Một cô gái đang bơi giữa đại dương mênh mông. Trên gương mặt vẫn còn phảng phất nét ngây thơ non trẻ. Nàng thỏa thích vẫy vùng, để mặc mái tóc bạc tung bay tự do dưới làn nước xanh thẳm.
Thế nhưng, lúc này mới chỉ là đầu xuân — thời điểm mà ngay cả trên đất liền, hơi thở mùa xuân cũng chỉ vừa khe khẽ vọng về từ phương xa. Nước biển vẫn còn lạnh buốt, đủ để làm cứng đờ thân thể bất kỳ ai dám ngâm mình quá lâu. Ấy vậy mà cô gái chỉ mặc một dải vải rộng quấn trước ngực, che đi khuôn ngực nhỏ nhắn, cùng chiếc váy da thô mộc kiểu của dân chài và thợ săn. Hoàn toàn không phải thứ có thể chống lại cái lạnh cắt da.
Dù vậy... nàng vẫn bơi vun vút giữa làn nước lạnh giá, nhanh tới mức khiến cả đàn cá cũng phải kinh ngạc. Trên khuôn mặt rạng rỡ kia chẳng hề vương chút uể oải hay khó chịu nào, tựa như cái lạnh không thể chạm đến nàng. Nhưng điều này, thực ra, chẳng có gì đáng ngạc nhiên.
Bởi thứ nàng đang dùng để vẫy mạnh lên xuống, như muốn xé đôi mặt biển, không phải là đôi chân người, mà là một chiếc đuôi khổng lồ. Phần thân dưới của nàng không chia làm hai chân như nhân loại, mà liền một mạch kéo dài xuống, kết thúc bằng một chiếc vây lớn hình bán nguyệt đặt nằm ngang.
Nàng là một người cá — chủng tộc nửa người nửa cá, được cho là tạo vật của Thủy Thần.
Cô gái người cá phát hiện một đàn cá nhỏ đang dồn tụ thành một khối dày đặc như mây vần dưới nước. Với nụ cười tinh nghịch nhếch lên nơi khóe môi, nàng uốn người lao đi, vẽ thành một vòng cung rộng lớn rồi bất ngờ chúi đầu vào giữa đàn cá. Đàn cá nhỏ hoảng loạn, vỡ tung, tản ra tứ phía bởi đòn tập kích bất ngờ ấy.
Thỏa mãn trước cảnh hỗn loạn mình gây ra, nàng đánh mạnh chiếc vây, lao thẳng lên mặt nước, nhô đầu lên khỏi làn sóng.
"Aahh! Vui quá trời!"
Đã lâu lắm rồi nàng mới được bơi thỏa thích đến vậy. Vì bị cấm rời khỏi phạm vi vương quốc, nàng chưa từng được quẫy nước hết tốc lực. Hơn nữa, quanh khu vực vương quốc luôn đầy những ánh mắt theo dõi, khiến nàng lúc nào cũng thấy gò bó. Chán ngán những ràng buộc đó, nàng đã lén lút trốn khỏi sự canh chừng của bà vú già và bơi một mạch đến vùng nước gần bờ — nơi cách xa vương quốc.
Giờ chắc bà vú đang cuống cuồng vì không thấy ta đâu. Nghĩ đến cảnh bà chạy đôn đáo tìm mình, cô gái bật cười thầm thích thú. Nhưng... nếu còn không quay về, chắc ta cũng thấy tội cho bà ấy mất.
Vừa đưa ra quyết định ấy, nàng định lặn xuống trở lại thì bỗng một tia lấp lánh lóe lên ở rìa tầm mắt, kéo sự chú ý của nàng lại.
Cái gì thế nhỉ? Hình như có thứ gì đó đang tỏa sáng lấp lánh từ phía bờ...
Cô gái bơi thẳng về phía bờ, rõ ràng sự tò mò đã hoàn toàn bị khơi dậy trong lòng.
"...! Là... một cái gương."
Đó là một chiếc gương cầm tay. Có lẽ nó đã bị sóng đánh dạt vào bờ cùng hành lý của một con thuyền đắm nào đó. Mặt gương phản chiếu ánh mặt trời từ chỗ bị vùi một nửa trong cát, khiến nó lấp lánh lạ thường.
