Volume 3 [Đã Hoàn Thành]

Chương Bốn

Chương Bốn

Col liếc nhìn Myuri rồi an ủi người linh mục đang ôm mặt trong tay. Sau một hồi cuối cùng cũng bình tĩnh lại, ông ta bắt đầu kể lể chuyện gì đang xảy ra, nhưng đó không phải là điều Col có thể dễ dàng tin được.

“Tên tôi là Habbot. Tôi không phải linh mục. Tôi chỉ là một người chăn cừu bình thường, được giao trông coi đàn cừu trên đất của nhà thờ.”

Nghe lời thú nhận ấy, Col khẽ nuốt khan.

“Tôi trông giống hệt cha xứ, nên thỉnh thoảng tôi thay ngài. Những buổi cầu nguyện sáng sau khi ngài uống quá chén, hay các sự kiện trang trọng—miễn là có việc gì đó ngài có thể đưa quần áo của mình cho tôi rồi để tôi thay mặt xử lý, thì tôi sẽ đứng ra thay ngài.”

Nếu màu mắt và màu tóc giống nhau, vóc dáng cũng tương tự, chỉ cần thêm bộ râu là thoáng nhìn qua gần như không thể phân biệt. Dù có lúc phải nói chuyện, phần lớn những điều một linh mục cần nói đều chung chung. Chỉ cần trông giống linh mục, sẽ chẳng ai nghi ngờ.

“Và giờ tôi lại bị ép phải làm một việc quá sức như thế này… Tôi không chịu nổi nữa…”

Col phần nào hiểu được vì sao Habbot không về nhà mà lại trốn trong này.

Ông ta không phải linh mục—chỉ là người giống mà thôi—vậy nên dĩ nhiên không thể trở về nhà của vị linh mục thật.

Và điều đó cũng giải thích thái độ của ông ta với Ilenia hôm qua.

“Vậy cha xứ thật đang ở đâu?”

Trước câu hỏi của Col, Habbot vẫn che mặt lắc đầu.

“Ngài ấy nói sẽ lên báo với Giáo hoàng về hoàn cảnh khốn khó của chúng tôi rồi rời đi. Thỉnh thoảng có gửi thư về.”

Ngay cả Col cũng không ngây thơ đến mức tin rằng ông ta thực sự đi gặp Giáo hoàng. Vị linh mục thật gần như chắc chắn đã để lại người đóng thế để bản thân có thể lẩn trốn.

“Tôi biết chuyện này không đúng. Nhưng nếu tôi bỏ đi thì nơi này sẽ bỏ trống. Và nếu dân chúng biết rằng linh mục đã bỏ trốn từ lâu, danh tiếng của nhà thờ này sẽ sụp đổ. Nếu mọi chuyện rồi sẽ ổn khi chỉ mình tôi là kẻ nói dối, thì…”

Có lẽ vì hai người quá giống nhau, nhưng cũng có thể vị linh mục thật đã chọn Habbot làm người đóng thế chính vì nhìn thấy sự chân thành này ở ông.

Và vốn chỉ là một người chăn cừu, chắc chắn ông ta không thể ở vào thế yếu hơn thế này được nữa.

“Suốt một năm qua, dù là may mắn hay không, tôi vẫn xoay xở được. Không ai đến thăm nhà thờ, và thức ăn vẫn được các công ty trong thị trấn giao đều đặn theo hợp đồng. Nhưng rồi mọi chuyện đột nhiên trở nên hỗn loạn…”

Những gì xảy ra ở Atiph có lẽ là nguyên nhân. Cuộc đối đầu giữa vương quốc và Giáo hội vốn đang giằng co, nay đã bước sang giai đoạn mới. Làn sóng ấy lan rộng, cuốn theo cả những người mà Col chưa từng nghĩ sẽ bị liên lụy, vì những lý do mà cậu còn chưa kịp hiểu hết.

Wolf%20&%20Parchment%20-%20LN%2003-144_page-0001.jpg?updatedAt=1754758538630“Khoảng một tháng nay rồi. Mỗi khi thương nhân đến giao thức ăn, họ lại nói với tôi những lời kinh khủng. Nào là mọi đặc quyền của Giáo hội sẽ bị nhổ tận gốc. Nào là lũ heo tích trữ như các người sẽ bị thiêu sống vì tội dị giáo. Rằng Hồng y Chạng vạng, sứ giả của Chúa, sẽ xuất hiện và biến tất cả thành sự thật.”

Habbot khom lưng khi nói. Những lời cay nghiệt của đám thương nhân chẳng khác gì kẻ buông lời phỉ báng một vị vua đã mất ngôi. Col không nghĩ họ nói thật, nhưng Habbot vẫn khẽ tiếp tục:

“Tôi… sẽ bị thiêu sống sao?”

Ngay khi nhìn thấy vẻ mặt ấy, Col hiểu vì sao Habbot đã chào đón mình. Dù kết cục ra sao, ông ta không thể chịu nổi sự bất định của tương lai nữa.

Col rời ánh mắt khỏi Habbot đang cúi đầu, nhìn lên tấm thảm treo tường. Các thiên thần đang quây quần quanh một bữa tiệc, vẻ mặt nghiêm nghị. Có thể lừa người khác bằng một lời nói dối, nhưng để duy trì lời nói dối ấy lại cần một loại năng lực khác.

