“Anh ơi! Dậy đi!” Myuri hét lên, làm Col choàng tỉnh.
Cậu mở mắt ra, còn đang ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì thì nhận ra mình vẫn ở trên thuyền, xung quanh tối đen như mực. Có lẽ họ đã cập cảng rồi chăng? Nhưng trong chuyến hải hành ban đêm thì đáng lẽ không có chuyện gì nghiêm trọng mới phải. Ngay lúc ấy, cậu cảm thấy con thuyền đột ngột rơi xuống.
Sau khoảnh khắc mất trọng lực khiến cậu tưởng như vừa va phải thứ gì đó khủng khiếp, sàn tàu bỗng dựng đứng lên dữ dội.
“Bám chặt vào!”
Khoang thuyền vang lên tiếng người la hét, rồi con tàu lại lao xuống một lần nữa. Sàn nghiêng hẳn, khiến những thùng gỗ và bao hàng lăn lộn khắp nơi. May mắn là phần lớn đều rỗng, chứ nếu bị đập trúng trực diện thì hẳn sẽ bị thương nặng.
Col không thể giữ vững được thăng bằng, không chỉ vì con tàu chao đảo mà còn vì nỗi hoảng loạn do không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Theo phản xạ, cậu nắm lấy vai Myuri, vừa tìm kiếm một nơi an toàn. Chỗ duy nhất họ có thể đến là lên trên, mong rằng sẽ không bị kẹt như chuột giữa đống hành lý trong khoang tàu.
Trong bóng tối và sự rung lắc dữ dội, hai người cuối cùng cũng đến được chiếc thang. Col để Myuri leo lên trước. Cô bé lớn lên giữa núi rừng leo thang một cách dứt khoát, thành thạo. Chính Col, kẻ mộ đạo suốt ngày vùi đầu vào sách, mới là người cần được giúp đỡ. Nhưng khi cả hai vừa lên được boong tàu, gió và mưa gần như quật họ ngã dúi dụi.
“Kéo chặt hơn đi!”
“Cần thêm người ở bánh lái! Đừng buông tay! Nếu trôi về phía tây là sẽ bị quăng thẳng ra biển khơi đó!”
Boong tàu hoàn toàn hỗn loạn.
Rõ ràng con tàu đã lạc hướng giữa cơn mưa xối xả. Bầu trời bị che phủ bởi những đám mây đen sì như than đá. Sét liên hồi xé toạc màn đêm, soi rõ từng nếp gấp đáng sợ của tầng mây vần vũ phía trên.
Khi hai người còn đang chết lặng, một kẻ đang bám vào cần buồm quay về phía họ và hét lên điều gì đó.
Nhưng tiếng hét bị tiếng sấm nuốt chửng, chẳng ai nghe rõ lời.
Ngay sau đó, một con sóng lớn ập thẳng vào con tàu.
Nó cuốn tràn khắp boong và hất Col ngã sõng soài với lực mạnh đến mức cậu tưởng đầu gối mình sắp gãy. Khối nước ấy chẳng khác nào một tảng đá. Cậu hoàn toàn bất lực khi cả cậu lẫn Myuri đều bị cuốn về phía bên kia cần buồm.
Một cú va đập mạnh nện vào lưng cậu. Sau khi lại rơi vào trạng thái lơ lửng ngắn ngủi, dòng nước nhấn chìm cậu từ chân lên tới đầu, ép mặt cậu dán chặt xuống sàn.
Cậu không thể nắm bắt nổi chuyện gì đang xảy ra.
Trong lúc ho sặc sụa, cậu nghe ai đó hét sát bên tai.
“Anh ơi! Đứng dậy đi!”
Nghe giọng Myuri, cậu mở mắt ra. Cô bé ướt sũng, dùng cả hai tay nắm chặt lấy tay phải của cậu.
“Nắm lấy dây thừng đi!”
Myuri vội vàng nhìn quanh, tìm nguồn phát ra tiếng nói. Lần này, Col cử động được, vươn tay chộp lấy sợi dây bên cạnh. Đồng thời, Myuri kéo tay phải của cậu sát về phía mình. Dùng cả nách lẫn ngực ôm chặt lấy cậu, cô bé dốc hết sức bình sinh của thân hình nhỏ bé ấy.
Mũi thuyền chúi sâu xuống nước, một làn nước mặn nữa ập tới Col. Cậu thậm chí không còn cảm nhận được cái lạnh. Tiếng sấm sau tia chớp lóa mắt bị nhấn chìm trong tiếng nước gào thét tràn qua boong tàu.
Đến lúc đó, cuối cùng Col cũng hiểu ra tình cảnh của mình.
Họ đã lạc giữa cơn bão, và con tàu này chẳng khác nào làm bằng lá khô.
“Em có sao không?”
Col kiểm tra cô bé trong vòng tay mình, lúc này đã ướt sũng như một con mèo con vừa rơi xuống nước.
Myuri ho khẽ rồi gật đầu, “Em mới là người nên hỏi câu đó đấy…Đừng có rơi xuống biển nữa! Em không muốn phải nhảy xuống theo anh lần nữa đâu!”
Nghe giọng điệu gắt gỏng ấy, Col mỉm cười, rồi cúi xuống hôn nhẹ lên trán cô bé, nơi vừa được con sóng gột rửa sạch sẽ.
“Ngài Col, tiểu thư Myuri, hai người không sao chứ?”
Một giọng nói vang lên khi có người nhanh nhẹn chạy tới, bất chấp con tàu đang lắc lư dữ dội.
Đó là Yosef—một thương nhân tròn trịa như cái thùng gỗ, người của Tập đoàn Debau.
“Nhờ ơn Chúa, chúng tôi ổn.”
Col đáp, đúng lúc Yosef che chắn cho họ khỏi con sóng sắp tới. Khi nước rút đi, ông ta tiếp lời.
“Nguy hiểm lắm! Hai người mau xuống dưới đi!”
Nhưng toàn bộ thủy thủ vẫn đang liều mạng điều chỉnh hướng đi của con tàu.
Lời Yosef vang lên đúng lúc Col định hỏi xem họ có thể giúp được gì không.
“Xuống dưới giúp những người khác tát nước trong các khoang bị ngập đi! Rồi đổ hết nước trong các thùng nước dùng làm vật dằn, buộc chặt chúng lại với nhau bằng dây! Nếu chẳng may đáy thuyền thủng ra, đống thùng rỗng đó vẫn giữ được sức nổi đáng kể! Và nếu tình huống xấu nhất xảy ra, cứ bám lấy nó mà cầu nguyện!”
May mắn thay, họ còn rất nhiều việc có thể làm.
“Bọn tôi sẽ cố hết sức giữ cho tàu không trôi ra biển khơi! Khi con sóng tiếp theo dâng lên, hai người chạy ngay nhé!”
Con tàu lại chúi xuống nước lần nữa. Trong ánh chớp lóe lên, họ thấy rõ đường viền của những con sóng cao như vách đá rình rập phía trên.
Rồi cảm giác như bị nhấc bổng lên không trung, trước khi bị quật ngã mạnh xuống sàn và một đợt nước khác tràn qua boong.
“Ngay!”
Không kịp lau mặt, Col băng qua boong tàu, Myuri bám sát phía sau, ôm chặt lấy cánh tay cậu.
Myuri đặt tay lên lối vào khoang tàu rồi nhảy thẳng xuống mà không cần dùng đến thang.
Tất nhiên, Col không thể bắt chước được cô bé. Cậu men theo chiếc thang đi xuống cho đến khi bị nước tạt thẳng vào người và tuột chân ngã phịch xuống sàn.
“Không có em chắc anh bó tay rồi!”
Myuri cười khúc khích trêu chọc, nhưng có lẽ cô bé nói đúng. Col chỉ có thể tiếp tục được là vì cô bé luôn ở bên cạnh cậu từng bước. Cậu nắm lấy tay cô bé, đứng dậy rồi nhanh chóng bắt tay vào làm theo những gì Yosef đã dặn.
Mỗi lần con tàu chao mạnh, hàng hóa lại bay loạn xạ như đàn gia súc mất kiểm soát. Dù thường bị gọi là vô dụng, yếu ớt, Col vẫn từng làm không ít việc nặng ở nhà tắm. Cậu gắng giữ vững thăng bằng, ghì chặt các thùng gỗ để Myuri rút nút. Xong xuôi, họ mặc kệ cho thùng bị sóng đánh lăn lóc vì nước bên trong rồi cũng tự chảy hết ra ngoài.
Sau đó, họ tìm những thùng đã rỗng sẵn, tận dụng mọi thứ có trong tay để cố định chúng giữa cảnh hỗn loạn, buộc ba thùng một bằng sợi dây mà Myuri kiếm được.
Bên cạnh họ, thủy thủ và các hành khách khác chuyền tay nhau những chậu nước múc từ sâu hơn dưới khoang, rồi đổ ra ngoài qua một ô cửa khoét trên vách. Dường như lượng nước tràn vào vẫn nhiều hơn lượng bị tát ra, nhưng nếu không làm gì thì con tàu chắc chắn sẽ chìm. Không một ai than phiền cả.
Buộc xong các thùng, Myuri và Col cũng bắt đầu phụ tát nước. Nhìn qua thì mấy cái chậu có vẻ không nặng, nhưng Col nhanh chóng nhận ra không phải vậy. Chẳng mấy chốc, cậu không thể chuyền những xô nặng trĩu ấy cho người kế tiếp mà không làm nước sánh ra khi con tàu nghiêng ngả. Sau lần thứ tư thất bại, cậu bị đẩy xuống thấp hơn, đứng trong làn nước lạnh ngập tới đầu gối và trực tiếp múc nước vào chậu.
