Chúng tôi vẫn tiếp tục sống dưới một mái nhà, vẫn gọi nhau bằng những danh xưng "gia đình bốn người", nhưng đó chỉ còn là một cái vỏ bọc rỗng tuếch. Kể từ cái đêm định mệnh ấy, mẹ tôi dường như đã đánh rơi tiếng nói ở một nơi nào đó xa xăm mà bà chẳng buồn đi tìm lại. Bà lặng lẽ như một cái bóng in trên vách tường, ngay cả với tôi, đứa con mà bà mực thước yêu thương, bà cũng chỉ đáp lại bằng những ánh mắt mông lung, buồn bã. Bố tôi cũng chẳng khá khẩm hơn, ông hầu như không còn thiết tha gì cái tổ ấm này, thỉnh thoảng mới tạt qua nhà như một người khách lạ ghé chân rồi lại vội vã rời đi.
Căn nhà vốn đã thưa vắng tiếng cười, nay lại chìm hẳn vào một thứ im lặng đặc quánh, nặng nề đến mức tôi cảm giác như mình đang lặn sâu dưới đáy một hồ nước đục, nơi mỗi hơi thở đều trở nên khó khăn và ngộp thở. Những bữa cơm vẫn được mẹ bày biện đủ đầy trên bàn, nhưng không khí thì lạnh lẽo như thể được ướp bằng băng đá. Chỉ có tiếng muỗng va chạm vào bát sứ nghe lách cách, lách cách lạc lõng, tiếng nhai nhỏ giọt và những ánh mắt luôn tìm cách né tránh nhau một cách tội nghiệp. Tôi dần học được cách chung sống với sự im lặng ấy, nhưng "quen" không có nghĩa là lòng tôi đã bớt đi nỗi sợ hãi mơ hồ về một điều gì đó còn khủng khiếp hơn sắp sửa xảy ra.
Trong cơn bão ngầm ấy, chị tôi cũng thay đổi đến mức tôi không còn nhận ra người chị hiền lành ngày nào nữa. Tôi không biết chính xác chuyện gì đã len lỏi vào tâm hồn chị, chỉ thấy trong đôi mắt chị giờ đây lấp lánh một thứ ánh sáng lạ lùng, vừa nổi loạn lại vừa cay đắng, thứ ánh sáng mà một thằng nhóc như tôi chưa đủ vốn liếng ngôn từ để miêu tả cho rành rọt.
Chị bắt đầu những chuyến đi biệt tăm qua đêm, có khi mãi đến lúc bình minh bắt đầu ló dạng mới thấy bóng dáng chị mệt mỏi trở về. Mỗi khi tôi tò mò gặng hỏi, chị chỉ nở một nụ cười gượng gạo, thứ nụ cười mỏng manh như một cánh hoa sắp rụng, rồi khẽ xoa đầu tôi thay cho câu trả lời, trước khi quay lưng bước đi, để lại tôi ngơ ngác giữa những câu hỏi chưa có lời giải đáp.
Nhưng số phận dường như vẫn đang chơi trò trốn tìm với tôi. Được về lại nhà cũ, nhưng cánh cửa ngôi trường cũ thân quen lại vĩnh viễn đóng sập trước mắt tôi. Thay vào đó, tôi bị đẩy sang một ngôi trường tiểu học khác, xa hơn, nhỏ hơn, và trông cũ kỹ như một món đồ chơi bị bỏ quên trong xó bếp. Vậy là chỉ trong vòng một năm ngắn ngủi, tôi đã phải thay tới ba bộ phù hiệu trên ngực áo. Sự thay đổi chóng mặt ấy khiến tôi thấy mình giống như một con quay bị quất quá mạnh, cứ xoay tít mù giữa những gương mặt xa lạ mà chẳng kịp bám vào một cành củi khô nào để đứng vững.
Lần này, tôi tự nhủ mình đã "lão luyện" hơn, đã có đủ vốn liếng kinh nghiệm để không còn là thằng nhóc lóng ngóng như ngày đầu xuống phố. Ngày khai giảng ở trường mới, tôi đứng trước lớp, dõng dạc giới thiệu bản thân một cách trơn tru, rõ ràng như một diễn viên đã thuộc làu kịch bản. Tôi thầm nghĩ, ít nhất cái vẻ tự tin này sẽ là chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa thiện cảm của đám bạn mới. Nhưng trớ trêu thay, khi tôi vừa dứt lời, cả lớp lại bùng lên một tràng cười nổ tung như pháo rang. Chẳng ai giải thích lý do, cũng chẳng ai nói tôi sai ở chỗ nào. Tôi đứng ngây người giữa bục giảng, mặt đỏ rần như gấc chín, thấy mình giống như một chú hề vừa diễn hỏng một tiết mục mà chính mình cũng không hiểu tại sao nó lại nực cười đến thế. Cô giáo cũng chỉ nở một nụ cười nhạt nhẽo rồi hất hàm bảo tôi về chỗ ngồi.