Cô gái nuốt khẽ một ngụm nước bọt. Gương là vật quý giá. Với người cá thì lại càng quý hơn nữa. Bằng chứng rõ nhất chính là tấm gương khổng lồ được đặt như một món trang trí phía sau ngai vàng của các đời Nữ vương. Tương truyền rằng tấm gương ấy được tìm thấy khoảng trăm năm về trước trong xác một con thuyền đắm; và người thường mang nó dâng lên hoàng tộc chẳng những được ban quyền thu thuế của trăm hộ dân, được phong làm quý tộc, mà còn được Nữ vương thuở ấy gả cho công chúa út.
Hơn thế nữa, với người cá, gương lại càng hiếm lạ. Trên mặt đất, gương thường là những tấm đồng được mài đến sáng bóng. Nhưng chỉ cần tiếp xúc với nước biển mặn một thời gian ngắn thôi, chúng sẽ lập tức mờ đục. Vì vậy, để giữ được vẻ sáng trong, phải thường xuyên đem đi đánh bóng lại, tốn kém vô cùng.
Bởi lẽ đó, gương với người cá là vật vừa quý vừa đắt. Huống hồ nàng đang ở tuổi bắt đầu quan tâm đến diện mạo của chính mình — chuyện nàng khao khát có một chiếc gương thật, thay vì chỉ nhìn bóng mình qua mặt nước đổ vào khay, cũng là điều dễ hiểu.
Nàng nhanh chóng quan sát xung quanh. Từ lâu nàng đã nghe kể về loài người xấu xa bắt đồng loại của mình đem lên đất liền bán làm nô lệ. Vì thế, nàng đã bị cảnh báo đến mức... tai muốn rách ra cũng không được bén mảng lên bờ.
Thế nhưng, xung quanh nơi chiếc gương nằm không hề thấy bóng người nào. Lại thêm vị trí ấy là một eo biển nhỏ, phần bờ đá duy nhất lõm vào tạo thành hốc. Nếu vào đó, có lẽ nàng sẽ không bị phát hiện, ngay cả khi trườn hẳn lên bờ.
Hạ quyết tâm, cô gái rời mặt nước, dùng hai tay kéo lê phần thân dưới nặng nề.
Ngay khi vừa định đặt tay lên chiếc gương còn nửa vùi trong cát, một tiếng thét khàn khàn của đàn ông bỗng vang lên:
"Ngay lúc này!! Tóm nó!"
Cô gái giật bắn người. Một tấm lưới phóng xuống trùm lấy thân nàng. Lập tức, nàng cố vùng thoát, quạt tay loạn xạ, nhưng chỉ khiến thân mình càng bị siết chặt hơn trong những mớ dây thừng đan.
"Nhanh lên! Bịt miệng nó lại! Mau!!"
Từng người đàn ông một nhảy bật ra khỏi cái rãnh nông trên bãi cát—một hố dài giống chiến hào mà bọn chúng đã đào sẵn để ẩn mình. Chúng lập tức ùa đến, vây kín cô gái đang mắc kẹt trong tấm lưới. Nàng cố gắng hét lên, nhưng miệng đã bị bịt lại bởi một mảnh vải bốc mùi chua hăng. Hai tay vốn đang vùng vẫy trong hoảng loạn cũng bị những gã đàn ông chặn lấy, xoắn lại rồi trói chặt bằng dây thừng.
"Mau lên! Chúng ta phải rời khỏi đây ngay!"
Tiếng quát thô lỗ và bước chân sầm sập của đám đàn ông dần khuất xa. Ngay sau đó, bãi biển lại chìm vào tĩnh lặng. Chỉ còn những con sóng nhỏ lăn tăn thay phiên nhau vỗ lên bờ cát hoang vắng.
◆◇◆◇◆
Ngay sau khi Souma tạm biệt Menahem và Yoash, lời mời đến Jeboa từ Thương hội Shapiro đã được gửi tới cậu. Nhận được thư, Souma cảm thấy như có một luồng khí nhẹ nhõm thoát ra khỏi lồng ngực. Bởi lẽ người mà cậu vừa tiếp đãi không ai khác ngoài chủ tịch Thương hội Shapiro—kẻ vốn luôn nhận được sự tiếp đón xa hoa, cầu kỳ ở bất cứ nơi nào ông ta đặt chân tới. Để nhận được thư mời đến Jeboa từ một người như thế, Souma cần phải khiến ông ta thực sự vừa lòng.