Có thể đổ lỗi cho Habbot, nhưng Col không cho đó là điều đúng đắn.

Cậu bình tĩnh suy nghĩ. Cũng có khả năng Habbot đang nói dối, còn vị linh mục thật mới là người đang diễn vai xuất sắc. Mẹ của Myuri, Hiền giả Sói Holo, có khả năng nhìn thấu lời nói dối, nhưng Myuri còn non kinh nghiệm, và cậu không thể dựa vào cô bé.

Mà chính cô bé ấy lúc này đang nhìn Col, trong mắt đầy vẻ thương cảm dành cho Habbot.

Vậy câu trả lời đúng là gì?

Col đã học cách xoay chuyển lý luận khi nghiên cứu thần học. Cậu giỏi trả lời những câu hỏi kiểu như có bao nhiêu thiên thần có thể nhảy múa trên đầu một cây kim?

“Đây là điều tôi nghĩ.”

Habbot ngẩng đầu lên, còn Myuri nhìn Col với vẻ lo lắng.

“Chỉ có Chúa mới biết ông là ai. Ông có thể là Habbot người chăn cừu… mà cũng có thể không.”

“Tôi—”

Khi Habbot định phản bác, Col giơ tay ngăn lại rồi tiếp tục.

“Về chuyện thuế.”

Habbot sững người trước sự chuyển đề tài đột ngột ấy.

“Vì không thể chịu đựng được sự mục nát của Giáo hội, tôi đã rời đi để tìm cách khôi phục hình thái chân chính của đức tin. Nhưng tôi hoàn toàn không cho rằng Giáo hội không nên tồn tại. Nó là điều tuyệt đối cần thiết. Tuy nhiên, trong vấn đề len dạ, họ đã đi quá xa, và những tội lỗi đó cần phải được chuộc lại.”

Rồi cậu đưa ra đề nghị của mình.

“Nếu ông thực sự là cha xứ, đang diễn một vai quá tròn trịa, thì hẳn ông phải hiểu rằng việc nộp thuế ngay lúc này và thể hiện sự ăn năn cho những sai phạm trước đây sẽ khiến dân thị trấn nhìn ông với thiện cảm hơn. Còn nếu ông là Habbot người chăn cừu, bị ép phải ở lại đây thay mặt cha xứ, thì việc nộp thuế thay ông ta sẽ khiến ông được nhìn nhận không phải như một linh mục, mà như một người bạn của dân chúng. Và điều này rất quan trọng…”

Col khẽ hắng giọng.

“Dù trong trường hợp nào, tôi sẽ hiểu hành động nộp thuế này là bằng chứng rằng Giáo hội đang cố gắng chuộc lại những lỗi lầm trong quá khứ. Tôi sẽ nói như vậy với người dân.”

Với sự hòa giải của cậu và cái tên Hyland đứng sau, mối quan hệ giữa thị trấn và Giáo hội sẽ không tệ hơn nữa.

Người đàn ông già nua, tiều tụy trong bộ áo linh mục nhìn cậu trân trân, rồi chậm rãi gật đầu, vẫn còn do dự.

Sau đó, như thể cuối cùng đã hiểu được điều Col đang nói, ánh sáng dần trở lại trong mắt ông.

“N-nhưng có một vấn đề.”

“Vấn đề?”

“Phải. Tôi không có gì để nộp cho ngài cả. Khi cha xứ rời khỏi nhà thờ, ngài ấy đã vét sạch kho bạc.”

Điều đó không khó tin.

Nếu người trước mặt thực sự là cha xứ, thì hẳn ông ta đã giấu tiền ở đâu đó.

Dù ông nói không có tiền, nhưng không có tiền không có nghĩa là không có gì để nộp.

“Người dân sẽ sẵn sàng quyên góp rất nhiều cho những thánh vật của nhà thờ.”

“Thánh…? À… chuyện đó…”

“Thứ gì đó có thể đổi ra tiền, kể cả khi không phải tiền mặt.”

Ví dụ như những tấm thảm treo trên tường, hay đồ nội thất.

Dù nói rằng cha xứ đã mang theo đồ khi trốn đi, nhưng gần như không thể mang hết mọi thứ ra khỏi đây.

“Nhưng tôi đâu biết giá trị của chúng.”

Col đã chuẩn bị sẵn câu trả lời cho việc này.

“Có một thương nhân đang chờ bên ngoài. Nếu ông lo lắng về việc định giá, tôi sẽ chịu trách nhiệm giới thiệu cho ông một người buôn đáng tin cậy.”

Habbot không trả lời ngay. Có thể vì ông thực sự là cha xứ, hoặc vì chỉ là một người chăn cừu không biết mình có quyền đưa ra quyết định như vậy hay không.

Nhưng dù thế nào, ông hẳn cũng hiểu rằng đây không phải chuyện có thể giả vờ không biết mà lảng tránh. Nếu có thể, ông đã chẳng mời Col vào trong từ đầu.

Cuối cùng, Habbot lên tiếng, thở ra luồng hơi mà ông đã nín giữ từ nãy.

“…Được rồi.”