Công việc này lại hợp với cậu hơn nhờ thân hình cao lớn và kinh nghiệm xả bể tắm ở nhà lặp đi lặp lại. Col nhận những chậu trống từ phía trên, múc đầy nước đến miệng rồi chuyền ngược lên. Người nhận lấy từ tay cậu chính là Myuri, bóng dáng cô bé thỉnh thoảng hiện rõ trong ánh chớp.
Hai người phối hợp nhịp nhàng khi cô bé kéo chậu đầy lên, còn cậu chộp lấy chậu rỗng từ tay cô bé. Dù đáy thuyền vẫn tiếp tục ngập nước, Col không vấp ngã lần nào. Chỉ có một lớp ván mỏng manh ngăn cách cậu với cõi chết, vậy mà cậu không hề sợ hãi.
Không ai biết chuyện đó kéo dài bao lâu. Cuối cùng, Col cũng ngừng suy nghĩ, để đôi tay tự động tiếp tục công việc. Bỗng nhiên, cái chậu cậu hạ xuống va mạnh vào sàn, phát ra một tiếng cộp. Cú chấn động kéo cậu về thực tại rằng chẳng biết từ lúc nào nước đã rút đi.
Con tàu vẫn còn lắc lư, nhưng không còn cảm giác như bầu trời sắp bị lật úp nữa. Bão trên núi cũng dữ dội chẳng kém, nhưng biển cả dường như thay đổi thất thường hơn. Dù vậy, họ đã vượt qua được giai đoạn tồi tệ nhất.
Ngay khi Col vừa nghĩ đến điều đó, một cú nghiêng nhẹ khiến cậu ngã ngồi bệt xuống.
Tay chân đã cứng đờ, nhưng cậu dồn hết sức còn lại để kéo mình lên chiếc thang.
Đúng lúc ấy, có ai đó đi xuống thang và một mái lông ướt sũng phủ lên đầu cậu. Chỉ cần cảm nhận độ dài của những sợi lông là cậu biết ngay đó là ai.
“Anh ơi, anh ổn không?”
Myuri nhảy qua đầu cậu, đáp xuống đáy khoang, rồi lắc người thật mạnh để làm khô cái đuôi.
Ngay khoảnh khắc ấy, toàn bộ sức lực tưởng chừng đã cạn của cậu như quay trở lại.
“Anh… ổn. Và…”
Khi cậu vươn cánh tay tưởng như không còn nhúc nhích nổi, Myuri liền nắm lấy tay cậu.
“…chỉ cần em an toàn là được.”
Myuri mỉm cười trước lời ấy. Col gom góp chút thể diện của người anh trai để tự đứng thẳng dậy.
“Vậy thì, ta lên trên thôi. Ở dưới này lâu chỉ tổ bị cảm lạnh thôi.”
Nước không còn sâu để múc nữa, nhưng đáy thuyền vẫn phủ một lớp nước biển lạnh buốt. Nếu cứ ngồi lại, họ sẽ sớm bị lạnh cóng. Nhờ sự giúp đỡ của Myuri, lúc này đã giấu tai và đuôi đi, Col lảo đảo trèo lên thang, trở lại phần chính của khoang.
Ánh hoàng hôn rực rỡ đến khó chịu chiếu qua ô cửa khoét trên vách gỗ.
Những thủy thủ và hành khách mệt nhoài nằm la liệt trên sàn như cá mắc cạn. Yosef, với dáng vẻ chẳng khác nào thuyền trưởng, bước qua họ, lặng lẽ đếm từng người. Khi trông thấy Col và Myuri, ông nở nụ cười thật lớn, nhẹ nhõm khi xác nhận cả hai đều an toàn. Hẳn là đã không có ai bị hất xuống biển.
Gió dữ đã đẩy họ trôi lệch hẳn khỏi lộ trình, nhưng xem ra chẳng bao lâu nữa con tàu có thể ghé vào một cảng gần đó.
“Đúng là một thảm họa mà.”
Col tựa lưng vào vách, vừa nói vừa tháo giày, đổ nước trong đó ra. Khi cậu vắt chiếc áo khoác, nước lại chảy ra thêm. Myuri ngồi cạnh, mái tóc ướt ánh lên trong nắng chiều, đáp lời:
“Không phải thảm họa đâu. Là một cuộc phiêu lưu mà.”
Chỉ cần nói chuyện với cô bé, ngay cả hoàn cảnh khắc nghiệt nhất cũng có thể biến thành bối cảnh của một chuyến hành trình kỳ diệu.
Nhìn sự lạc quan rạng rỡ ấy, nét mặt Col dịu lại, những căng thẳng cuối cùng cũng tan biến.
“Anh nghỉ mắt một lát đây.”
“Vâng.”
Myuri phủ chiếc áo khoác đã vắt khô lên người cậu, rồi chui vào trong cùng như thể đó là chuyện hiển nhiên. Tiện tay, cô bé gạt một lọn tóc dính trên má cậu sang bên, rồi ngang nhiên hôn lên đó.
Cô bé phạm tội với sự tự tin rằng cậu chẳng còn sức để mắng mình.
“Ngủ ngon.”
Cố kìm cơn bực dọc, Col kéo áo khoác về phía Myuri thêm chút nữa, rồi chìm vào giấc ngủ.
~~~
Cuối cùng thì con tàu đã bị đẩy lệch hẳn về phía tây so với lộ trình ban đầu, và vì thế, có vẻ như một cảng mang tên Desarev đã trở thành nơi họ cập bến đầu tiên. Điều này vẫn chưa được xác nhận hẳn hoi, bởi việc phải ngủ bệt trên sàn một con tàu ẩm thấp, u ám chỉ khiến Col mệt mỏi hơn, đến mức cậu cứ nằm lì trong khoang thuyền mà chẳng buồn nhúc nhích. Trái lại, Myuri, người hồi phục sức lực nhanh hơn hẳn, đã lên boong để nghe ngóng câu chuyện của các thủy thủ.
“Anh ơi, anh ơi, nghe nói đó là một thành phố lớn lắm đó.”
“Vậy sao? Ừm…xem ra ta đã bị trôi lệch khá xa rồi.”
Col rên rỉ khi nhìn vào tấm hải đồ, trên đó có cả vương quốc đảo Winfiel lẫn các thị trấn cảng nằm dọc bờ lục địa giáp với eo biển. Tên Desarev nằm ở tận phía bắc của Vương quốc Winfiel.
“Chẳng phải ban đầu ta định đến Atiph sao?”
Myuri nghiêng đầu nhìn bản đồ, hỏi xen vào.
Điểm đến của họ thực ra không phải là thị trấn cảng Atiph, mà là một cảng khác trong Vương quốc Winfiel mang tên Rausbourne.
“Chẳng phải chị tóc vàng kia bảo ta tới đó à? Không đi cũng được mà, đúng không?”
Myuri nói với vẻ mặt thản nhiên.
“Chị tóc vàng” mà cô bé nhắc tới chính là Hyland, một nữ quý tộc đáng kính, mang trong mình huyết thống hoàng gia Winfiel. Nàng là một con người tuyệt vời: mộ đạo, can đảm, thông tuệ, sinh ra để dẫn dắt dân chúng. Thế nhưng, Myuri lại luôn tỏ ra khắt khe với nàng.
Cô bé nghi ngờ rằng sự tôn kính mà Col dành cho Hyland không đơn thuần chỉ là tôn kính.
Quả thật, Hyland vừa cao quý vừa xinh đẹp, hơn nữa còn sở hữu một sức hút mà Myuri tự biết mình không có.
“Không được. Chúng ta phải đi,” Col đáp. “Rất có thể ngài ấy đã chỉ đích danh nơi đó vì ở đó đang xảy ra chuyện gì đó.”
Col và Myuri đã giao một bức thư ghi lại toàn bộ sự việc ở quần đảo phương bắc cho một con tàu nhanh sẽ đến sớm hơn họ khoảng một tuần.
Khoảng hai ngày trước, khi họ vẫn còn ở thị trấn Caeson, hồi âm đã tới. Ngay sau khi nhận được, họ lập tức rời đảo.
“Hừm. Thôi kệ đi. Em vẫn thích đi đến chỗ mới mà.”
Ở ngôi làng miền núi Nyohhira, Myuri luôn quấn lấy các vị khách ghé nhà tắm, hỏi họ đến từ đâu rồi bắt họ vẽ bản đồ cho mình. Nghĩ đến điều đó, có lẽ chuyến hành trình này khó mà khiến cô bé chán nản được.
“À mà này, anh ơi. Thành phố anh từng tới từ lâu rồi ấy, ở đâu vậy?”
“À…nơi đó còn ở phía nam xa hơn cả Rausbourne nữa…”
Hai người vừa nói chuyện vừa so sánh bản đồ, chẳng bao lâu sau, con tàu đã tiến vào cảng Desarev.
Thậm chí còn chưa bước lên boong, họ đã có thể cảm nhận được sự nhộn nhịp của bến cảng qua tiếng chim biển vang vọng khắp khoang. Myuri kéo tay Col, nài nỉ cậu lên trên xem thử, hào hứng nói rằng nơi này còn sôi động hơn cả Atiph. Ngay cả khi xét trên toàn bộ vương quốc, Desarev vẫn nổi tiếng là một cảng mậu dịch lớn. Ít nhất thì họ cũng có thể ăn đồ nóng và không phải ngủ lại trên con tàu ẩm ướt này.