Khi Souma hỏi ý Yoash vì không biết phải tiếp đãi Menahem như thế nào cho tốt, thứ duy nhất cậu moi được từ hắn chỉ là lời khuyên vô tích sự đến bất ngờ:
"Cứ làm như bình thường thôi. Cậu vẫn đối xử với ta thế nào thì cứ thế mà làm."
Nói thì dễ, nhưng cái gọi là "bình thường" ấy, khi Yoash đến Bolnis, chỉ đơn giản là mời hắn thưởng thức những món ăn Nhật hiện đại mà Souma và đầu bếp Marco đã tái hiện. Cậu chẳng hề tặng Yoash món quà đắt đỏ nào, cũng không tổ chức đại yến tiệc long trọng. Souma cứ thấp thỏm không biết chỉ từng ấy có đủ làm vừa lòng Menahem hay không.
Và đúng như cậu lo lắng, phản ứng của Menahem tuyệt chẳng mấy hứa hẹn. Lúc đầu ông ta còn nở nụ cười hiền hòa, nhưng càng về sau, gương mặt ấy càng dần căng cứng mỗi lần họ dùng bữa. Dù ông ta không ngừng khẳng định rằng mình rất thích các món ăn, Souma vẫn cảm nhận rõ ràng rằng khẩu vị của Menahem có lẽ chẳng hợp với cách nấu của cậu. Cậu đã cố thay đổi đủ loại món, mong rằng sẽ có món hợp miệng ông ta, nhưng kết quả lại phản tác dụng—cuối cùng Menahem trông còn có vẻ... khổ sở.
Souma âm thầm chán nản, cảm giác như mình đã bị Yoash—kẻ trái ngược hoàn toàn, luôn ăn trong niềm hân hoan vô bờ bến—lừa cho một vố to.
Nhưng... việc thư mời đến Jeboa được gửi nhanh như vậy, hẳn là mình đã vượt qua được cửa ải của Menahem ở mức chấp nhận được.
Song song với cảm giác nhẹ nhõm đó, Souma vội vã chuẩn bị cho chuyến đi như thể lo rằng Menahem sẽ đổi ý bất cứ lúc nào. Và vào ngày cậu chuẩn bị rời Bolnis, Jahangil lại một lần nữa bước lên cỗ xe ngựa.
Vị chiến binh tộc người khủng long ấy—lúc nào gương mặt cũng khó đoán như tạc từ đá—lại tiếp tục xuất hiện và đòi đi theo Souma mà chẳng thèm báo trước. Chuyện này đã xảy ra quá nhiều lần, đến mức cả Souma lẫn Shyemul chẳng còn đủ tinh thần để phàn nàn nữa. Tuy vậy... không thể nào bỏ qua hình ảnh Jahangil mang theo đủ loại vũ khí, thở phì phò qua lỗ mũi như thể chuẩn bị lao vào chiến trường được.
"Ờm... ông Jahangil... bộ dạng hôm nay là... sao vậy...?" Souma rụt rè hỏi.
Jahangil hừ mạnh một tiếng, như thể không hiểu nổi vì sao Souma lại hỏi một điều ngớ ngẩn đến thế.
"Chúng ta sắp xâm lược Jeboa, đúng chứ? Cứ giao hết cho ta!"
Có vẻ hắn đã nghe đâu đó câu nói của Solon.
"Không, không... chuyện xâm lược đó chỉ là ví von thôi. Chúng ta đâu có định gây chiến với họ thật đâu."
Holmea sắp sửa tấn công về phía này, trong tình cảnh ấy mà lại biến Jeboa—ở ngay sau lưng mình—thành kẻ thù thì đúng là tự sát.
Sau khi Souma giải thích tường tận, Jahangil chớp đôi con ngươi dọc của mình vài lần. Hắn đứng im bất động một lúc như hóa đá... rồi bất ngờ nhảy xuống xe, cái đuôi to lớn kéo lê trên đất trông não nề đến lạ.