“Mọi sự đều theo ý Chúa,” Col đáp lại, rồi đứng dậy khỏi ghế.

~~~

Col không thể nói rằng phán đoán ấy hoàn toàn phù hợp với giáo lý, nhưng cậu biết đó là điều tốt nhất mình có thể làm.

Trên hết, nếu Habbot thực sự bị đẩy vào hoàn cảnh khó khăn như vậy, thì việc lật tẩy toàn bộ sự thật chẳng khác nào dồn ông ta vào đường cùng.

Ở quần đảo phương bắc, Col đã tận mắt chứng kiến rằng thực thi công lý không phải lúc nào cũng dẫn đến công lý.

Vừa suy nghĩ như thế, họ vừa đi dọc hành lang tối tăm thì Habbot bỗng dừng lại.

“Nhưng tôi có thể hỏi một điều được không?”

Col quay lại nhìn ông. Trên gương mặt ấy có một vẻ gan lì rất thật, đúng chất của một người chăn cừu.

“Tôi có thể thực sự tin tưởng cô thương nhân trẻ đó không?”

Giọng ông không hề giống sự giãy giụa tuyệt vọng của kẻ sắp chết; trong đó có cảm xúc rất rõ ràng.

“Tôi nghe nói cô ấy buôn bán trung thực. Cô ấy nói mình là môi giới len, nhưng ông có thực sự quen biết cô ấy không?”

Nếu ông ta đang nói dối về thân phận người chăn cừu, hẳn Col đã nhận ra một thoáng do dự. Nhưng Habbot chỉ bình thản lắc đầu.

“Không. Tôi hiếm khi ra thị trấn, thậm chí cũng không tự tay xén lông cừu. Tôi chỉ nuôi chúng thôi.”

Điều đó hoàn toàn có thể.

“Nhưng để một môi giới len có thể đấu giá thành công giấy phép thu thuế, hẳn cô ấy phải rất có năng lực.”

Habbot thở dài, vẻ thất bại hiện rõ trên gương mặt.

“Có lẽ cô ta đã kể với ngài rồi, hôm qua tôi tiếp cô ấy và đã khá thô lỗ.”

Ông quả thực đã quát tháo và đẩy cô ra ngoài.

“Nhưng tôi muốn ngài hiểu rằng tôi không làm vậy vô cớ.”

“Ý ông là?”

“Hôm qua, cô ấy đến như một người hành hương. Trước khi tôi kịp nhận ra, tôi đã mời cô ấy vào chính điện. Tôi còn cầu nguyện cho sức khỏe và việc buôn bán thuận lợi của cô ấy trên đường.”

Rồi sau đó, cô bị đuổi ra bằng cửa trước chứ không phải cửa sau.

“Tôi nghĩ người ta gọi đó là ‘lời nói ngọt như mật’.”

Habbot kể thêm rằng ông đã sợ Ilenia đến mức nào.

“Tôi thậm chí không nhớ thuế được nhắc đến từ lúc nào. Nếu cô ấy đã chuẩn bị từ đầu, thì tôi hoàn toàn không nhận ra. Đáng lẽ tôi phải từ chối tất cả. Nhưng đến một lúc nào đó, cô ấy đã hoàn toàn nắm thế chủ động và dồn ép tôi. Tôi chỉ thấy sợ hãi. Rốt cuộc cô ta là người như thế nào?”

Những thương nhân giỏi luôn xuất sắc trong việc nhìn thấu ý định người khác và khiến họ tự nguyện bước vào túi của mình. Với người không quen, những kỹ xảo ấy chẳng khác gì phép thuật.

“Xin đừng nghĩ đây là sự trả đũa của tôi. Tôi chỉ chăm sóc đàn cừu trên đất nhà thờ. Dù mỗi ngày vẫn có bánh ăn, tôi luôn cảm thấy điều này thật vô lý. Tôi tin Giáo hội phải có cách vận hành đúng đắn hơn. Vì vậy tôi mới nói thế này: tôi không nghĩ cô gái đó có thể tin tưởng.”

Myuri trông có vẻ không vui, có lẽ vì cô bé không thích việc Ilenia bị chỉ trích.

Nhưng ngoài chuyện đó ra, Col chợt nhận thấy tình cảnh này kỳ lạ đến mức nào. Gần như một câu chuyện cổ tích trẻ con.

Ở cuối hành lang tối, ánh sáng lọt qua khe cửa kim loại. Gõ cửa là một cô gái cừu, còn nơi này là chốn tụ họp của những con chiên của Chúa. Và có một người chăn cừu, nghi ngờ liệu con chiên xin được vào kia có thật sự là chiên hay không.

Trong khi đó, một con sói thực sự lại đang đứng ngay bên cạnh họ, khoác áo choàng len, tự nguyện làm bạn của bầy cừu.

“Chính tôi cũng đã nhiều lần được nhắc nhở rằng tầm nhìn của mình có thể bị che mờ. Tôi sẽ nghiêm túc ghi nhận lời khuyên của ông, ông Habbot.”

Habbot nhìn cậu, như muốn xác nhận rằng nỗi lo của mình đã được thấu hiểu. Rồi ông cúi đầu và tiếp tục bước đi.

Đây là thời điểm mà ngay cả niềm tin vào Chúa cũng thường xuyên lung lay. Quả thật, tin tưởng người khác luôn tiềm ẩn nguy hiểm.

Nhưng khi nghĩ đến cô bé đang đi bên cạnh mình, Col biết cô là một ngoại lệ. Dù chuyện gì xảy ra, cậu vẫn có thể tin tưởng Myuri.