Lần này, chẳng có "thiên sứ" nào xuất hiện để dắt tôi đi tham quan trường. Không một lời hỏi han, không một cái bắt tay làm quen. Cái cảm giác bị bỏ mặc, bị coi như một thứ phụ tùng dư thừa giữa một tập thể đang vận hành trơn tru khiến tôi thấy có một cục nghẹn cứ chực chờ dâng lên nơi cổ họng.
Đến ngày thứ ba, bi kịch thực sự mới bắt đầu, và nó bắt nguồn từ chính bộ đồng phục trên người tôi. Vì mẹ chưa kịp lĩnh lương để mua bộ đồ mới, tôi đành phải mặc tạm bộ đồng phục của ngôi trường cũ. Tôi biết mình trông lạc quẻ lắm, giống như một nốt nhạc lạc điệu trong một bản hòa tấu đang đồng thanh.
Sự im lặng ban đầu nhanh chóng bị phá vỡ khi có một thằng bắt đầu lên tiếng giễu cợt, rồi cả lũ lập tức hùa theo như một bầy kiến đánh hơi thấy miếng mồi ngon. Qua những lời châm chọc cay nghiệt, tôi bàng hoàng nhận ra một sự thật oái oăm: học sinh trường này ghét trường cũ của tôi cay đắng. Những thất bại từ giải bóng đá đến các cuộc thi thi đua từ đời thuở nào đã biến thành một thứ ghen tị truyền kiếp, và giờ đây, tất cả sự thù ghét ấy bỗng dưng đổ ập lên đầu tôi - kẻ duy nhất mang trên ngực áo cái tên "kẻ thù".
Chúng nó chỉ trỏ, trêu chọc, ném vào mặt tôi những câu nói lạnh lùng như gạch đá: "Cút về cái trường hạng ba của mày đi!". Mỗi lần nghe thấy, tôi đều cố giả vờ điếc, cố nhìn đăm đăm vào trang vở, nhưng tôi càng im lặng thì chúng càng hăng máu bày ra đủ trò để thu hút sự chú ý. Lúc ấy, tôi bỗng thèm đến quay quắt những ngày xưa cũ. Tôi nhớ những lần nghịch ngợm bị thầy cô quở mắng, nhưng ít ra lúc đó tôi còn có những thằng bạn sẵn sàng chịu phạt cùng. Còn ở đây, giữa ngôi trường nhỏ bé và cũ kỹ này, tôi chỉ là một kẻ đứng bên lề cuộc chơi, một kẻ ngoài cuộc cô độc không hơn không kém.
...
Đến tuần thứ ba ở ngôi trường mới, mọi chuyện vẫn chẳng khấm khá hơn là bao, nếu không muốn nói là tệ hại hơn một chút. Giờ ra chơi, trong khi sân trường vang động tiếng hò reo của những "vương quốc" mà tôi không có vé vào cửa, tôi chọn cách ngồi lại trong lớp, mải miết vẽ để trốn tránh thực tại. Tôi vẽ Son Goku - vị anh hùng với sức mạnh vô song mà ngày bé tôi vẫn hằng ao ước mình có thể trở thành, để chỉ cần một cái gồng mình là có thể đánh bay mọi nỗi buồn phiền đang bủa vây.
Nhưng khi nét vẽ cuối cùng vừa hoàn thiện, một đám bạn bỗng kéo đến quanh bàn tôi. Chẳng một lời hỏi han, chúng giật phăng tờ giấy khỏi tay tôi bằng một sự thô bạo đầy thích thú. Chúng chuyền tay nhau bức tranh, cười hô hố và nhại lại những dòng chú thích tôi viết bằng cái giọng ngọng nghịu, giễu cợt. Rồi, như một hành động kết liễu, một đứa vo tròn tờ giấy lại rồi ném nó vào góc lớp như ném một mẩu rác không hơn không kém. Tờ giấy lăn lóc giữa bụi bặm, nhàu nát và bẩn thỉu. Tôi chỉ biết lặng người nhìn theo, đôi môi run lên bần bật nhưng chẳng thể thốt ra lấy một lời phản kháng. Tôi vội vàng cúi gằm mặt xuống mặt bàn gỗ, cố giấu đi đôi mắt đang nóng ran, giấu đi cả khuôn mặt đang nhòe đi vì tủi nhục.