"Heh? Ông không đi cùng chúng tôi nữa sao?"
Việc Jahangil đồng hành dù chẳng có trận chiến nào xảy ra vốn là quá quen thuộc. Vì thế, việc hắn ngoan ngoãn xuống xe thế này mới là điều khác thường.
Trước câu hỏi của Souma, Jahangil chỉ đáp cụt lủn, xoay lưng lại:
"Ta ghét biển."
Thủ lĩnh của chiến binh người lùn, Dvalin, cũng đồng tình:
"Ta cũng muốn tránh xa biển thì hơn. Với lại còn đống việc cậu giao cho ta nữa."
Cả hai đều từng là nô lệ bị đưa sang Tây đại lục trên những chiến thuyền khổ sai. Bị nhốt trong khoang dưới tối tăm và chật chội, bị sóng đánh dập dềnh suốt nhiều ngày trước khi đặt chân lên đất liền—hẳn là họ đã quá chán ngán biển cả rồi.
Tuy nhiên, bỏ qua Jahangil, Souma thực lòng muốn Dvalin đi theo. Bởi Dvalin là người phụ trách quản lý toàn bộ các xưởng sản xuất thủy tinh và xà phòng—những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Bolnis. Trong buổi đàm phán với thương nhân Jeboa, nếu có Dvalin ở cạnh để giải thích chi tiết về tình hình sản xuất cũng như định hướng tương lai của các xưởng, thì sẽ thuận lợi vô cùng.
Vì thế, trước đó Souma đã hỏi thử Dvalin về chuyện đi cùng mình. Thế nhưng, chỉ với một câu của Jahangil, ký ức tồi tệ về biển cả—thứ mà Dvalin đã cố né tránh suốt từ ngày được tự do—như bị khơi dậy trở lại. Vốn dĩ, ngay cả khi không tính đến những ký ức đau thương thời nô lệ, người lùn cũng đã không hợp với những nơi có lượng nước khổng lồ như biển cả. Đó là một đặc tính cố hữu của tộc họ. So với các chủng tộc khác, xương và cơ bắp của người lùn có mật độ cao hơn hẳn. Nhờ đó, dù thân hình thấp bé, họ lại rắn chắc và mạnh mẽ. Nhưng đặc điểm ấy lại trở thành bất lợi trong môi trường nước.
Cơ thể con người nổi được là nhờ trọng lượng gần tương đương với nước. Chỉ cần nạp đầy không khí vào phổi rồi quạt nước bằng tay chân, họ đã có thể nổi lên và bơi đi. Ngược lại... cả chủng tộc người lùn, với cấu tạo cơ thể như vậy, chẳng khác nào những cây búa chìm thẳng xuống đáy khi rơi vào nước.
Souma rất muốn Dvalin đi cùng nếu có thể, nhưng cũng không muốn ép buộc. Phần Dvalin thì khó xử—một khi ân nhân đã mở lời, ông rất khó từ chối... nhưng lòng thì vẫn không muốn lại gần biển.
Trong lúc cả hai còn đang băn khoăn, Jahangil—đang đứng nhìn qua nhìn lại hai người như thể xem một vở kịch buồn cười—bỗng động thủ. Hắn túm phốc lấy gáy Dvalin vẫn đang nhăn mặt trầm ngâm, rồi ném thẳng lên thùng xe như người ta vứt bao tải.
Rầm!
Âm thanh va đập lớn đến mức Souma và Shyemul giật mình cúi rạp xuống. Nhưng ngay sau đó, tiếng gào phẫn nộ của người lùn vang lên từ thùng xe.
"Đồ quỷ Jahangil! Ngươi phản ta hả!?"
Jahangil chỉ hừ mạnh một tiếng—như thể vừa làm xong một việc tốt trời ban—rồi rảo bước bỏ đi, cái đuôi nặng nề đập xuống đất theo nhịp chân.
Dvalin tức đến mức đỏ mặt tía tai, nhưng cuối cùng lại buông một hơi thở dài nặng nề, có vẻ đã nhận ra rằng sau khi bị ném lên xe như thế, xuống lại ngay thì... thất lễ quá. Thế là ông đành khoanh chân ngồi phịch xuống, ánh mắt vẫn còn sầm sì hờn dỗi.