Col và Myuri đứng trên boong, chậm rãi tiến sâu vào cảng, phóng tầm mắt ra xung quanh. Họ thấy vô số con tàu còn đẫm nước, lấp lánh dưới ánh hoàng hôn. Có những chiếc cột buồm cong vẹo, cũng có những con tàu mà thủy thủ ngồi rũ rượi dưới những cánh buồm rách tươm. Col hiểu rằng phần lớn trong số đó đã chạy trốn cơn bão ban nãy để tìm nơi trú ẩn ở Desarev, hoặc bị sóng gió cuốn dạt tới đây.
So ra, con tàu của Yosef, thứ đã chở họ rời khỏi quần đảo từng được coi là sào huyệt của bọn hải tặc thờ phụng Đức Mẹ Đen, dường như đã vượt qua cơn bão tốt hơn nhiều so với mặt bằng chung.
Khi Col nhắc đến điều đó, cậu được trả lời rằng những thủy thủ phương bắc vốn nhạy bén với thời tiết, thường cảm nhận được bão từ rất sớm và né tránh ngay từ đầu.
Vào lúc này, Vương quốc Winfiel đang trong thế giằng co với Giáo hội. Chiến tranh được dự đoán sẽ sớm bùng nổ quanh vùng biển này. Việc có thể xem những thủy thủ phương bắc ấy như đồng minh quả là một phước lành ngoài dự liệu đối với Winfiel.
Khi nghĩ rằng tất cả những điều này đều nhờ có Myuri, Col quay sang nhìn cô bé, và đúng lúc ấy, cậu nhận ra.
Myuri đang nhìn chằm chằm về phía cảng, tay nắm chặt lấy tay cậu đến mức đau nhói.
Col giật mình—chẳng lẽ suy nghĩ của cậu đã truyền sang cô bé?
“Có chuyện gì sao?”
Myuri trả lời, đôi mắt mở to, dường như sắp khóc đến nơi.
“Có mùi cừu!”
Ngay sau đó, bụng cô bé réo lên một tiếng thật to.
Col không sao nổi cáu trước sự vô tư ấy. Có lẽ đây chính là cách để tồn tại và sống tốt giữa đời.
Cậu siết chặt tay Myuri, hít sâu bầu không khí của một bến cảng đông đúc người và tàu, rồi nói:
“Mong sao chúng ta sẽ được ăn một bữa nóng hổi.”
Myuri ngước lên nhìn cậu, rồi nở một nụ cười ấm áp chẳng khác nào ánh hoàng hôn cuối ngày.
~~~
Bến cảng Desarev gây ấn tượng mạnh nhất ở mũi đất khổng lồ bao quanh nó. Hình dáng mũi đất trông như một con chim trắng đang ngẩng đầu, còn thị trấn thì được xây dựng sao cho tựa như đôi cánh tỏa ra từ chân mũi đất, che chở lấy toàn bộ thành phố.
Ở điểm cao nhất của mũi đất ấy là một tháp chuông, và phía sau nó còn vươn lên cao hơn nữa là một nhà thờ chính tòa đồ sộ. Nghe nói bên cạnh chiếc chuông trên đỉnh tháp luôn có một ngọn lửa cháy không ngừng. Những thủy thủ từng bị tai họa giáng xuống đều bấu víu vào niềm hy vọng cuối cùng, cố gắng lần đường tới Desarev.
Hơn nữa, lòng cảng nơi đây sâu đến mức tưởng như không có đáy, vì thế ngay cả những con tàu lớn cũng có thể dễ dàng cập bến. Sức sống của bến cảng mạnh mẽ hơn gấp nhiều lần so với những gì Col và Myuri từng thấy ở Atiph. Đây chính là trung tâm giao thương lớn nhất của vùng bắc vương quốc, nơi tập trung buôn bán thịt cừu, len, cùng đủ loại hàng hóa đã qua chế biến. Đặc biệt nổi tiếng là thứ rượu mạnh cháy bỏng được chưng cất từ than bùn dồi dào của vùng này; đổi lại, từ phương nam, rượu vang, lúa mì cùng vô vàn hàng hóa khác đổ về. Lượng rượu qua lại nhiều đến mức choáng ngợp, thể hiện rõ qua những thùng gỗ mang dấu ấn các lò chưng cất được chất đống khắp nơi.
Thật khó mà tưởng tượng nổi một Desarev ảm đạm, khi nơi đây tràn ngập rượu và thịt cừu. Không chỉ vậy, gió ở đây cũng không buốt như ở quần đảo phương bắc, khí hậu lại ôn hòa hơn, tạo điều kiện lý tưởng để người ta uống rượu và vui chơi ngoài trời.
Khi mặt trời dần lặn, dường như những người ngoài phố lại càng trở nên náo nhiệt hơn.
“Myuri, bám sát anh đấy nhé.”
Col vừa dõi theo bóng lưng của Yosef để khỏi lạc mất, vừa với tay ra sau nắm lấy tay cô bé như mọi khi—nhưng chỉ nhận ra là mình chạm vào khoảng không.
Giật mình, cậu gọi Yosef dừng lại rồi vội vàng đảo mắt nhìn quanh. Chẳng mấy chốc, Col đã thấy dáng người nhỏ nhắn của Myuri đang đứng trước một quầy bán xiên thịt cừu. Bị mê hoặc bởi mùi mỡ cháy xèo xèo cùng hương khói thơm phức, trông cô bé như sắp chui cả đầu vào quầy hàng.
Ở những hòn đảo phương bắc khô cằn, cừu và dê vốn rất hiếm. Không có lợn, gà lại càng không thấy. Thỉnh thoảng Col và Myuri được ăn hải sản do dân đảo bắt được, nhưng thịt thì nhạt, tanh mùi máu, nói chung là chẳng ngon lành gì.
Trái lại, thịt cừu của Vương quốc Winfiel lại nổi danh khắp nơi. Ngay cả Col, người vẫn cố hạn chế ăn thịt, cũng không kìm được cảm giác thèm thuồng khi nhìn xiên thịt cừu, biết rằng chỉ cần cắn một miếng là lớp mỡ ngọt sẽ trào ra.
Myuri ngoái lại nhìn cậu trước cả khi cậu kịp gọi, và Col thấy mình khó lòng cưỡng lại ánh mắt ấy.
“Ha, nóng! Háu!”
“Thôi nào, ăn chậm lại chứ.”
Tất nhiên, cô bé chẳng thèm nghe. Myuri nhét đầy hai má thịt cừu còn bỏng rẫy, nước mắt rơm rớm vì nóng. Mà với hoàn cảnh này, có lẽ đó là những giọt nước mắt hạnh phúc.
Dù sao đi nữa, nhìn cảnh tượng yên bình ấy, nét mặt Col dần giãn ra thành một nụ cười.
Cậu thầm biết ơn vì nhờ ân sủng của Chúa mà họ mới có thể thưởng thức được bữa ăn ngon như thế này.
Sau đó, cậu cũng định sẽ ghé qua nhà thờ lớn để tạ ơn vì cả hai đã bình an vượt qua cơn bão.
“Đi thôi nào, hai người.”
Yosef mỉm cười nhìn cảnh ấy, rồi dẫn họ rẽ vào một góc của trục đường chính, nơi những tòa nhà lộng lẫy nhất trong thành phố xếp thành hàng. Họ đã tới một thương quán thuộc Tập đoàn Debau, nơi Yosef làm việc, và cũng là chỗ họ dự định nghỉ lại qua đêm.
Khu bốc dỡ hàng hóa quay ra mặt đường rộng đến mức đủ chứa cả một dinh thự nhỏ. Trời đã chạng vạng tối, những cánh cửa gỗ lớn phần lớn đã đóng lại, nhưng qua khe hở, Col vẫn thấy nhiều thương nhân đang tất bật làm việc.
Bên cạnh khu bốc dỡ là lối vào chính, uy nghi không kém bất cứ chỗ nào khác. Cờ hiệu của Tập đoàn Debau được treo trên tường, hai bên là những ngọn đuốc đã được thắp sáng. Myuri, người mới rời làng suối nước nóng miền núi Nyohhira chưa lâu, đứng sững, ngước nhìn tòa nhà mà không nói nên lời
Kiến trúc nơi này hoành tráng đến mức Col không khỏi lo lắng liệu hai kẻ lữ hành trong bộ dạng như họ có thật sự được cho phép ở lại hay không.
“Này anh, anh nghĩ họ có bắt mình ngủ ngoài chuồng ngựa không?”
Quần áo của họ dĩ nhiên vẫn ướt sũng như trước, lại còn phảng phất mùi biển.
Yosef thì hớn hở bước vào trong. Col nghĩ rằng nếu Yosef giải thích rõ tình cảnh của họ thì chắc chuyện ấy sẽ được bỏ qua, nhưng cậu vẫn không khỏi thấp thỏm. Khi Col và Myuri đứng chờ trước cửa, cậu càng cảm nhận rõ ánh nhìn của các thương nhân và thợ thủ công đi ngang qua.
Một cơn gió lạnh thổi tới khiến Myuri hắt hơi, Col liền khoác áo mình lên cho cô bé.
“Ồ, ồ, các bạn của tôi! Cuối cùng cũng tới rồi!”