Có một buổi tối nọ, trong bữa cơm chỉ có hai mẹ con dưới ánh đèn vàng vọt, tôi đã đem hết can đảm để thốt ra nỗi lòng mình. Tôi nói với mẹ rằng tôi thấy mình lạc lõng quá, rằng tôi chẳng thể nào hòa nhập được với ngôi trường mới này và xin mẹ cho tôi được quay về trường cũ.
Nhưng trớ trêu thay, phản ứng của mẹ lại là một gáo nước lạnh dội thẳng vào niềm hy vọng cuối cùng của tôi. Chẳng hiểu vì cơn cớ gì, mẹ bỗng bùng lên một cơn giận dữ kinh người. Bà đặt mạnh chiếc bát xuống mâm kêu cạch một cái chói tai, rồi bao nhiêu uất ức bấy lâu nay bỗng tuôn ra thành những lời chửi bới cay độc. Mẹ bảo tôi là thứ ăn hại, là kẻ vô tích sự đã hủy hoại cả cuộc đời bà. Bà gào lên rằng tất cả những khổ sở bà đang gánh chịu, việc phải bỏ chạy rồi lại phải lủi thủi quay về cái nơi này, thảy đều là lỗi tại tôi.
Tôi ngồi chết trân trước mâm cơm đang nguội lạnh, lòng bàng hoàng không sao hiểu nổi. Tôi đã làm gì sai? Tôi chỉ là một đứa trẻ mải miết chạy theo những quyết định của người lớn như một chiếc lá cuốn theo dòng nước, vậy mà tại sao cuối cùng tôi lại trở thành "tội đồ" trong mắt mẹ?
Kể từ tối hôm đó, tôi vĩnh viễn đóng sập cánh cửa lòng mình. Tôi không bao giờ nhắc lại chuyện trường lớp hay những nỗi buồn của mình với mẹ nữa. Tôi học được cách giấu nỗi đau vào một ngăn kéo bí mật, khóa chặt lại và vứt chìa khóa xuống đáy sâu của sự lặng im.
...
Rồi một hôm trời nắng gắt như muốn thiêu cháy cả nhà đa năng trong tiết thể dục. Thầy giáo bắt cả lớp chạy vòng quanh, và tôi, với thân hình nhỏ thó như một nhánh củi khô lặc lè bám theo sau cùng. Giữa lúc tôi đang cố hít hà chút không khí oi nồng, một bàn tay thô bạo từ phía sau giật mạnh lấy vạt áo khoác. Tôi ngã chổng vó, lưng đập xuống nền xi măng kêu uỵch một cái khô khốc. Đau buốt. Áo khoác của tôi rách một đường dài, trơ cả lớp vải lót bên trong như một vết thương hở. Đám bạn đứng quanh cười hô hố, có đứa còn uốn éo bắt chước dáng ngã của tôi để làm trò cười cho cả bọn.
Tôi nuốt nước mắt vào trong, bụi bám đầy lòng bàn tay rướm máu, lầm lũi tìm đến cô giáo với hy vọng cuối cùng về một sự che chở. Nhưng cô chỉ nhìn tôi bằng ánh mắt hờ hững, buông một câu hỏi mà tôi thấy nó giống như một bản án hơn là lời hỏi han:
"Cậu làm gì mà để chúng nó ghét đến thế?"
Câu nói ấy khiến tôi đứng sững như trời trồng. Hóa ra trong mắt người lớn, kẻ bị bắt nạt mới chính là kẻ có lỗi. Tôi cúi đầu, lặng lẽ quay về chỗ ngồi, mang theo một vết rạn mới trong lòng.
...
Rồi lại vài hôm sau, cô chủ nhiệm nghỉ ốm. Thay vào đó là một giáo viên lạ hoắc, bà chẳng mảy may để tâm đến cái lớp học đang nhốn nháo như một cái chợ vỡ. Đám bạn tôi như được tháo cũi sổ lồng, chúng nó hò hét, đẩy bàn ghế xê dịch loảng xoảng. Tôi ngồi thu mình trong góc lớp, cố mải miết viết nốt bài tập để quên đi sự tồn tại của thế giới chung quanh.