Thấy vậy, Souma mới đặt chân vào bàn đạp chiếc ngựa mà người chăm ngựa dắt đến, nhún người lên lưng nó một cách gọn gàng. Cũng như mọi khi, Shyemul nắm lấy yên ngựa của cậu.
"Vậy thì... chúng ta lên đường thôi."
Souma khởi hành đến Jeboa, dưới ánh mắt tiễn đưa của Eladia và Marchronis.
◆◇◆◇◆
Rời khỏi Bolnis, Souma cố ý để ngựa chỉ bước chậm rãi. Dẫu cho đúng là cậu đang được mời tới, nhưng nếu lao vội đến Jeboa thì chẳng khác nào tự hạ mình, trông như kẻ nóng lòng cầu cạnh. Vì thế, Souma giữ nguyên nhịp phi ung dung, nén lại nỗi sốt ruột đang cồn lên trong lòng – nỗi lo phải tìm mọi cách thắt chặt quan hệ với Jeboa trước khi Holmea xuất binh.
Đến trưa ngày thứ năm kể từ khi rời Bolnis, đoàn của Souma cuối cùng cũng trông thấy biển, sau một quãng đường dài kiên trì bám theo con đường dẫn thẳng tới Jeboa.
"Soma! Kia... kia là biển sao!?"
Dẫu đã được nghe mô tả về biển, đây vẫn là lần đầu tiên Shyemul nhìn thấy nó ngoài đời thực. Thấy đôi mắt cô mở to, lấp lánh như trẻ nhỏ vừa phát hiện điều kỳ diệu, Souma không kìm được bật cười. Nếu không phải đang ngồi chung trên yên với Souma, hẳn cô đã phóng thẳng xuống bãi cát từ lâu.
"Đúng vậy. Nghỉ một lát đã."
Souma quyết định cho cả nhóm dừng lại. Khi rời đường cái, men xuống bãi cát trắng, cậu bảo Shyemul – vẫn còn đang nôn nóng đến mức không ngồi yên nổi:
"Đi đi. Lại gần mà xem cho rõ."
Vừa nghe dứt câu, Shyemul đã lao vút về phía mép sóng như con cún nhỏ vừa được tháo dây.
"Tuyệt quá! Soma, đây thật sự là biển đúng không!?"
Ban đầu, mỗi khi một đợt sóng tràn lên, Shyemul liền nhảy lùi lại một cách ngớ ngẩn vô cùng. Nhưng sau khi hiểu rằng những con sóng ấy chẳng hề nguy hiểm, cô bắt đầu nô đùa ngay tại nơi nước và cát giao nhau.
"Đây là... sóng à!? Oa! Với lại nước mặn thật này! Giống hệt như cậu nói! Rốt cuộc ai đã đổ từng này muối vào đây vậy!?"
Cô chưa từng hoài nghi lời Navel Master mà cô tuyệt đối trung thành, nhưng được chạm vào biển thật sự vẫn khiến cô vô thức phấn khích. Shyemul tung tăng đùa nghịch cùng những con sóng như một chú cún con lần đầu được chủ đem ra bãi biển.
Trái ngược với Shyemul, những zoan khác chỉ đứng chết lặng. Dẫu họ cũng biết về biển như Shyemul, nhưng lại không sao hình dung nổi rằng khối nước mênh mông họ đang trông thấy từ xa thực sự... là nước. Bởi lẽ, đối với giống loài zoan – những người sinh trưởng nơi thảo nguyên – họ chưa từng biết đến thứ gì rộng lớn hơn chính đồng bằng. Trong tâm trí họ, "bất tận" đồng nghĩa với "thảo nguyên", một lẽ thường đã ăn sâu bén rễ. Vì vậy, vùng biển xanh thẫm khi nhìn từ xa, họ đã giản đơn – và tùy tiện – xem nó như một đồng cỏ khác, được phủ kín bởi những loài cỏ xanh đen lạ lẫm.