“?”

Myuri, mái tóc tro điểm ánh bạc ẩn dưới lớp len trắng sữa, nhìn cậu với vẻ tò mò. Nếu sự thuần khiết có thể mang hình hài, hẳn sẽ trông như thế này.

Col mỉm cười đáp lại rồi nhìn về phía trước.

Habbot mở khóa cánh cửa kim loại, và hành lang lập tức ngập tràn ánh nắng cùng tiếng gầm của biển.

Một bầu không khí gượng gạo bao trùm khi Habbot và Ilenia chạm mặt nhau. Cả hai đều có điều muốn nói, nhưng cũng hiểu rằng làm căng thẳng thêm chẳng mang lại lợi ích gì.

Habbot miễn cưỡng cho Ilenia vào, còn cô cũng không nhắc gì đến việc ông đã thô bạo hôm qua.

Thay vào đó, Ilenia lập tức quay sang Col, “Vậy, kết quả thế nào?”

“Không có vàng hay bạc. Chúng tôi mong muốn thương lượng bằng hiện vật.”

Đó hẳn chính là điều Ilenia mong đợi.

“Tuy nhiên,” Col nói thêm, “xin hãy công bằng trong việc định giá.”

Cậu không thể tưởng tượng tấm vải của Thánh Nex có thể đáng giá bao nhiêu, nhưng trong vài trường hợp, có thể lên đến năm mươi đồng vàng. Thánh tích đôi khi có giá phi thường. Dù sao chúng cũng là bảo vật thực sự của Giáo hội.

“Dĩ nhiên rồi.”

Theo những gì cậu nghe từ các thương hội, Ilenia là một môi giới len trung thực. Nếu cần, họ có thể nhờ Sligh ở thương quán Debau thẩm định lại.

Lúc đó Habbot xen vào:

“Nhưng các người định làm gì? Mang đi số thảm và ghế trị giá năm mươi đồng vàng sao? Nếu thế, chúng tôi sẽ không thể cử hành thánh lễ nữa.”

Ilenia đáp ngay không chút do dự:

“Vậy thì chúng tôi sẽ xem kho báu.”

Habbot nhìn sang Col, và cậu khẽ gật đầu. Người đàn ông già nua buông vai đầy bất lực.

Cấu trúc cơ bản của các nhà thờ thường theo một khuôn mẫu nhất định, và nhà thờ lớn này cũng không ngoại lệ. Phía trước là bàn thờ, từ đó kéo dài một lối đi chính. Hai bên lối đi là khu vực để tín hữu đến cầu nguyện hằng ngày, thường đặt các hàng ghế dài. Ngoài ra còn có hành lang ở hai bên. Phía sau hai bên bàn thờ là các phòng cầu nguyện riêng. Đó là bố cục điển hình, và những chi tiết thêm thắt xung quanh mới tạo nên cá tính riêng cho từng công trình.

Trong số đó, người ta thường xây hầm chứa bảo vật phía sau bàn thờ, nằm giữa bàn thờ và phòng cầu nguyện. Như vậy nơi đó được xem là vị trí linh thiêng nhất trong toàn bộ nhà thờ. Đôi khi bàn thờ được xây cao hơn mặt đất, còn hầm bảo vật nằm ở tầng hầm ngay bên dưới.

Nhà nguyện ở Desarev được xây theo kiểu sau, với cánh cửa dẫn xuống hầm bảo vật nằm ở cuối một hành lang kéo dài từ bên cạnh bàn thờ. Hành lang không có cửa sổ, tối đen như mực. Cây nến sáp ong Habbot cầm trên tay soi sáng lối đi, ánh sáng mờ nhạt làm lộ ra những bức tranh Kinh Thánh được vẽ trên tường. Ông không dùng nến mỡ vì khói sẽ làm hỏng các bức họa và đồ trang trí trên tường đá.

Habbot đặt giá nến vào một hốc được xây sẵn trên tường rồi lấy ra một chiếc chìa khóa to và thô kệch. Nó lớn đến mức gần như không gọn trong tay người trưởng thành, và Myuri nhìn nó đầy hứng thú.

Âm thanh đặc trưng khi chìa khóa tra vào ổ càng khiến người ta thêm kỳ vọng rằng phía sau cánh cửa kia là cả một núi vàng lấp lánh.

“Đây là hầm bảo vật.”

Thế nhưng thứ Habbot dẫn họ đến chỉ là một kho chứa trông hết sức bình thường.

“Tôi tin rằng những vật dụng dùng trong nghi lễ mới là thứ có giá trị nhất…”

Tuy rộng lớn và xứng tầm với một thánh đường như vậy, những món đồ xếp trên các kệ lại hầu hết rất đỗi bình thường, không có gì đặc biệt nổi bật. Nó giống một kho chứa hơn là một hầm bảo vật, thậm chí còn có cả lương thực.

“Ngay cả chuột cũng không thể chui vào đây.”

Bốn phía đều là những bức tường đá kiên cố.

“Ở đây sẽ không có những đĩa rửa tội bằng vàng đâu.”

Habbot nói với Ilenia khi cô đang xem xét các kệ.