Cánh cửa bật mở, để lộ một chàng thanh niên phong nhã, mái tóc vàng dâu được chải uốn thành hình sóng. Trông anh ta không phải kiểu thương nhân lang bạt nay đây mai đó, cũng chẳng phải người suốt ngày cúi đầu bên bàn cân. Đây là hình mẫu điển hình của một người quản lý công ty lớn và điều khiển người khác bằng lời nói. Anh tháo đôi găng tay tẩy trắng sáng loáng và nắm chặt tay Col một cách nhiệt tình.
“Tôi là Edwin Sligh, chủ nhân của thương hội này!”
“Th-thật là vinh hạnh. Tôi là Tote Col. Còn đây là—”
“Em là Myuri. Cảm ơn đã tiếp đón chúng em.”
Cô bé cư xử lễ phép khác thường, chắc là vì đang trông chờ một bữa ăn nóng hổi và một chiếc giường êm ái.
Sligh cũng bắt tay Myuri, rồi nhanh chóng mời họ vào trong. Yosef cần thu xếp tiền bạc để mua nhu yếu phẩm cho con tàu, nên sau vài lời trao đổi với Sligh, ông liền đi về phía khu bốc dỡ.
Khi Col và Myuri được dẫn vào trong, cả hai không giấu nổi sự kinh ngạc trước những bộ giáp và tấm thảm khổng lồ trang trí ở tiền sảnh bằng đá. Bầu không khí nơi đây khác hẳn thương quán ở Atiph mà họ nhớ, gần như giống một dinh thự quý tộc vậy. Những hầu gái mặc đồng phục đứng hai bên sảnh đồng loạt cúi đầu chào, động tác nhịp nhàng như đã được luyện tập.
Chỉ cần liếc mắt một cái, Col cũng nhận ra nơi này giàu có đến mức nào.
Đi dọc hành lang nối từ tiền sảnh, họ tới một đại sảnh thông với khu bốc dỡ hàng. Ở đó là khung cảnh quen thuộc của một phòng kế toán thương hội—những cậu bé sai vặt chạy qua chạy lại, tay ôm đầy các cuộn giấy da, còn những thương nhân lớn tuổi thì ngồi bên dãy bàn, cặm cụi ghi chép bằng bút lông.

“Trước hết, xin hãy thay đồ đã. Trông hai vị thảm hại quá.”
Col đỏ bừng mặt trước lời nhận xét thẳng thừng của Sligh—bộ dạng của họ lúc này chẳng khá khẩm gì.
Vị chủ thương hội trẻ tuổi gọi một người đang làm việc dưới tấm thảm treo hình bầy cừu, rồi lịch sự ra hiệu về phía Col và Myuri.
“Phiền chọn giúp họ vài bộ quần áo nhé”
Người kia liếc qua hai người một cái, rồi mở một chiếc tủ lớn nhồi kín vải vóc từ trên xuống dưới. Trông cứ như toàn bộ vải vóc trên đời đều bị nhét hết vào trong đó vậy.
“Được rồi, tôi sẽ dẫn hai vị tới phòng nghỉ.”
Băng qua đại sảnh, sàn nhà dần chuyển từ đá sang gỗ. Tay vịn cầu thang làm bằng đồng được đánh bóng tỉ mỉ, còn những cây nến đặt dọc theo tường tỏa ra mùi sáp ong ngọt dịu.
Khi Col đặt chân tới vương quốc này hồi còn bé, nơi đây đang trải qua thời kỳ suy thoái do xuất khẩu len sụt giảm, kinh tế vì thế mà ảm đạm. Giờ thì mọi thứ đã đổi khác hoàn toàn.
“Dù sao đi nữa, việc ngài đến đây, thưa ngài Col, hẳn là do Chúa đã sắp đặt vô cùng tinh tế. Chỉ cần tin này lan ra, những người dân khốn khổ từ khắp các vùng quanh Desarev chắc chắn sẽ kéo về!”
Sligh vừa nói vừa dẫn đường lên cầu thang.
“Ngài thực sự nghĩ vậy sao?”
Col mỉm cười gượng gạo. Thấy vậy, Sligh khựng lại, quay người nhìn cậu rồi gật đầu, vẻ mặt nghiêm túc.
“Bến cảng Desarev là điểm dừng cuối cùng để những con tàu khổng lồ của Liên minh Ruvik tiếp tế trước khi tiến lên phương bắc. Họ cố che giấu, nhưng chúng tôi dễ dàng nhận ra trên tàu có những giáo sĩ cấp cao. Điều đó khiến tất cả đều lo lắng—rốt cuộc bọn họ lên phương bắc để làm gì?”
Sligh nhắc tới con tàu do Giáo hội, thế lực đối đầu với vương quốc, phái đi nhằm thuyết phục bọn hải tặc phương bắc đứng về phía mình. Chúng chất đầy vàng với ý đồ mua chuộc những người dân khốn cùng, biến họ thành con tin.
“Mỗi công ty đều cử người của mình lên phương bắc để thu thập tin tức. Và rồi, nhiều người trong số họ đã tận mắt chứng kiến một phép màu. Cái công ty thương mại kiêu ngạo kia cùng vị tổng giám mục từ phương nam đã tự chuốc lấy cơn thịnh nộ của Đức Mẹ Đen! Đúng là đáng đời!”
Sligh như một đứa trẻ, giơ cả hai tay lên trời cười lớn, rồi quay ngoắt người nhanh đến mức phát ra tiếng kêu ken két khi tiếp tục bước đi.
“Khi tìm hiểu sâu hơn, chúng tôi phát hiện ra rằng không chỉ có vị tu sĩ đã gắn kết các vùng biển phương bắc giúp đỡ, mà còn bởi một linh mục duy nhất nữa. Thế nhưng, chẳng ai biết đó là ai. Rồi ngài Yosef nói với tôi rằng người đó chính là ngài, thưa ngài Col.”
Dáng vẻ Sligh rất đúng mực của một quý ông, nhưng bước đi thì lại hoàn toàn giống một thương nhân.
Anh bước nhanh với những sải chân rộng, rồi dừng lại trước một cánh cửa.
“Hơn thế nữa, ngài còn là người đã cùng Trữ quân công chúa Hyland của hoàng tộc thúc đẩy việc dịch Kinh Thánh sang tiếng bản địa, trấn áp bọn giáo sĩ tham lam ở Atiph, thậm chí còn thắp lên ngọn lửa đầu tiên đánh thức quần chúng với đức tin chân chính! Câu chuyện ấy giờ đã lan rộng khắp vương quốc rồi!”
Col thành thật chỉ cảm thấy đó đơn thuần là sự trùng hợp khi cậu đã có mặt đúng chỗ, đúng lúc. Cậu chỉ muốn co người lại. Huống chi, những việc ở quần đảo phương bắc thì chín phần mười là công lao của Myuri.
Thấy Col lúng túng không biết giải thích thế nào, Sligh liền cho đó là sự khiêm nhường đáng kính.
“Ngài Col, ngài quả thực là một con người tuyệt vời. Đối với vương quốc này, nơi đã phải chịu đựng ách áp bức bất công và dai dẳng của Giáo hoàng, ngài chính là một huyền thoại sống. Khi các nhạc sĩ hát về ngài trong quán rượu, họ còn gọi ngài bằng một cái tên khác nữa!”
“Một cái tên khác?”
Sligh đặt tay lên cánh cửa, mở ra đầy kịch tính, rồi nói.
“Đức Hồng Y Chạng Vạng! Ngài chính là người được định sẵn để mang bình minh đức tin đến cho chúng tôi!”
Không thể nào. Col suýt bật cười, nhưng cảnh tượng trong căn phòng Sligh dẫn họ tới thì chẳng hề đùa cợt.
“Xin cứ thoải mái sử dụng căn phòng này. Đây là phòng tốt nhất của chúng tôi ạ!”
Col kinh ngạc khi thấy họ được sắp xếp ở một phòng thượng cấp trên tầng hai của một tòa nhà cao năm, sáu tầng. Thông thường, càng lên cao thì phòng ốc càng đơn giản; khói từ những lò sưởi bên dưới bốc lên, khiến cư dân các tầng trên cùng cảm thấy như cá bị hun khói vậy. Phòng tầng hai thường chỉ dành cho chủ nhà hoặc khách quý mà thôi.
Trong phòng có một lò sưởi tuyệt hảo, không cần phải trông chờ vào hơi ấm lan từ các tầng khác.
Col sững sờ nhìn chiếc giường có màn che, còn ngay cả Myuri, vốn rất thích xa hoa, cũng đứng khựng lại, nụ cười nửa chừng đông cứng trên môi. Trên tường treo một tấm thảm lớn vẽ thiên thần cầm cân trong một tay và kiếm trong tay kia, giống hệt thứ họ từng thấy ở Atiph. Sức mạnh của đồng tiền thể hiện rõ ràng.
“Trước khi khởi hành tới Rausbourne, xin cứ tùy ý yêu cầu bất cứ thứ gì. Hiện tại chúng tôi đang gấp rút đun nước, nên hai vị có thể thong thả dạo phố trước khi tắm. Cơn bão lúc nãy đã qua, không khí giờ trong lành lắm, còn ánh lửa trong thành phố thì lấp lánh như châu báu vậy. Sau khi tắm xong, chúng tôi sẽ chuẩn bị bữa tối. Hai vị hẳn đã mệt lắm sau chuyến đi dài, nên hãy để chúng tôi mang lên tận phòng. Có món gì đặc biệt muốn dùng không?”
Một tràng lời tuôn ra không ngớt từ miệng Sligh.
Col chỉ có thể đứng ngây ra như kẻ ngốc, vừa vì choáng ngợp trước căn phòng, vừa vì những gì anh nói.
“À, ừm, chà… tôi nghĩ chỉ cần thứ gì đó ấm là được.”