Nhưng khi đã đứng trước mép nước, nhìn tận mắt những con sóng vỗ bờ, họ buộc phải thừa nhận: trước mặt mình không phải đồng bằng, mà là biển – một thế giới toàn nước. Đó là khoảnh khắc mà các chiến binh zoan hộ tống Souma, dù dày dạn kinh nghiệm đến đâu, cũng bị hùng vĩ của thực tại trước mắt đè bẹp hoàn toàn những lẽ thường họ từng tin tưởng. Họ chỉ có thể đứng đơ người, mắt mở lớn, không thốt nên lời.
Ngay cả Garam và Zurgu – hai gương mặt được tôn là anh hùng nơi thảo nguyên – cũng chẳng phải ngoại lệ.
"Này, Garam." Zurgu lên tiếng, giọng vẫn ngơ ngẩn như thể linh hồn đã bay khỏi xác, khi hắn nhìn Garam đang đứng cạnh mình, mắt cũng dán lên mặt biển.
"Gì thế, Zurgu?"
"Hình như... sau dãy núi kia chẳng có quốc gia vàng son nào cả."
Lần đầu tiên tận mắt chứng kiến biển, Zurgu hoàn toàn bị nuốt chửng bởi sự rộng lớn của nó. Nhưng vì bản tính hay càu nhàu và không bao giờ chịu nhận thua, hắn không thể thốt ra sự choáng ngợp thật sự của mình. Thay vào đó, hắn cố tìm lại dáng vẻ tếu táo quen thuộc, hy vọng sẽ bị Garam quát mắng như mọi khi. Nhưng câu trả lời hắn nhận lại lại mang cùng một vẻ thất thần như chính hắn.
"Ừ... Và xem ra cũng chẳng có quốc gia của lửa..."
Hai người đàn ông to lớn ấy cứ thế lặng lẽ nhìn ra mặt biển, không ai nói thêm lời nào, để mặc cho sự bao la của đại dương nuốt trọn tiếng thở của họ.
◆◇◆◇◆
Ngay trước cổng thành Jeboa, một người đàn ông tự giới thiệu là nhân viên của Thương hội Shapiro bước ra nghênh đón đoàn của Souma — vốn đã đến muộn một ngày vì quãng rẽ bất ngờ. Khi Souma lên tiếng xin lỗi vì sự chậm trễ, người đàn ông ấy trái lại còn tỏ vẻ biết ơn vì họ đã kịp tới.
Theo sự dẫn đường của người đó, Souma và mọi người cuối cùng cũng tiến vào Jeboa. Họ đã chuẩn bị tinh thần sẽ phải đối mặt với đủ loại thủ tục phiền phức khi nhập thành, nhưng nhân viên của Shapiro chỉ cần gật đầu một cái đã khiến đám lính gác mặt mũi cau có lập tức mở đường. Chỉ vậy thôi cũng đủ để Souma cảm nhận được rõ rệt sức ảnh hưởng mà Thương hội Shapiro nắm giữ tại nơi này.
Bên trong cổng thành, một đại lộ lớn trải thẳng tắp đến tận bến cảng hiện ra trước mắt. Con đường đông nghịt người qua lại, chẳng những khác nhau về màu tóc, màu mắt mà còn cả màu da — như thể toàn cầu chảy tràn vào cùng một nơi. Tiếng rao hàng ồn ào của những thương nhân hai bên đường không ngừng dội vào tai, khiến cả nhóm nhỏ của Souma gần như bị áp đảo.
Kiến trúc nhà cửa dọc hai bên đường thì hỗn tạp như một bức tranh ghép kỳ lạ. Chỉ riêng mái nhà cũng đã đủ loại: phẳng, tròn, nhọn... Thế nhưng, đúng với danh tiếng của một thành phố phú thương, các tòa nhà đều được xây bằng gạch nung đỏ nâu, chứ không phải đất phơi nắng rẻ tiền như vùng thôn dã.
Dẫu vậy, ngay giữa dòng chảy hỗn dung của vô số chủng tộc và văn hóa trong Jeboa, đoàn của Souma vẫn thu hút ánh nhìn của người đi đường. Lý do rất đơn giản: việc những zoan không phải nô lệ là chuyện hiếm đến mức gần như không tưởng.