Nếu Habbot là một linh mục thật sự, hẳn ông đã giấu hết mọi thứ từ lâu; còn nếu ông là một mục tử chân chính, hẳn ông đã kiểm tra hầm để đảm bảo sau này không bị buộc tội ăn cắp.

Trên kệ có vài chiếc chén thánh và chân nến bằng bạc dùng cho nghi lễ, tấm vải đỏ thẫm để phủ lên bàn thờ, dây trang trí bằng vàng và bạc, cùng rất nhiều bản Kinh Thánh và sách cầu nguyện.

Col cũng bắt đầu xem xét các kệ theo sau Ilenia thì vạt áo Myuri mắc vào thứ gì đó.

Đó là một chiếc đầu cá bằng kim loại. Nó không nhỏ đến mức có thể cầm gọn trong một tay, nhưng cũng đủ lớn để ôm bằng hai tay.

“Cái đó dùng cho lễ hội.”

Đôi mắt Myuri mở to khi nghe Habbot giải thích.

“Đó là một lễ hội khá xa hoa. Họ xếp củi từ chân mũi đất kéo dài đến tận cửa thánh đường rồi châm lửa. Sau đó mô hình con cá này sẽ bơi xuyên qua biển lửa.”

Khi lắp đầy đủ các bộ phận, nó lớn đến mức người cỡ Myuri có thể chui vào bên trong. Có lẽ nó được dựng lên bằng những thanh kim loại đỡ. Lễ hội diễn ra vào ban đêm, và với thị lực tốt, người ta còn có thể nhìn thấy ánh lửa cháy từ các hòn đảo phía bắc.

Col tưởng tượng con cá bơi giữa những ngọn lửa vàng rực dưới bầu trời đêm đen thẳm.

Hẳn đó là một cảnh tượng vô cùng ngoạn mục.

“Có truyền thuyết nào đằng sau nghi lễ này không?”

Ít nhất thì trong Kinh Thánh không có câu chuyện nào làm cơ sở cho nó, và Habbot khẽ mỉm cười trước câu hỏi của Col.

“Đây là thị trấn của dân chài. Họ đã chiên quá nhiều cá qua bao năm tháng, đến mức ai cũng phát chán. Lễ hội này là để nghĩ cho chúng, để đảm bảo chúng cũng được lên thiên đường.”

Dù hiểu ý nghĩa đó, Col vẫn cảm thấy việc bị bắt bơi trong biển lửa ngay cả sau khi chết quả là đáng thương.

“Mỗi năm có rất nhiều người đến xem. Nhưng năm ngoái và năm kia chúng tôi không tổ chức.”

Habbot trông thực sự buồn.

Ilenia, sau khi đi một vòng quanh hầm, quay lại. Gương mặt cô ủ rũ.

“Bây giờ cô đã thấy chúng tôi chẳng có gì để nộp thuế chưa?”

Ilenia đáp lại câu hỏi mệt mỏi của Habbot.

“Cha xứ, đây thực sự là hầm duy nhất sao?”

Habbot thậm chí không tỏ vẻ tức giận trước câu hỏi đó.

Một thánh đường lớn như vậy mà không có nổi năm mươi đồng vàng, dù viện cớ thế nào cũng khó chấp nhận. Nhưng nếu nói rằng không có tiền quyên góp hay tiền mặt vì linh mục đã ôm tiền bỏ trốn, thì ông sẽ phải giải thích rằng mình là kẻ giả mạo.

Đó là lý do ban đầu ông không cho Ilenia vào thánh đường.

Ánh mắt Habbot chuyển sang Col, có lẽ vì tin rằng cậu là bạn của Giáo hội. Trong ánh mắt ấy là sự tin tưởng khi cho cậu vào đây.

Col cũng có thể thuyết phục ông thừa nhận mình là giả để khiến cô yên tâm.

Nhưng ngay cả Col cũng không ngây thơ đến mức chỉ tin vào lời ông rằng trong hầm chẳng có gì.

“Thưa cha. Trước mắt, ngài có phiền nếu tôi xem sổ sách kiểm kê tài sản của thánh đường không?”

Một tổ chức lớn như Giáo hội có lịch sử lâu dài và liên quan đến rất nhiều người. Họ chắc chắn phải có sổ kiểm kê.

Trước yêu cầu đó, Habbot gật đầu ngay lập tức, đến mức Col cũng thấy lạ.

“Tất nhiên. Nếu điều đó khiến cô hài lòng thì tôi rất sẵn lòng. Xin chờ một lát.”

Habbot rời đi mà thậm chí không đóng cửa. Không hẳn vì chẳng có gì để lấy, mà có lẽ vì nếu họ có ý định trộm, ông sẽ biết ngay ai là thủ phạm.

Những thứ đặt ở đây đều là vật đã xuất hiện trong nghi lễ, ai nhìn cũng biết chúng thuộc về thánh đường.

“Anh trai?”

Myuri có vẻ bối rối. Dường như theo cách riêng của mình, cô bé cũng cảm nhận được mọi chuyện không diễn ra như mong đợi.

“Tôi không thể tin một thánh đường lớn như vậy mà tài sản chỉ có thế này.”

Ilenia nói đầy phẫn nộ.

Col gật đầu đồng ý. Cậu không thể tưởng tượng được việc vị linh mục đã mang theo cả những báu vật của thánh đường được truyền từ đời này sang đời khác mà bỏ trốn. Ông ta để lại một người thế thân vì chính ông biết rằng một ngày nào đó mình sẽ quay về đây. Nếu đã vậy, thì những bảo vật thực mà ông tuyệt đối không thể sơ suất làm mất trong lúc vận chuyển hẳn phải được giữ lại trong thánh đường.