“Không cần phải dè dặt như vậy đâu! Nhưng dĩ nhiên, chúng tôi cũng không muốn làm ảnh hưởng tới sự tiết chế của một con chiên thánh thiện của Chúa. Chúng tôi sẽ chuẩn bị bữa ăn thanh đạm cho ngài.”
Đúng lúc ấy, Myuri nắm chặt tay áo Col. Không nói một lời, cô bé mấp máy môi về phía cậu, Thịt. Chỉ một hai xiên thì tuyệt đối không đủ. Trong thời gian ở phương bắc, cô bé đã ăn cá đến chán ngấy rồi.
Col muốn duy trì chế độ ăn đơn giản càng lâu càng tốt, nhưng nếu bắt Myuri kìm lại trong tình huống này, e rằng cô bé sẽ bật khóc thật sự.
“Xin lỗi vì sự phiền phức, nhưng liệu có thể chuẩn bị thịt cừu hoặc thứ gì tương tự cho cô bé không?”
“Ồ! Dĩ nhiên rồi! Chúng tôi sẽ mang tới thứ hảo hạng nhất!”
Sligh đáp lại đầy nhiệt tình, khiến Col càng thêm lo lắng rằng họ sẽ dọn ra cả một con cừu quay nguyên con.
“Vậy thì, xin hai vị cứ tự nhiên.”
Sligh đặt tay lên ngực, cúi chào rồi đóng cửa lại.
Ngay lập tức, sự căng thẳng trên vai Col tan biến.
Nhưng mà, Hồng Y Chạng Vạng ư?
Cậu thấy cái tên ấy buồn cười đến khó tin.
“Đây không phải chuồng ngựa, nhưng rộng thế này thì đủ nhét cả con ngựa vào luôn nè.”
Myuri đi quanh căn phòng rộng rãi, vừa ngắm nghía vừa bình luận, rồi mở cửa phòng bên cạnh.
“Thật quá mức so với chúng ta rồi.”
Tất cả đồ đạc trong hành lý đều đã bị nước biển làm ướt sũng, nhưng có lẽ chỉ cần phơi khô là vẫn dùng được.
“Nhưng anh nghe chưa, anh trai?”
Dọc theo bức tường là một chiếc ghế bành, đệm nhồi đầy len, thêu chỉ vàng lấp lánh. Myuri dùng ngón tay chọc vào đó, mỉm cười nói.
“Anh ta gọi anh là ‘Hồng Y Chạng Vạng’ đấy. Giờ anh là nhân vật lớn rồi.”
“Nếu anh nghiêm túc nhận lấy cái tên đó, đúng là trò cười.”
“Ơ, thật à? Em thấy có thêm biệt danh nghe ngầu mà, giống trong truyện phiêu lưu ấy. Rồi khi người ta gọi anh là ‘Đức Hồng Y’, đến anh cũng phải đứng thẳng lưng thôi, dù anh có thảm hại thế nào đi nữa.”
Trong hệ thống phẩm trật của Giáo hội, hồng y chỉ đứng sau Giáo hoàng. Mỗi người đều có danh hiệu và tên gọi phù hợp với vị trí của mình. Bị gọi bằng một cái tên hoàn toàn không xứng với bản thân thì thật lố bịch.
Col đang khẽ thở dài vì bực bội thì có tiếng gõ cửa vang lên. Vài cậu bé chạy việc và các cô hầu gái bước vào, mang theo một bồn tắm lớn cùng mấy thùng gỗ đựng đầy nước nóng. Họ chuyển tất cả sang căn phòng bên cạnh, còn những người đi sau thì căng một sợi dây dọc theo bức tường rồi treo vải lên, tạo thành một tấm rèm ngăn cách.
“Xin cứ gọi nếu hai vị cần thêm nước. Quần áo mới của hai vị sẽ được đặt ở đây.”
Mọi thứ được chuẩn bị chu đáo và sang trọng hơn rất nhiều so với những gì Col đã yêu cầu, khiến cậu không khỏi cảm thấy mang ơn. Cô hầu gái nói xong liền cúi chào thêm một lần nữa rồi rời khỏi phòng.
Đang khi Col còn đang trao đổi với họ, Myuri đã liền trút bỏ hết xiêm y rồi múc nước xối lên đầu. Cảm thấy thật bất lực, cậu nhặt lấy những mảnh trang phục vương vãi, và giọng nói vô tư của cô bé vang lên từ bên kia tấm rèm.
“Em cảm thấy như được sống lại vậy!”
Đối với vùng quần đảo phía bắc này, được tắm rửa là một điều xa xỉ, khi mà nhiên liệu thường khan hiếm. Hẳn là đã rất khó khăn cho Myuri khi cô bé vốn sinh và lớn lên trong một nhà tắm và thường nhảy tùm xuống bồn nước nóng mỗi ngày cho vui.
Cậu vừa mỉm cười, vừa lắng nghe âm thanh quẫy nước đầy hào hứng thì trông thấy một thỏi xà phòng bên cạnh cái bồn nhỏ dùng rửa chân. Cậu đã định phải dùng đến tro trong lò sưởi, nên cảm thấy thật biết ơn vì có thứ này.
“Myuri ơi, có xà phòng này.”
“Hả, thật á?!”
Cô bé vén rèm cửa ra một bên, để lộ ra thân hình trần như nhộng. Trong những lúc thế này, Col thường sẽ quay đi, nhưng cậu mệt quá rồi, còn cô bé thì chẳng mảy may để ý đến tình trạng của mình, nên cậu chẳng còn cách nào khác ngoài lên tiếng mắng.
“Myuri, em thực sự cần phải cảnh giác hơn một chút đấy…”
“Nè, anh gội đầu cho em được không?”
Không chỉ có thế mà cô bé còn chẳng thèm nghe lời cậu nói nữa chứ. Thay vào đó, cô bé vừa nắm áo cậu vừa mè nheo.
“Mỗi thế thôi thì em tự làm được mà.”
“Nhưng em phải tắm cho đuôi rồi. Nếu em làm thế sau khi gội đầu thì nước nguội hết mất.”
Col càng thêm bất lực trước cái cớ đầy khó tin của Myuri khi thấy cách cô bé cười toe toét nhìn mình.
“Em cứ nghĩ anh bét lắm cũng sẽ gội đầu cho em để thưởng cho công sức của em lúc ở quần đảo phía bắc chứ.”
“...”
Cô bé đã cứu mạng cậu khi họ ở phương bắc.
Khi cô bé lôi chuyện đó ra, cậu đã chẳng thể từ chối nổi.
“Thật là…”
“Ê hê hê!”
Myuri cười khúc khích, rồi trở vào ngồi lại bên trong cái bồn đầy nước.
Col xắn tay áo lên, nhúng thỏi xà phòng vào nước, rồi bắt đầu gội đầu cho Myuri khi bọt đã được đánh lên.
Mái tóc từng rất mượt mà của cô bé giờ cảm giác thô ráp như lông sói vậy, có lẽ là vì nó đã bị làm cho rối bù bởi gió biển mặn mòi suốt bấy lâu. Chỉ khi để ý điều này cậu mới nhận ra đã lâu lắm rồi chưa thấy cô bé dùng lược. Chắc là như thế mà chải tóc sẽ đau lắm.
Bọt dần hình thành khi cậu xoa nhẹ lên mái tóc cô bé và biết ơn vì chuyện đã xảy ra ở phương bắc, nhưng Myuri cứ uốn éo cơ thể tùm lum sao cho có thể với tới được đuôi. Khi Col nhận ra điều ấy, cậu nghiêng đầu hỏi.
“Chẳng phải sẽ dễ hơn nếu anh tắm cho đuôi em còn em tự gội đầu sao?”
Sau khi cô bé đã tóm được cái đuôi và kéo nó lên đằng trước thì liền cẩn thận tắm rửa cho nó, nhưng cô bé chợt ngưng lại và phóng cho cậu ánh lườm qua vai.
Thế rồi cô bé vội nhìn đi chỗ khác.
“Không. Như thế xấu hổ lắm.”
Col cứ nghĩ Myuri đã chôn dây thần kinh biết ngại của mình ở xó xỉnh nào trên núi rồi cơ, nhưng xem ra không phải thế rồi.
Cùng lúc đó, cậu vẫn chưa hoàn toàn nắm được tiêu chuẩn của cô bé là gì, hay như thế nào mới là đủ điều kiện trong mắt cô em gái.
“Anh chạm vào tai em được chứ?”
Đôi tai sói nhọn mà Myuri thừa hưởng từ mẹ đang áp sát vào đầu để bọt xà phòng không lọt vào.
“Được ạ. Chỉ cần đừng để nước vào tai thôi á!”
“Anh biết rồi.”
Khi cậu dội nước xối sạch tóc cho cô bé bằng từng xô nước, cậu dùng tay che tai cô bé lại, cẩn thận không để nước lọt vào bên trong. Lúc lớp bọt được gột trôi, mái tóc xám xỉn, nhợt nhạt của cô bé dần lấy lại vẻ óng mượt. Cứ như cô bé vừa trút bỏ một lớp vỏ cũ kỹ vậy.
Trong khi Col gột rửa bùn đất, cậu bỗng có cảm giác như cuối cùng họ cũng đã thực sự trở về từ phương bắc.
Cậu đã chứng kiến một thực tại đau đớn đến mức khiến chính bản thân phải nghi ngờ con người mình. Những biến cố ấy buộc cậu nhận ra một cách cay đắng, rằng mình bất lực và nhỏ bé đến nhường nào.