Thằng bạn ngồi cạnh, kẻ luôn coi tôi là cái bao cát để xả cơn bực dọc, ngó sang nhìn tôi bằng vẻ nhếch mép khinh bỉ. Rồi chẳng nói chẳng rằng, nó giật phắt cây bút trong tay tôi, ném vèo qua cửa sổ. Cây bút va vào tường rồi rơi xuống sân, nằm đơn độc giữa nắng bụi. Cả đám gần đó lại phá lên cười, một tràng cười quen thuộc đến phát lợm giọng.
Ngay lúc đó, tôi thấy có một cái gì đó trong đầu mình bỗng dưng... rắc.
Nó giống như tiếng gãy của một cành cây khô dưới sức nặng của quá nhiều lớp tuyết. Tôi không thấy giận dữ, cũng chẳng thấy run rẩy, chỉ thấy một khoảng trống thênh thang đến đáng sợ. Tôi lao vào nó. Không hét, không gào, tôi chỉ lặng lẽ đấm. Tôi đấm như phát dại, đấm vào gáy, vào lưng, vào bất cứ chỗ nào bàn tay tôi chạm tới. Tiếng bàn ghế đổ kềnh, tiếng hô hoán náo loạn xung quanh bỗng chốc mờ đi. Lúc đó, bàn tay tôi như đã không còn thuộc về tôi nữa, nó hành động theo một bản năng nguyên thủy nhất để bảo vệ chút tự trọng cuối cùng đang bị giẫm đạp.
Khi mọi người lôi tôi ra, tay tôi run bần bật. Tôi nhìn thấy vết máu đỏ tươi hiện lên sau đầu nó, nhưng lạ thay, đó không phải là máu của nó. Tôi nhìn xuống bàn tay mình, da thịt rách tươm, rỉ máu. Tôi thở dốc, rồi bỗng nhiên bật khóc nức nở. Không phải tôi sợ bị phạt, có lẽ tôi khóc vì cái cảm giác sụp đổ hoàn toàn của bản thân mình.
Bà giáo dạy thay lao đến, mặt tái mét. Bà chẳng thèm hỏi đầu đuôi xuôi ngược, vung tay tát tôi một cái nảy lửa. Tiếng bà gằn lên, đầy vẻ miệt thị:
"Đánh nhau còn khóc à? Mày khóc lóc trông như đàn bà ấy!"
Cái tát ấy khiến mặt tôi bỏng rát, nhưng nó chẳng đau bằng sự khinh miệt trong lời nói của bà. Tôi đứng im, nước mắt vẫn cứ thế tuôn rơi. Cả lớp nhìn tôi, đứa cười cợt, đứa im lặng cúi đầu. Nó được người ta dìu đi, còn tôi bị lôi lên văn phòng như một kẻ tội đồ vừa gây ra một trọng tội không thể tha thứ.
Ngày hôm sau, mẹ tôi được mời đến trường. Mẹ không mắng tôi lấy một lời, chỉ nhìn tôi bằng một ánh mắt dài thật dài, chứa đựng cả sự mệt mỏi lẫn nỗi buồn sâu thẳm. Khi nhà trường tuyên bố kỷ luật một tuần, tôi chỉ khẽ gật đầu, không một lời giải thích hay biện minh. Bởi vì vào khoảnh khắc ấy, tôi chợt hiểu ra một điều: trong thế giới này, nếu mình không tự đứng vững trên đôi chân của chính mình, thì ngay cả nước mắt cũng bị người ta coi là một loại tội lỗi.
...
Thời gian thấm thoát thoi đưa.
Ngày tôi tốt nghiệp cấp một, trời oi nồng đến mức không khí cũng trở nên đặc quánh như thể người ta vừa đổ thêm mật vào nắng. Sân trường náo nhiệt như một cái chợ vỡ, nhưng là một cái chợ đầy nước mắt. Đám bạn cùng lớp tôi đứa nào đứa nấy khóc sướt mướt, chúng ôm chầm lấy nhau, tranh nhau ký những dòng chữ nguệch ngoạc lên vai áo, lưng áo, như thể sợ rằng chỉ cần rời mắt nhau một giây thôi là mọi kỷ niệm sẽ tan biến vào hư không.