Những ánh mắt liếc trộm, những tiếng thì thầm nhỏ to đầy nghi hoặc của người qua lại khiến mọi người trong đoàn không khỏi mang tâm trạng bất an khó tả. Chính vì vậy, khi cuối cùng cũng đến được dinh thự đã chuẩn bị sẵn cho họ, ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm mà không hay.
"Ô hô! Chào mừng quý vị đã ghé thăm. Xin cứ xem nơi này như chính nhà của mình."
Yoash nở nụ cười rạng rỡ đến mức như dính chặt trên mặt, đón họ ngay khi bước vào.
Ngay phía sau anh ta là Menahem — người lẽ ra lúc này hẳn đang bận trăm công nghìn việc.
"Cảm ơn ngài đã hảo tâm mời chúng tôi đến đây. Mong rằng thời gian tới sẽ tiếp tục làm phiền sự chu đáo của ngài."
Souma cúi đầu bày tỏ lời cảm tạ.
"Xin đừng quá khách sáo." Menahem đáp lại gọn nhẹ.
Nhưng sau đó, ánh mắt ông ta liên tục dõi ra phía sau Souma, hướng về đoàn tùy tùng, như thể đang tò mò tìm kiếm điều gì. Souma lập tức hiểu ngay.
"Marco, lại đây một chút."
Souma cất tiếng gọi Marco — người đang há hốc mắt lẫn miệng, nhìn quanh tòa nhà lạ lẫm cùng phong cách nội thất mà cậu ta được thấy lần đầu trong đời. Vì trong thư mời trước đó đã ghi rõ yêu cầu Souma phải nhất định mang theo đầu bếp, nên lần này Souma đã cho phép Marco tháp tùng sang Jeboa.
"Đây là Marco, đầu bếp riêng của tôi."
"Ồ hô! Vậy là cậu ấy đây sao!?"
Menahem nở nụ cười phấn khởi đến mức mặt ông ta như sáng bừng.
Ra là khẩu vị Nhật hiện đại không khiến ông ta khó chịu như mình lo... mà ngược lại còn hợp đến bất ngờ.
Souma nghĩ thầm, cảm thấy nhẹ nhõm phần nào.
Ngay lúc ấy, Zurgu lên tiếng:
"Ngài Soma, nếu được... ta muốn thử đi xem bến cảng một chút."
Zurgu là người trong số các zoan có tư duy cởi mở nhất. Sau khi đã lấy lại tinh thần từ cú sốc đầu tiên khi thấy biển, hắn ta dường như trở nên tò mò với khu cảng nơi những con thuyền buôn khổng lồ neo đậu. Souma vốn rất muốn thuận theo đề nghị đó... nhưng vẫn cố tình lắc đầu.
"Hiện tại chúng ta sẽ giữ kín tiếng. Hãy báo những người khác: tạm thời tuyệt đối không được ra ngoài."
Với phản ứng quá mức của dân thành này đối với zoan, mình không thể liều lĩnh để họ tiếp xúc lung tung. Thu mình lại một thời gian sẽ tốt hơn — tránh chuyện không đáng có.
Vẻ mặt Zurgu lộ rõ sự không cam lòng. Nhưng khi hắn thấy Yoash đang cười tủm tỉm đầy ẩn ý, Zurgu hiểu ngay quyết định đó là hoàn toàn đúng đắn trong tình cảnh này.
Đúng lúc ấy, một gia nhân bước vào và ghé tai thì thầm điều gì đó với Menahem. Menahem vốn còn đang vui vẻ, giải thích cho Marco rằng cậu có thể dùng bếp bất cứ lúc nào và rằng họ đã chuẩn bị cả những nguyên liệu hiếm... nhưng chỉ trong chốc lát, sắc mặt ông đã tối sầm lại.
"Có vẻ như chúng ta đã... chậm một bước rồi."
Cách nói của Menahem cho thấy hẳn có chuyện chẳng lành vừa xảy ra.
Thấy ánh mắt dò hỏi của Souma, Menahem thở dài một hơi, rồi chậm rãi thông báo:
"Vài thành viên của Hội đồng mười người đã đến. Họ nói muốn bày tỏ lời chào với ngài, ngài Soma."
2 Bình luận