Khi rơi xuống biển đen kịt, giá lạnh, đến lúc cơ thể không còn nhúc nhích được nữa và cứ thế chìm dần, cậu đã chạm tới những khoảnh khắc cuối cùng của thứ lẽ ra đã là cái chết. Quan trọng hơn, cậu đã tận mắt thấy nỗi sợ hãi bóp nghẹt con người ta ra sao khi đứng trước khả năng mất đi người thân yêu nhất của mình.
Rồi sự cứu rỗi đã thần kỳ xảy đến với cậu.
Nhớ lại tất cả, cậu chợt nhận ra trái tim mình đã tràn ngập cảm xúc suốt chỉ vài ngày ngắn ngủi ấy.
“Myuri.”
“Ừm?”
Cậu gọi tên em gái, và cô bé đang kỳ cọ mạnh bộ lông ở chiếc đuôi liền ngoái đầu nhìn lại qua vai.
“…Cảm ơn em. Vì tất cả những gì em đã làm ở phương bắc.”
Ở nơi đó, Col đã thực sự làm tổn thương cô bé. Cậu thoáng nghĩ mình có nên xin lỗi hay không, nhưng lại thấy điều ấy có phần khác.
Nghe lời cảm ơn ấy, Myuri sững ra chốc lát, rồi bật cười khúc khích.
“Không sao đâu. Em sẽ để anh trả công em mà.”
Trả công? Col vừa định hỏi thì cô bé đã giật lấy cái xô trong tay cậu, dội thẳng nước xuống đầu.
Bộ quần áo vừa mới khô ráo của cậu lại ướt sũng.
“Vậy nên, bây giờ anh vào tắm với em đi.”
“…”
Qua màn tóc ướt sũng rủ xuống trán, Col thấy Myuri đang cười ranh mãnh, để lộ cặp răng nanh.
“Em đã nhảy xuống biển đen kịt giữa đêm đông lạnh buốt để cứu anh mà. Thế thì anh nhảy vào một bồn nước ấm áp một chút vì em thì có là gì đâu, đúng không?”
Cậu muốn nói rằng hai chuyện ấy hoàn toàn khác nhau. Nhưng khi Myuri ngồi xuống trước mặt cậu, vừa mỉm cười vừa vẫy đuôi mà hỏi “Đúng không?”, thì mọi lời cậu định nói đều tan biến trước khi kịp thành hình. Bóng dáng của một vị giáo sĩ kiên định mà cậu hằng mong muốn trở thành, chẳng còn sót lại chút nào.
“Thôi nào, nhanh lên không thì nước nguội mất!”
Vui vẻ vì cậu không hề chống cự, Myuri với tay ra bắt đầu cởi đồ cho cậu. Ở cô bé chẳng còn thấy chút e thẹn hay kín đáo nào của một thiếu nữ nữa.
Thứ hiện diện ở đó chỉ có thể gọi là sự thân thiện tràn trề, kèm không một ý định nhượng bộ nào.
“Rồi, giờ anh ngồi yên ở đó đi.”
Col ngoan ngoãn làm theo, ngồi vào bồn nước đầy. Myuri vừa gội đầu cho cậu vừa cười khì, như thể có điều gì đó buồn cười lắm. Cậu thật ghét cái cảm giác thoải mái ấy làm sao.
Cậu ôm lấy đầu gối mình, thở dài bực bội, rồi tự hỏi làm sao một người như cậu lại có thể bị gọi là Hồng y Hoàng hôn.
~~~
Sau khi Myuri gội đầu cho Col xong, hai người lại cãi cọ lặt vặt đủ thứ, rồi cuối cùng cũng tắm rửa sạch sẽ hết bụi bặm của chuyến hành trình dài. Thay sang bộ quần áo khô ráo, không còn mùi nước biển, Col cảm thấy toàn thân như được hồi sinh; cứ như cậu vừa được tái sinh một lần nữa vậy. Chẳng bao lâu sau, bữa ăn nóng hổi đã được dọn lên, và mọi thứ đều vượt xa những gì cậu từng dám mong đợi.
Cậu đã hình dung bữa ăn sẽ khá thịnh soạn, nhưng không ngờ lượng đồ ăn lại nhiều đến thế, mà chất lượng còn khiến người ta phải sững sờ. Món thịt cừu mà Myuri mong đợi bấy lâu mềm đến mức chỉ cần nhấc lên thôi là thịt đã gần như rơi khỏi xương. Phần ăn ấy quá hào phóng đến nỗi cô bé cũng chỉ ăn được đúng một miếng. Cơ thể héo mòn vì gió lạnh và mệt mỏi của cả hai đã nhanh chóng được bù đắp nhờ lượng mỡ béo dồi dào.
Bánh lúa mì trắng tinh. Bơ lớn như những viên gạch. Xúc xích lợn căng phồng. Súp gà nóng hổi. Thậm chí còn có cả đồ ngọt; nho khô và táo chất đầy một giỏ nữa.
Myuri háo hức muốn nếm thử tất cả. Nhưng cô bé đã trải qua cái chết trong gang tấc ở quần đảo phương bắc. Mà nếu có không bị thế, thì cô bé vẫn đã lên cơn sốt, rồi lại chạy khắp nơi dò tìm mỏ quặng trong hình dạng sói sau khi khỏi bệnh. Riêng hôm nay cô bé đã gặp bão lớn trên biển và quậy phá trong bồn tắm khá lâu.
Đến lúc Myuri vươn tay lấy miếng bánh mì thứ ba thì việc em đột nhiên khựng lại cũng là điều tự nhiên, như thể đâu đó có một sợi dây bị cắt phựt. Thật ra cô bé đã cố gắng chống chọi rất tốt cho đến tận lúc này rồi. Đầu cô bé nghiêng sang một bên, nhanh chóng rơi vào giấc ngủ, nhưng bản tính háu ăn vẫn khiến đôi tay cô bé bám chặt lấy thức ăn. Col suýt nữa đã cảm thấy mình nên khen ngợi cô bé vì điều đó.
Nhưng nếu để mặt cô bé cắm thẳng vào bát súp thì lần tắm rửa được mong đợi bấy lâu sẽ thành công cốc mất.
Khi cậu nhẹ nhàng gỡ miếng bánh ra khỏi tay cô bé, Myuri có kháng cự đôi chút. Thế nhưng, ngay khi cậu kéo cái đầu còn vương mùi xà phòng của cô bé vào lòng mà ôm lấy, cô bé liền dựa hẳn vào người cậu. Thở dài một tiếng, Col bế nàng công chúa khỏi ghế; việc này cậu cũng đã quen rồi.
Cậu đặt cô bé xuống chiếc giường nhồi đầy len, nhưng Myuri vẫn nắm chặt tay áo cậu, như để chắc chắn rằng cậu sẽ không rời đi.
“Anh không đi đâu cả đâu. Anh chỉ báo với họ là có thể cất bớt đồ ăn thôi. Anh quay lại ngay nhé.”
Những sợi lông mềm mại, vừa mới được gội sạch trên đôi tai sói của cô bé khẽ lay động khi nghe cậu thì thầm.
Col vuốt ve đầu cô bé, kéo chăn lên vì tai và đuôi vẫn còn lộ ra, rồi gọi người tới dọn thức ăn. Cậu thấy áy náy vì còn quá nhiều món chưa được động đến, nhưng cô hầu gái vừa cho bánh mì vào túi xong đã rụt rè bước tới hỏi cậu một câu.
“Xin ngài ban phép lành cho số bánh này được không ạ?”
“Ban phép lành ư? Nhưng mà…”
Cậu nuốt lại sự ngạc nhiên của mình, bởi trên gương mặt cô hầu gái là một vẻ đau khổ rõ ràng.
“Đã nhiều năm rồi trong thành không còn linh mục. Xin ngài mủi lòng mà thương xót chúng tôi.”
Đã ba năm kể từ khi vương quốc đối đầu với Giáo hội và Giáo hoàng ban lệnh cấm mọi hoạt động tôn giáo trong khu vực này. Điều đó đồng nghĩa với việc những nghi lễ vốn do linh mục đảm trách đều không còn được phép tiến hành. Trẻ em sinh ra không được chúc phúc, hôn lễ không được cử hành, và linh hồn người chết không được tiễn đưa trong tang lễ.
Dẫu vậy, vẫn có những lúc con người cần bấu víu vào một điều gì đó để tiếp tục sống. Có người cần được nâng đỡ khi người thân lâm bệnh nằm liệt giường, có người lo lắng cho sự an nguy của một người đã rời đi làm việc nơi xa. Có những nỗi khổ không thể chia sẻ cùng ai, hay những quyết định lớn lao không biết nương tựa vào đâu.
Dù nghĩ thế nào đi nữa, Col cũng hiểu rằng việc họ được thết đãi nhiều thức ăn đến vậy hẳn có lý do. Thức ăn còn lại của khách quý thường sẽ được chia cho người hầu, nhưng thức ăn đã được linh mục ban phước thì mang một ý nghĩa thiêng liêng. Nó là thuốc cho người bệnh, là bùa hộ mệnh cho kẻ bất an. Sligh có phô trương thật, nhưng không phải để lấy lòng họ.
Xem đó như cái giá cho việc lưu trú, Col cầu nguyện để toàn bộ thức ăn được Chúa ban phước. Cậu cầu cho hạnh phúc và sức khỏe của các cô hầu gái, mong nỗi u uất trong lòng họ được xoa dịu. Cậu thậm chí còn cầu cho một người thân của họ được sinh nở an toàn.
