hành động đó sẽ lập tức bị Kaguya-hime phát hiện.

Trên sân thượng, các xạ thủ bắn tỉa ồ ạt xuất hiện.

Nòng súng của họ chĩa xuống, phong tỏa toàn bộ mặt ngoài tòa nhà.

Nếu có kẻ định phá vách kính, dùng dây trượt xuống, thì trong lúc hạ độ cao, chắc chắn sẽ bị bắn hạ.

Đó là phương án an ninh đã được diễn tập vô số lần.

Mức độ bảo vệ của Tập đoàn Genji vượt xa trí tưởng tượng của Caesar.

Chỉ tiếc, đêm nay lại là lúc hệ thống an ninh yếu nhất, bởi ngày mai Sở Cảnh sát sẽ tiến hành đột kích điều tra.

“Một khi tòa nhà đã bị phong tỏa hoàn toàn,” Tachibana Masamune lạnh lùng nói, “cho dù là con chuột từ đâu chui ra… cũng đừng hòng thoát được.”

Minamoto Chisei liếc nhìn bảng số tầng.

Còn hơn 10 tầng nữa, họ sẽ tới đại sảnh bích họa.

“Nhanh! Nhanh! Nhanh! Rút lui ngay!”

Caesar vừa thay băng đạn vừa hét.

“Cùng lắm nửa phút nữa là bọn họ sẽ tới tầng này!”

Sở Tử Hàng chụp xong bức bích họa cuối cùng, cất máy ảnh, lao về phía thang máy.

Minamoto Chisei là siêu hỗn huyết chủng, đối đầu trực diện với hắn khi chưa có chuẩn bị, hoàn toàn không có cửa thắng.

Cho dù kiêu ngạo như Caesar, cũng không dại gì thử vận may.

“Thế còn Lộ Minh Phi thì sao?”

Sở Tử Hàng liếc nhìn con số tầng của thang máy chở hàng.

Dù thang máy VIP đang chạy ở chế độ an toàn…

nó vẫn sẽ đến trước.

“Cứ để họ chơi với nhau đi. Dù sao thì con rùa khổng lồ kia cũng sẽ không tin người của Cục Chấp Hành là do Lộ Minh Phi giết đâu. Cùng lắm là nhốt cậu ta lại, tra hỏi thêm vài trận.”

Caesar nhún vai.

“Chúng ta phải tin đồng đội. Tôi tin cậu ta chịu được.”

“Cậu ta chịu nổi tra tấn á?”

Sở Tử Hàng lắc đầu.

“Không chịu nổi cũng chẳng sao.”

Caesar nói tỉnh bơ.

“Cậu ta chỉ biết chúng ta từng trốn trong Takamagahara. Chúng ta rời Takamagahara là xong, cậu ta không thể khai ra thêm bất cứ thứ gì. Vậy nên, dù chịu không nổi thì cũng phải chịu, vì chẳng có thông tin nào để khai cả.”

Anh cười nhạt.

“Con rùa ấy có thể là một thằng khốn, nhưng chưa đến mức là kẻ cuồng sát muốn nuốt sống Lộ Minh Phi đâu.”

Lộ Minh Phi đơ toàn tập.

Cậu vừa mới bước vào thang máy chở hàng, còn chưa kịp mừng vì mình thoát khỏi hang ổ nguy hiểm, thì đã nghe thấy tiếng súng dồn dập vọng sang từ giếng thang bên cạnh.

Nghe kiểu này… chẳng lẽ đại ca với đàn anh đấu súng với Cục Chấp Hành rồi sao?

“Ôi cái đệt…”

Lộ Minh Phi hoảng hốt thò tay vào áo mò súng.

Dù mấy trò mưa bom bão đạn này hoàn toàn không phải sở trường của cậu, nhưng đã ra ngoài lăn lộn thì kiểu gì cũng phải có đồ phòng thân. Phim ảnh vẫn hay chiếu thế mà, nam chính nhét một khẩu súng lục nhỏ vào tay nữ chính, dịu dàng hỏi:

“Em còn nhớ anh dạy em bắn súng thế nào không?”