Nếu đúng như thế, mục tiêu của Ilenia có thể hoàn thành mà không cần gây áp lực lên Habbot.

Dù cho có phải dùng đến những phương pháp hơi trái với đức tin.

“Myuri, lộ tai ra đi.”

Vừa nói, Col cầm lấy cây sào kim loại dùng để đỡ mô hình con cá trong lễ hội. Myuri vốn thích phiêu lưu, lại nghe nhiều câu chuyện từ mẹ là Hiền giả Sói nên lập tức hiểu cậu định làm gì.

“Em sẵn sàng rồi.”

“Được.”

Cậu gõ cây sào xuống sàn. Một tiếng cộp vang lên, và Myuri lắc đầu. Cậu bước thêm vài bước rồi lại gõ xuống lần nữa. Không nghi ngờ gì, trong một công trình đá lớn như thế này hẳn phải có một căn phòng bí mật dưới lòng đất. Chỉ cần đôi tai của Myuri, họ có thể nghe tiếng vang để tìm ra.

Cộp, cộp—cậu nhanh chóng gõ xuống sàn khi di chuyển khắp hầm.

Cậu có cảm giác chiếc chìa khóa to bất thường của căn phòng này không phải vô cớ, và xét về mặt xây dựng, một căn phòng bí mật chắc chắn sẽ được làm rất cẩn thận.

Nhưng trong hầm lại có cả những thứ bình thường như thực phẩm; nếu mất thời gian kiểm tra từng món, Habbot sẽ quay lại. Khi họ đang sốt ruột gõ sàn, Ilenia lên tiếng.

“Nếu đã làm thế này…”

Col quay lại theo tiếng cô, và nó đã ở ngay đó.

Rầm!

Sàn rung lên, bụi rơi từ trần xuống. Ilenia đặt bàn tay áp sát mặt sàn rồi ngẩng lên nhìn họ.

“…Chỗ này thì sao?”

Trong khoảnh khắc, Col có cảm giác mình vừa thoáng thấy một chiếc móng guốc khổng lồ.

Dù sao thì cô cũng là hiện thân của một con cừu.

“Ở đây.”

Myuri, vốn đứng yên lắng nghe, tiến đến một kệ trông hết sức bình thường. Nó áp sát vào tường, trên kệ đặt tượng Đức Mẹ và những tấm kính màu khắc hình các thánh. Dưới chân cô bé là những cánh cửa trượt; khi Col quỳ xuống mở ra, bên trong là các dụng cụ dùng trong bữa ăn.

“Có gì vậy, anh?”

Ngước nhìn Myuri, cậu thò tay sâu hơn vào trong kệ. Tay cậu chạm phải thứ gì đó nhô ra giữa hai chiếc chén thánh, và qua hình dạng, cậu biết đó là một cần gạt.

“Tìm thấy rồi.”

Đẩy không được, kéo cũng không xong, nhưng khi xoay sang phải, vang lên một tiếng cạch lớn như thể có thứ gì đó rơi xuống.

“Vừa rồi là tiếng gì vậy? Có chuyện gì thế?”

Giọng Habbot đầy hoang mang vọng lại từ cửa.

“Ánh sáng từ cây đèn không thể chiếu rọi được chân nó đâu.”

Col đáp lại, rồi đứng dậy bắt đầu đẩy kéo chiếc kệ.

Chiếc kệ cao hơn cậu, và nó xoay như một cánh cửa. Không khí ùa qua bên cạnh, phát ra âm thanh như một tiếng nuốt khẽ.

Phía sau kệ là một cầu thang bí mật.

“C-cầu thang…?”

Sự ngạc nhiên của Habbot nghe không giống giả vờ, vậy có lẽ ông thật sự không biết về nó.

Ilenia trông như thể nghĩ rằng một người được cho là linh mục thì lẽ ra phải biết chuyện này, nhưng Col liếc nhìn cô và khẽ lắc đầu. Dù Habbot có nói dối hay không, tốt nhất cũng đừng hỏi.

“Thưa cha, có thể đây là nơi linh thiêng, ngài có phiền đi trước không?”

Dù sao họ cũng phải đề phòng khả năng Habbot là linh mục thật. Nếu họ hào hứng xuống trước, lỡ ông đóng cửa nhốt họ lại thì sao.

“Đ-được…”

Ông có vẻ căng thẳng, có lẽ vì bí mật đã bị lộ. Hoặc cũng có thể vì ông đang nghĩ lẽ ra mình nên từ chối đóng giả linh mục ngay từ đầu vì một bí mật như thế này.

Dù thế nào, ông cũng nắm lấy thánh huy của Giáo hội đeo trước ngực, hôn lên đó, rồi cầm giá nến bước xuống cầu thang.

Lối đi đủ rộng để một người trưởng thành dang khuỷu tay chạm vào hai bên tường, và nó dẫn thẳng xuống dưới.

Không khí không hề ẩm mốc, thay vào đó là mùi mát lạnh đặc trưng của đá vừa được đục đẽo.

Cầu thang không dài lắm, tính theo một tòa nhà bình thường thì chỉ sâu khoảng hai tầng.

“Đây là—?”