Còn tôi, tôi ngồi trên băng ghế đá cuối cùng, lặng lẽ như một dấu chấm nhỏ bị bỏ quên dưới trang giấy. Tôi nhìn đám bạn, rồi nhìn lên bục giảng, nơi cô giáo đang sụt sùi nói những lời tạm biệt sau cùng. Cô nhắc đến hai chữ "kỷ niệm", nhắc đến "tuổi thơ trong sáng", giọng cô run run vì xúc động. Những lời ấy đi ngang tai tôi nhẹ hẫng như một cơn gió mùa hạ thổi qua những tán lá khô. Thú thật, tôi chẳng thấy buồn, cũng chẳng thấy vui. Tôi chỉ thấy lòng mình nhói lên một cái, một nỗi đau âm ỉ của kẻ bị bỏ lại giữa một dòng sông đang chảy xiết. Tôi cũng muốn được giống như chúng nó, muốn được một lần oà khóc, muốn được ôm một ai đó thật chặt để cảm thấy mình thực sự là một phần của ngôi trường này. Nhưng đôi tay tôi cứ lóng ngóng, vụng về, chẳng biết phải đặt vào đâu cho phải.
Cuối cùng, tôi chọn cách đứng dậy, đi loanh quanh trong sân trường với một vẻ bận rộn gượng gạo. Tôi cố giả vờ như mình cũng đang tìm kiếm một gương mặt quen thuộc nào đó để chụp ảnh, cũng đang loay hoay xin một chữ ký cuối cùng lên vạt áo đồng phục. Thấy một nhóm bạn đứng gần cổng trường đang nói cười rôm rả, tôi rụt rè tiến lại gần. Tôi chẳng định nói gì cao siêu, chỉ đơn giản là... tôi sợ cái cảm giác phải đứng một mình giữa ngày hội của sự gắn kết.
Nhưng vừa thấy bóng tôi, một thằng trong nhóm quay lại. Nó nhìn tôi từ đầu đến chân bằng một ánh mắt sắc lẹm, rồi nhếch mép cười một cái đầy khinh bỉ. Nó buông ra một câu nói nhẹ tênh nhưng lạnh thấu xương:
"Cút về cái trường cũ của mày đi, ở đây chẳng có ai thèm chào đón mày đâu."
Mấy đứa xung quanh cười hùa theo, một tràng cười nghe lạo xạo như tiếng sỏi đá va vào nhau. Tôi đứng im tại chỗ mất vài giây, chẳng nói gì, cũng chẳng muốn phản kháng. Cơn giận hay nỗi buồn dường như đã bị sự trống rỗng trong lòng nuốt chửng từ bao giờ. Tôi quay lưng, lầm lũi bước ra phía cổng trường.
Trước khi đi hẳn, tôi dừng lại nhìn ngôi trường lần cuối. Mái ngói đỏ đã ngả màu rêu phong, những mảng tường bong tróc từng mảng lớn, và hàng phượng vĩ vẫn cứ thản nhiên rụng xuống những cánh hoa đỏ thắm, rải đầy trên nền đất như những giọt máu của mùa hè.
Tôi khẽ tự nhủ với chính mình: "Ừ, chắc là thật. Mình vốn chẳng thuộc về nơi này."
Tôi lẳng lặng ra về. Không một tấm ảnh làm kỷ niệm, không một chữ ký vắt vẻo trên vai áo, cũng chẳng có lấy một lời tạm biệt tử tế. Chỉ có tôi, chiếc cặp sờn rách, và con đường bụi mờ dẫn về nhà, con đường mà từ nay, tôi sẽ phải tự đi một mình với một trái tim đã bắt đầu biết cách khép cửa.
2 Bình luận
Tui vẫn sẽ giữ nguyên quân điểm là truyện được viết ra từ đời tác giả, cơ mà bảo nhiêu phần trăm thì không còn chắc nữa...
Vì có lẽ cách tác giả không cho nhân vật một cái tên là đang ngụ ý rằng: bất cứ ai cũng có thể phải trải quá trauma giá đình..
Mà thực ra giờ tui có nghĩ thế nào thì cũng là thành công của tác rồi =v
Nghĩ đây là tự truyện chứng tỏ trình tác đủ cao để khiến người đọc nghĩ tình huống trong truyện là có thật.
Mà không nghĩ đây là tự truyện thì tác lại thành công trong việc ẩn đi đời tư;-;...