Rồi đến phút then chốt, chính khẩu súng nhỏ đó bắn chết trùm phản diện…

Phụ nữ trong phim hành động ai cũng nên có một khẩu súng lục.

Lộ Minh Phi nghĩ thầm:

May mà mình cũng có!

…Khoan đã, sao nghĩ nghĩ lại thấy mình đang đứng về phía “thiếu nữ yếu đuối” thế này?

Cậu nắm chặt khẩu súng, run cầm cập, luồn lách giữa đống thùng tài liệu tìm chỗ nấp.

Nhỡ đâu cửa thang máy vừa mở ra là một tràng đạn quét tới, thì cậu tiêu đời ngay tại chỗ.

Thang máy rung lắc dữ dội.

Đèn nhấp nháy vài lần rồi tắt phụt, bóng tối nuốt trọn không gian.

“Má ơi, đại ca… đây là đấu súng hay là pháo kích vậy? Rung đến mức cúp điện luôn rồi!”

Lộ Minh Phi lẩm bẩm trong sợ hãi.

Nhưng Caesar đâu có mang theo tên lửa… mà kể cả có, cũng chẳng có lý do gì để rung lắc cả tòa nhà thế này…

Đây đâu còn là đi thang máy nữa?

Cảm giác chẳng khác gì ngồi tàu hải tặc ở công viên giải trí.

Lúc làm trong Takamagahara cậu còn uống mấy ly rượu.

Lắc kiểu này thêm chút nữa chắc nôn ra hết.

Một giây sau, Lộ Minh Phi chợt tỉnh ngộ.

…Ối mẹ ơi, động đất rồi!!!

Nhật Bản là đất nước thỉnh thoảng lại rung lên một trận.

Động đất nhỏ thì coi như giải trí.

Nhưng cái cường độ này… Ít nhất cũng trên cấp 7!

Động đất nhỏ thì vui, động đất lớn là chết người!

Cảm giác mất trọng lượng ập đến.

Thang máy chở hàng mất kiểm soát, lao thẳng xuống dưới.

Má phanh cọ vào ray, kim loại gào rú, tia lửa bắn tung tóe soi sáng cả giếng thang.

Cường độ địa chấn vượt quá tiêu chuẩn thiết kế của Maruyama.

Phanh thất bại.

Thang máy chở hàng rơi tự do với gia tốc chuẩn một G, lao thẳng về phía mặt đất!

Khoảnh khắc này, chỉ có ba chữ có thể diễn tả cảm xúc của Lộ Minh Phi trước cuộc đời khốn nạn này.

Không phải kiểu gào thét hùng hồn, mà là:

“Cứu! Mạng! A——!!!”

Tachibana Masamune bị hất mạnh vào vách thang máy, trán bê bết máu.

Phản xạ của ông vốn nhanh hơn người thường rất nhiều, đáng lẽ không đến mức thảm hại như vậy.

Nhưng khi sóng chấn động ập tới, ông đang hai tay cầm súng ổ xoay, nhắm vào cửa thang máy, toàn bộ tinh thần dồn vào phía trước, hoàn toàn không kịp đề phòng cabin lắc lư như tàu hải tặc.

Không phải “rung”, mà là lắc.

Biên độ vượt quá 1m.

Tòa cao ốc mang theo tất cả những người bên trong đung đưa qua lại.

Trong mắt đa số mọi người, nhà chọc trời luôn đứng yên, vững như bàn thạch.

Nhưng đó chỉ là ảo giác.

Khung xương của những tòa nhà này là thép, mà thép không chỉ cứng, nó còn dẻo.

Khi chịu ngoại lực, nó sẽ cong để giảm chấn, rồi bật trở lại.

Với độ cao của Tập đoàn Genji, chỉ cần gió lớn, tầng cao nhất cũng có thể lắc với biên độ hàng chục cm.

Chỉ là so với tổng chiều cao của tòa nhà thì quá nhỏ, con người bình thường không đo đạc nên thường bỏ qua.

Nhưng trong một trận động đất cường độ cao, khi sóng địa chấn quét qua, toàn bộ khu Shinjuku rung chuyển.