Cậu không nỡ nhắc đến những chi tiết rắc rối hơn, như việc mình không phải là linh mục chính thức. Trái lại, cậu thực sự đã chuẩn bị tinh thần sẽ bị nghi ngờ là dị giáo vì thực hiện những nghi thức không được cho phép.
Ngay tại khoảnh khắc này, có những con người đang tìm kiếm sự cứu rỗi. Col nghĩ rằng, nếu điều ít ỏi cậu có thể làm chỉ là đóng vai, thì cậu cũng nên làm. Khi cậu kết thúc lời cầu nguyện, tất cả các cô gái đều rưng rưng nước mắt, chân thành gọi cậu là “hồng y”. Những gương mặt đẫm lệ ấy càng khiến niềm tin trong cậu thêm vững chắc.
Ở quần đảo phương bắc, cậu đã học được rằng cầu nguyện thôi thì chẳng giải quyết được gì. Nhưng giờ đây, cậu nghĩ rằng, chừng nào còn có người khát khao nó, thì lời cầu nguyện vẫn là điều đáng để làm.
Một lần nữa, Col lại tin chắc rằng Giáo hội không thể bị giải thể một cách tùy tiện, hấp tấp.
Trước khi Giáo hoàng và vương quốc lao vào cuộc đối đầu, dù người ta có lờ mờ nhận thức được đủ thứ vấn đề tồn tại, thì không thể phủ nhận rằng nhà thờ trong thành đã từng mang đến sự xoa dịu cho tâm hồn của người dân nơi đây.
Sau khi tiễn cô hầu gái cuối cùng rời đi, trong trạng thái mệt mỏi rã rời, Col cảm thấy vững tin rằng việc chỉnh đốn lại Giáo hội chính là con đường đúng đắn.
Nhưng trước hết, cậu cần phải ngủ đã.
Cậu ngáp một cái thật dài, như thể trút ra toàn bộ mệt mỏi bị dồn nén bấy lâu. Đức tin không thể xua tan sự uể oải của thân xác.
Cậu làm dịu cổ họng khô khốc bằng một ngụm rượu ngọt, rồi thổi tắt ngọn nến. Qua ánh lửa đuốc dọc theo con đường chính lọt qua khe cửa sổ, Col có thể cảm nhận được rằng thị trấn Desarev vẫn náo nhiệt ngay cả trong đêm. Nhờ chút ánh sáng ấy, cậu lần được đến giường mà không va phải thứ gì.
Cậu lặng lẽ chui vào dưới cùng tấm chăn với Myuri, cố gắng không làm cô bé thức giấc. Thế nhưng ngay lập tức, Myuri đã nắm lấy ngực áo cậu, kéo mặt lại gần hơn.
“…Xong…rồi ạ?”
Em lẩm bẩm như đang nói mớ, đôi mắt vẫn nhắm nghiền.
Giọng điệu ấy không hẳn là dịu dàng, đáng yêu—như thể em đã cố gắng gượng thức để đợi anh trai mình đi ngủ—mà giống như đang hơi bực bội vì mấy buổi cầu nguyện vừa rồi quá ồn ào.
Dẫu vậy, điều đó vẫn khiến Col mỉm cười.
“Rồi. Em ngủ ngon nhé.”
“…Mm.”
Col không chắc tiếng đó là câu trả lời của cô bé hay chỉ là nhịp thở đều đặn.
Những nếp nhăn giữa chân mày cô bé dần giãn ra, sức lực trong đôi tay cũng tan biến. Cậu có cảm giác như đã rất lâu rồi mình mới thấy một biểu cảm yên bình đến thế trên gương mặt cô bé.
Gương mặt say ngủ mang nét trẻ con ấy quen thuộc đến lạ lùng.
“Ước gì hạnh phúc sẽ luôn ở bên em, dù em đi đến đâu.”
Cậu cầu nguyện; trong tất cả những lời cầu nguyện hôm nay, đây là lời mà cậu dồn vào nhiều cảm xúc nhất.
Đôi tai sói của Myuri khẽ giật nhẹ, cô bé cựa mình một chút rồi lại chìm hẳn vào giấc ngủ.
Khi Col nhắm mắt lại, cậu cũng lập tức chìm vào giấc ngủ theo.
~~~
Những lần Col tiếp xúc với các cô hầu gái trong đêm hôm đó chẳng qua chỉ là màn “chạy thử” cho ngày hôm sau mà thôi. Col thức dậy khi mặt trời vừa lên, định ra giếng trong sân để rửa mặt. Khi vừa mở cửa, cậu đã thấy sẵn ba cô hầu gái đứng chờ với chậu nước. Dĩ nhiên, trước khi làm việc đó, cậu lại lắng nghe những phiền muộn của họ, cầu xin sự che chở của Chúa và ban phúc lành cho họ.
Người hầu ra vào liên tục để chuẩn bị củi đốt, thu dọn chân nến hay bày bữa sáng, và lần nào họ cũng kể cho Col nghe những nỗi lo của mình. Đến lúc ấy, ngay cả Myuri mê ngủ cũng buộc phải miễn cưỡng mở mắt vì không thể chịu nổi sự ồn ào.
Cô bé nhìn dòng người ra vào không ngớt, cuối cùng cũng hiểu rằng sáng nay mình sẽ không thể ngủ nướng được nữa, thế là tâm trạng trở nên vô cùng cáu kỉnh.
Sau bữa sáng, có bốn người ghé thăm—một thương nhân buôn vải cùng các thợ may riêng của ông ta—để chỉnh sửa quần áo cho họ. Bình thường Myuri hẳn sẽ bám lấy Col mà hỏi Anh ơi, cái này có hợp với em không? hay Cái này thì sao?, nhưng tay thương nhân cùng các thợ may mang theo vải vóc, chỉ khâu và kim may đã lên tiếng trước khi cô bé kịp nói gì. Ba người trong số họ có con gái đang chuẩn bị kết hôn, người còn lại thì có cha mẹ già đang lâm bệnh.
Nguyện Chúa dẫn dắt và che chở cho họ.
Ga giường và chăn đệm mới cũng được mang đến, nên khi các hầu gái bắt đầu dọn dẹp căn phòng, Myuri ôm theo một chiếc chăn và một cái gối và rút sang phòng bên cạnh.
Rốt cuộc, chẳng có bao nhiêu lý do chính đáng để người ta lui tới phòng của Col và Myuri. Col đã ngây thơ nghĩ rằng rồi mọi người sẽ sớm ngừng đến nếu không có việc cần thiết, nhưng một người khôn khéo đã mang đến cho cậu một bản chép Kinh Thánh. Chẳng bao lâu sau, cả thương nhân lẫn người hầu đều mang tới bút lông, dao gọt bút, lọ mực, cát để làm khô mực, giấy da, cùng đủ loại dụng cụ mà họ có thể nghĩ ra từ khu khuân vác ở tầng một. Tất nhiên, họ cũng mang theo vô số chuyện cần được hỏi ý.
Việc làm ăn không thuận lợi, bất hòa trong gia đình, con trai ra khơi chưa về, đứa trẻ sắp chào đời; rồi cả chuyện đau răng, nhức lưng. Những cô hầu gái lớn lên cùng nhau còn kể cả chuyện gà trống không gáy nữa, hình thù xấu xí của đám mây phía tây, hay việc một con mèo đen đã băng qua trước mặt họ đến ba lần trong một ngày.
Đặc biệt là có quá nhiều người tới lui, mỗi người lại mang theo nỗi lo riêng, đến mức Col quên mất ban đầu họ lấy cớ gì để bước vào phòng khi điều họ thực sự tìm kiếm là sự can thiệp của Chúa.
Mỗi thị trấn đều có nhà thờ, trong đó có linh mục, các phụ tá, và ở những giáo đường lớn thì có cả giám mục cùng nhiều giáo sĩ dưới quyền. Chính họ là những người gánh vác nỗi lo của toàn thể dân chúng. Việc họ rời đi không phải là chuyện nhỏ. Đức tin chưa bao giờ là vô ích, và cần có một tổ chức để duy trì đức tin ấy.
Có rất nhiều điều khiến Col phải suy nghĩ với tư cách là một người phụng sự Chúa, nhưng với Myuri, người chẳng hề quan tâm đến những chuyện đó, thì việc anh trai không để ý tới mình mới là điều khiến cô bé bực bội. Không còn nghi ngờ gì nữa, ở phòng bên cạnh, cô bé hẳn đang nghiến răng tức tối.
Col vui vì mình có thể giúp ích cho những người ra vào căn phòng này, nhưng cậu không quen với nhịp độ đó nên nhanh chóng cảm thấy mệt mỏi một cách kỳ lạ. Dẫu vậy, cậu vẫn dốc hết tâm sức để đối diện với từng người tìm đến. Đến khi chính cậu cũng không còn hiểu rõ lời mình đang nói, dòng người cuối cùng cũng thưa dần. Đó là vì Sligh đã đến phòng họ.
“Xin lỗi vì để mọi người trong công ty kéo đến làm phiền ngài như vậy.”
Sligh mang vẻ mặt áy náy, nhưng dĩ nhiên Col không hề nghĩ rằnganh đã ngăn cản ai cả.
“Không sao đâu… Phòng này đủ rộng mà.”
Có lẽ Sligh đã cho họ căn phòng lớn nhất cũng vì biết trước chuyện này sẽ xảy ra.
Người đàn ông nở nụ cười khi hiểu ý trong lời Col nói, nhưng rồi nét mặt anh bỗng trở nên trầm xuống.