Habbot giơ cao cây nến soi sáng căn phòng. Trần thấp khiến không gian có cảm giác chật chội, và có vài dãy kệ xếp thành hàng. Nhưng phần lớn đều trống không.

Chẳng lẽ cậu đã sai khi nghĩ rằng có cửa bí mật trong hầm thì bảo vật thật sự cũng được giấu ở đây?

“Aaa!”

Đột nhiên Habbot hét lên và đánh rơi cây nến. Col thoáng chốc căng thẳng đến toát mồ hôi, nhưng nhờ ánh nến nằm nghiêng trên sàn, cậu thấy rõ nguyên nhân. Ngay dưới chân cầu thang là những bộ giáp treo trên tường.

Có lẽ ông thật sự bị dọa, vì ông dựa cả lưng và tay vào tường để khỏi khuỵu xuống.

Col nhặt cây nến lên, đặt lại vào giá.

“Còn có cả kiếm nữa. Khiên… thậm chí cả yên ngựa. Những chiếc yên thật đẹp.”

Phía sau những bộ giáp là những giá đỡ được làm riêng cho kiếm và những kệ để treo khiên.

Những chiếc yên ngựa được đặt trên một chiếc rương dài. Khi họ tiến lại gần dưới ánh nến, những đường viền vàng nạm trên đó ánh lên thứ ánh sáng huyền bí.

“Đây không phải trang bị cho quân đội thực chiến. Đây là giáp nghi lễ của một hiệp sĩ đoàn nào đó.”

Như một thương nhân thực thụ, Ilenia đánh giá giá trị của những bộ giáp. Hẳn chúng đáng giá không nhỏ.

“Nghĩa là đây mới là hầm bảo vật.”

So với phía trên, những kệ ở đây hầu như trống trơn. Tuy nhiên, có một chiếc đĩa lớn đặt trên đó, và khi nhìn kỹ, đó là một món đồ phi thường.

“Là một mâm vàng. Tay nghề chế tác thật hoàn hảo…”

Col không thể tưởng tượng nổi riêng chiếc mâm này đáng giá bao nhiêu đồng vàng.

“Anh chắc nó không chỉ mạ vàng chứ?”

Ilenia bình tĩnh lên tiếng. Cô thò tay vào túi, lấy ra một đồng xu đồng rồi khẽ gõ vào chiếc mâm. Một âm thanh kim loại trong trẻo mà cậu chưa từng nghe vang lên, ngân dài trong không gian.

“Là… vàng thật.”

Vậy thì không còn nghi ngờ gì nữa, đây chính là nơi thánh đường cất giữ toàn bộ báu vật.

Thế nhưng các kệ đều trống rỗng. Thứ còn lại chỉ là những bản thảo lớn đến mức có thể phủ lên người Myuri như một tấm chăn, cùng một cây chân nến bạc lớn chia thành bảy nhánh, trông như thứ vũ khí mà ác quỷ có thể dùng làm giáo.

“Đây đúng là hầm bảo vật.”

Ilenia, người đã đi sâu hơn vào trong, kéo ra một xấp da thuộc từ một chiếc tủ cửa trượt.

“Chúng là những giấy phép chứng nhận.”

Điều đó có nghĩa là, dù có nhiều kệ đến vậy, tất cả đều trống không, chỉ còn lại những món đồ lớn, cồng kềnh nhưng giá trị. Vậy rốt cuộc chuyện này là sao?

Không chỉ Ilenia mà cả Col và Myuri cũng quay sang nhìn Habbot.

“Thưa cha, những vật có giá trị đáng lẽ phải ở đây đâu rồi?”

Habbot run rẩy trước câu hỏi của Ilenia, như một tội phạm bị dồn xuống ngục tối.

“T-tôi không biết! Tôi cũng chỉ vừa mới biết nơi này tồn tại thôi!”

Nhìn vào căn phòng, quả thật dễ nghĩ rằng hầu hết những thứ có thể mang đi đã bị lấy sạch. Xấp giấy da kia có lẽ còn lại chỉ vì trên đó ghi tên Nhà thờ chính tòa Desarev.

Ilenia nhìn Habbot với ánh mắt còn nghi ngờ hơn, nhưng cuối cùng vẫn đặt xấp giấy trở lại kệ, như chấp nhận tạm thời.

“Thôi, trước mắt cứ tiếp tục tìm đã.”

Cô không tỏ vẻ thất vọng, có lẽ vì biết giấy phép của mình sẽ không hoàn toàn vô ích. Không nghi ngờ gì, chỉ cần mang được chiếc mâm vàng kia về, cô cũng có thể thu hồi vốn.

Thế nhưng mục tiêu ban đầu của họ, tấm vải của Thánh Nex hoàn toàn không thấy đâu. Trên kệ không có, dưới sàn cũng không. Họ chỉ tìm được một tấm áo choàng đỏ thẫm dưới ánh nến. Đó là một tấm vải khổng lồ, loại thường treo trong đại sảnh của lâu đài vua chúa, và được cất lại vì không dễ gì mang ra ngoài.

Col thoáng nghĩ liệu đây có phải là tấm vải của Thánh Nex không, nhưng Ilenia lắc đầu.

“Nhưng không biết trước đây nơi này từng chứa bao nhiêu báu vật nhỉ?”

Col lẩm bẩm sau khi đi một vòng quanh căn phòng. Habbot sợ hãi đến mức tái mét, hẳn nghĩ rằng họ đang nghi ngờ ông trộm cắp, nhưng Col nói thêm rằng họ không có ý định ép buộc ông.