Những tòa nhà chọc trời đung đưa như rừng tuyết tùng giữa bão lớn.

Minamoto Chisei cắm Kumokiri vào vách thang máy, giữ vững thân thể, đồng thời kéo Tachibana Masamune đứng dậy.

Thang máy dừng hẳn.

Cáp thép giật căng vô ích, nhưng cabin kẹt cứng trong ray, không nhúc nhích.

Thang máy VIP có tiêu chuẩn vượt xa thang hàng, về mặt thiết kế, nó chịu được động đất cấp 9.

Nhưng chịu được không có nghĩa là vẫn vận hành bình thường trong cấp 9.

Sóng địa chấn khiến giếng thang bị cong vênh.

Dù thiết kế của Maruyama có ưu tú đến đâu, cũng không thể để thang máy chạy trong một giếng thang bị uốn cong.

Điện thoại trong túi áo khoác rung lên.

Minamoto Chisei lấy ra xem.

Tin nhắn từ chính quyền thành phố:

Cảnh báo động đất:

Mười lăm giây trước, Tokyo xảy ra động đất nông, cường độ khoảng 6,5 độ.

Sóng địa chấn sẽ đến Saitama sau 15 giây, và Yokohama, Osaka sau 30 giây.

Đề nghị người dân chuẩn bị phòng tránh.

“Động đất… lại đúng vào lúc này!”

Tachibana Masamune cũng đang nhìn điện thoại.

Tòa nhà vẫn đang trong trạng thái phong tỏa toàn diện.

Nghĩa là con chuột vẫn chưa trốn thoát.

Nhưng nếu không giải phong tỏa, thì người trong tòa nhà không thể sơ tán.

Cán bộ Cục Chấp Hành thì còn ổn, họ là những kẻ liều mạng, gặp động đất cũng có thể giữ bình tĩnh.

Nhưng trong tòa nhà này còn có những nhân viên tăng ca bình thường.

Bên ngoài vang lên tiếng bước chân dồn dập.

Mọi người đang làm theo Kế hoạch Ứng phó Động đất đã được diễn tập:

Trưởng phòng chỉ huy tổ trưởng, tổ trưởng dẫn nhân viên, từng người rời văn phòng theo trật tự, phân luồng về các lối thoát hiểm khác nhau.

Nhật Bản là đất nước quen với động đất.

Người Nhật cũng nổi tiếng tuân thủ kỷ luật, thường thể hiện sự bình tĩnh vượt mức bình thường.

Nhưng sự bình tĩnh ấy không thể kéo dài lâu.

Khi họ đến lối thoát hiểm, họ sẽ phát hiện ra:

Tất cả cửa an toàn đều bị khóa.

Không một thẻ ra vào nào mở được.

Từ trưởng phòng đến nhân viên bình thường, không ai ngoại lệ.

Không ai không sợ chết.

Khi họ nhận ra mình có thể bị chôn sống trong tòa nhà này, kỷ luật sẽ sụp đổ.

Họ sẽ xô đẩy, giẫm đạp, đập phá bằng mọi thứ trong tay để tìm đường thoát thân.

Đến lúc đó, chưa cần động đất giết người, chính hoảng loạn sẽ gây ra thương vong.

“Không ổn.”

Minamoto Chisei trầm giọng.

“Phải giải phong tỏa.”

“Không thể!”

Tachibana Masamune quát lên, lấy khăn tay che trán, máu không ngừng thấm ra.

“Nếu người ngoài thật sự nhìn thấy bích họa, sao chép rồi mang đi, hậu quả không chỉ là vài mạng người! Nó có thể ảnh hưởng đến hàng trăm, hàng ngàn người! Những bí mật đó tuyệt đối không được tiết lộ! Chuyện này sẽ sớm kết thúc thôi! Sau khi khóa cửa an toàn, kẻ xâm nhập không thể thoát khỏi đại sảnh bích họa! Ta đã mở một lối cầu thang cứu hỏa. Người ở kho lưu trữ đang chạy về phía đó! Năm, sáu phút nữa là tới!”

Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!