Ilenia thì thẳng thắn hơn.

“Đã có một thời gian dài thánh đường này hút cạn sinh khí của Desarev. Tôi nghĩ như thế này cũng là thích đáng.”

Có vẻ như khi những kệ ban đầu không đủ, họ chỉ việc tiếp tục đóng thêm, hết cái này đến cái khác.

Lòng tham là một trong bảy đại tội được ghi trong Kinh Thánh.

Đó là một sự thật khiến cậu day dứt hơn bất cứ điều gì.

Trong lúc Col khẽ thở dài đầy khó chịu, Ilenia đứng trước mặt Habbot và lên tiếng.

“Thưa cha. Tôi đã đấu giá thành công giấy phép thu thuế do Hội đồng thành phố Desarev ủy quyền, được cấp dưới danh nghĩa người thừa kế Klevend, và hôm nay đến để thu khoản thuế của ngài. Dưới thẩm quyền của hội đồng và hoàng tử, tôi sẽ tiến hành ngay bây giờ.”

Habbot không thể phản kháng cô gái trước mặt mình. Ông cúi đầu, lặng lẽ gật.

Ilenia lập tức bắt đầu tìm kiếm những món đồ thích hợp, nhưng Col chợt nhận ra điều gì đó.

Myuri đâu rồi?

Những dãy kệ xếp thành hàng khiến tầm nhìn bị che khuất. Cuối cùng, ở một góc mà ánh nến chỉ vừa chạm tới, cậu thấy cô bé đang ngồi xổm, lục lọi thứ gì đó. Chiếc áo choàng trắng bông xù khiến cô trông như một con quái vật mốc khổng lồ.

“Myuri?”

Cậu gọi, tò mò không biết lần này cô bé lại định giở trò gì. Myuri ngoái lại nhìn cậu, rồi đứng lên. Cô bé chậm rãi tiến về phía cậu, sau đó vòng cả hai tay ôm lấy eo cậu.

“G-gì vậy?”

Bất ngờ trước hành động đó, cậu chợt nhận ra chiếc đuôi đang thò ra khỏi áo choàng của cô bé. Ngay sau đó, Myuri buông ra, và trong tay cô bé là một con dao găm. Hóa ra cô không ôm cậu, mà chỉ muốn lấy con dao cậu thường mang theo bên mình.

Cậu nhìn cô bé lặng lẽ di chuyển, ngồi xổm xuống rồi không chút do dự, đâm mạnh lưỡi dao xuống sàn đá.

“Này, Myuri, em làm—?”

Cậu còn chưa nói hết câu, cô bé đã dùng chuôi dao như một đòn bẩy.

Rồi với một tiếng cạch, phiến đá trên sàn khẽ dịch chuyển.

“Em biết mà. Chỉ có viên đá này đặt không khít. Nó hơi rung.”

Cô bé lại cắm dao vào khe đá và bẩy lên từ đúng chỗ đó. Những viên đá lát sàn dưới chân họ cỡ bằng bàn chân nhỏ của Myuri, giống như những viên gạch.

Cô bé nhấc thêm một viên, rồi một viên nữa, tiếp tục cho đến khi lộ ra một cánh cửa gỗ.

“Em nhớ tới chuyện này nhờ chuyến hành trình của cha và mẹ đó.”

Cô bé nở nụ cười tinh nghịch.

“Phải giấu đồ thật kỹ, để dù có bị lộ mọi thứ khác thì vẫn có thể yên tâm.”

Col có thể tưởng tượng cặp đôi cứng đầu ấy sẽ làm chuyện như vậy.

Nhưng cậu không ngờ rằng trong một căn phòng vốn đã bí mật lại còn có thêm một chỗ giấu kín nữa.

“Cô Ilenia! Thưa cha!”

Col gọi họ lại, và cả hai đều sững sờ.

“Tôi mở đây.”

Cậu kéo cánh cửa lên. Bên trong phủ một lớp vải cũ kỹ, mốc meo, bụi bặm. Khi cậu gạt tấm vải sang, lộ ra vài chiếc hộp gỗ xấu xí.

Chúng đủ mọi kích cỡ, nhưng ngay cả chiếc lớn nhất cũng có thể dễ dàng bưng bằng hai tay. Chiếc nhỏ nhất thậm chí nằm gọn trong lòng bàn tay.

Myuri có lẽ đã mong đợi một đống đá quý lấp lánh, nên trông có vẻ thất vọng. Habbot cũng dường như thở phào vì đó không phải là vàng bạc châu báu.

Nhưng Ilenia và Col thì khác.

Họ căng thẳng đến mức mồ hôi chảy dọc sống lưng.

Thánh tích chân chính thường có vẻ ngoài tầm thường.

“Cô Ilenia, cái này…”

Cậu gọi, và cô lập tức tập trung, cúi sát mặt lại gần những chiếc hộp như thể muốn chui hẳn vào bên trong.

Trên mặt hộp có những dòng chữ mờ nhạt, có thể là lời nguyền dành cho kẻ cả gan chạm vào, hoặc…

Ilenia rút ra một chiếc hộp dài.

Myuri lập tức hắt hơi vì mùi mốc và bụi.

Như thể quên cả việc thở, Ilenia cẩn trọng mở nắp hộp.

Bên trong là một tấm vải trắng được bọc trong lớp giấy da.

“Đây rồi.”

Giọng nói khẽ khàng của cô là âm thanh duy nhất vang vọng trong hầm bảo vật.

Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!