“Đã ba năm rồi kể từ khi tiếng chuông nhà thờ ngừng vang. Các linh mục có ở lại thị trấn một thời gian, nhưng phần lớn đã vượt biển sang đại lục. Không chỉ có nhà thờ trên mũi đất, mà còn ba nhà nguyện lớn khác. Tất cả đều đã bị đóng kín. Những nhà nguyện trong các hội quán và công ty cũng đã bỏ trống từ lâu.”
Col từng nghe kể về tình hình của vương quốc khi còn ở Nyohhira. Nhưng nghe kể và tận mắt chứng kiến là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Giống như khi còn khỏe mạnh, người ta khó mà hiểu hết sự khủng khiếp của bệnh tật.
Dẫu vậy, cậu vẫn có thắc mắc.
“Thế những giáo sĩ còn ở lại thì sao? Không lẽ tất cả đều sang đại lục cả ư?”
Sligh khẽ thở dài.
“Có thể vẫn còn gián điệp do Giáo hoàng phái đến lảng vảng đâu đó. Ngài thấy nếu phớt lờ mệnh lệnh của Giáo hoàng mà cầu nguyện cho dân chúng thì sẽ ra sao rồi đấy. Tôi không nghĩ ai sẽ được phục chức nếu chuyện đó có khả năng làm lợi cho phía Giáo hoàng. Tầng lớp trên thì đang nín thở chờ đợi, nhưng những người ở đáy xã hội thì không thể sống thiếu hàng giáo sĩ được.”
“Còn tiền quyên góp của dân thì sao?”
Vừa hỏi xong, Col đã nhận ra mình biết sẵn câu trả lời. Sligh gật đầu.
“Người dân nào quyên góp cho giáo sĩ sẽ bị xem là phản bội vương quốc, đồng thời là tay sai của Giáo hội. Xét trên phương diện cá nhân, vẫn có những người không quá bận tâm ai là người giúp đỡ họ, dù là người của Giáo hội hay không, miễn là họ có thể được giao hòa cùng Chúa. Nhưng những công dân trung thành thì đều tránh xa cả.”
Những ân phúc của đức tin đã biến mất khỏi thị trấn.
“Ngài Col, những gì ngài khởi xướng ở Atiph thực sự là tin mừng mà người dân vương quốc này đã chờ đợi bấy lâu. Cuộc giằng co dai dẳng giữa vương quốc và Giáo hội cuối cùng cũng đang bước sang giai đoạn tiếp theo. Ai cũng chờ đợi một điều gì đó xảy ra, bất kể kết cục ra sao. Tất nhiên là…”
Sligh tiếp lời.
“Tôi mong vương quốc giành chiến thắng, bởi chính chúng tôi cũng từng run sợ trước sự chuyên chế của Giáo hội.”
Dù kết quả thế nào, chiến tranh luôn là thứ tàn khốc nhất với những người vô tội.
“Nếu tôi có thể giúp được gì, tôi sẵn sàng. Đó cũng chính là lý do tôi rời quê nhà.”
Col là người ngoại quốc ở vùng đất này. Hơn nữa, cậu cũng không thể gọi mình là một linh mục thực thụ. Thế nhưng, mọi người vẫn tin rằng cậu được Chúa ưu ái.
Vị trí ấy quả thực vô cùng đặc biệt.
“Thật sự cảm ơn ngài. Tôi xin dâng lời cảm tạ lên Chúa, hẳn Người đã dẫn ngài đến đây.”
Theo hiệu lệnh của Sligh, bữa trưa được mang lên. Myuri bị mùi thức ăn lôi kéo, từ phòng bên bước ra. Ban đầu cô bé vẫn còn hậm hực, nhưng vừa thấy đồ ăn bày trên bàn thì sắc mặt lập tức tươi tỉnh. Col chỉ có thể thở dài trước sự ích kỷ ấy.
“À phải rồi, tôi nghe ông Yosef nói hai người là anh em, cùng nhau du hành nhỉ?”
Myuri, tay phải cầm bánh mì, tay trái cắm xúc xích lợn trên con dao, liếc nhìn Sligh rồi quay sang Col. Sau đó cô bé mất hứng, cắn luôn miếng bánh, như thể ngầm bảo rằng trả lời câu hỏi ấy là việc của Col.
Nghĩ đến việc lát nữa sẽ phải nghiêm khắc dạy bảo cô bé, cậu đáp lời.
“Chúng tôi không có quan hệ huyết thống. Trước khi lên đường, tôi làm việc ở một quán trọ, còn cô bé là con gái của chủ quán. Tôi vừa chăm sóc vừa dạy dỗ em ấy, nhưng như ngài thấy đấy… em ấy nghịch ngợm vô cùng. Lúc nào cũng nói muốn rời làng, rồi nhân cơ hội liền chui thẳng vào hành lý của tôi.”
Myuri vẫn im lặng ăn uống, nhưng dưới gầm bàn, cô bé giẫm mạnh lên chân Col.
“Dù vậy, kể từ khi chúng tôi bắt đầu đồng hành trên đường đi, cô bé đã dạy cho tôi rất nhiều điều, và vì thế tôi vô cùng biết ơn.”
Cô bé khựng lại trong chốc lát rồi quay sang phía cậu. Col đáp lại ánh nhìn ấy bằng một nụ cười, còn cô bé thì lập tức quay mặt đi, bĩu môi. Tuy vậy, bàn chân vẫn dẫm chặt lên chân cậu, không hề buông ra.
“Một mối quan hệ mà hai bên có thể học hỏi và nhận được nhiều điều từ nhau như vậy, quả thực là rất đáng quý.”
Sligh nói với vẻ vui vẻ, vừa lau miệng.
“À, nhân tiện, tôi muốn bàn một chút về chuyện sắp tới. Với tư cách là người đứng đầu thương hội này, tôi có trách nhiệm trấn an đời sống tinh thần của những người làm việc ở đây, nhưng đồng thời cũng phải nghĩ đến các vị khách đang lưu trú.”
Col còn đang tự hỏi anh định nói gì, thì Sligh tiếp lời:
“Nếu ngài tiếp tục ở trong căn phòng này, chắc chắn sẽ có người tìm đến suốt ngày đêm. Vì thế, nếu ngài muốn ra ngoài hít thở và thay đổi không khí, xin cứ nói một tiếng. Ra ngoài với trang phục giáo sĩ có thể khiến ngài vướng vào rắc rối, nên chúng tôi sẽ chuẩn bị cho ngài quần áo của thợ thủ công.”
“Thật sự cảm ơn ngài vì tất cả những gì đã làm.”
“Thật vinh hạnh cho tôi. Nhờ có ngài mà mọi người trong thương hội đều an tâm hơn hẳn. Biết đâu bầu không khí phấn chấn này còn giúp chúng tôi có lợi thế trước các đối thủ cạnh tranh.”
Col không biết Sligh nói nghiêm túc đến mức nào, nhưng cậu nhận ra người chủ nhà đang cân nhắc lợi ích của mình rất chu đáo.
“Như ngài đã đã nói vậy.”
“Vậy quyết định thế nào? Chỉ cần tôi rời khỏi căn phòng này sau bữa ăn, người của thương hội sẽ lại ùn ùn kéo tới đấy.”
“Ừm…”
Khi Col còn đang lưỡng lự, Myuri ngồi bên cạnh đã sốt ruột kéo tay áo cậu.
Cô bé đang muốn ra ngoài phố.
“Xin thứ lỗi. Tôi còn có chút việc cần bàn với ông Yosef, vậy chúng tôi có thể mượn quần áo để ra ngoài một lát được không?”
“Tất nhiên. Xin chờ một chút.”
Sligh vỗ tay ra hiệu, gọi những người hầu đang đứng chờ lặng lẽ ngoài cửa.
Họ nghiêm trang gật đầu sau khi nghe mệnh lệnh, và lúc ấy, Myuri xen vào, nói rằng cô bé muốn tự xem quần áo của mình. Trông Sligh có vẻ khá vui khi nghe một yêu cầu tùy hứng như thế từ cô bé.
Col thấy hơi bực, nhưng cậu hiểu rằng cô bé đã phải chịu đựng quá nhiều ở quần đảo phương bắc, nơi chỉ có tiếng sóng đập ầm ầm và cơn gió lạnh lẽo, tẻ nhạt. Nghĩ vậy, cậu đành chấp nhận rằng mình chẳng thể làm gì khác trước những đòi hỏi ấy.
Nhìn cô bé vui đến mức đôi tai và chiếc đuôi giấu kín như sắp bật ra, cậu thoáng nghĩ hay là để cô bé tự ra ngoài dạo phố một mình cho rồi, nhưng đúng lúc đó, cô bé quay sang nhìn cậu.
“Có chuyện gì sao?”
Đôi mắt hổ phách ánh đỏ đang nhìn chằm chằm vào cậu, mang theo chiều sâu trí tuệ mà cô bé thừa hưởng từ mẹ.
“Anh vừa nghĩ là muốn để em đi ra phố một mình, đúng không?”
Dù Col vẫn chưa hiểu hết ý định thật sự của Chúa, Myuri thì đã nhìn thấu cậu.
“Ừ, nhưng anh sẽ không để chuyện đó xảy ra đâu mà nhỉ?”
Và chính cậu cũng hiểu cô bé quá rõ.
“Phải rồi ha!”
Cô bé cười thật tươi, nắm lấy tay cậu, đan chặt những ngón tay vào nhau.
Dù đôi lúc cậu thấy cô bé quá áp đảo, nhưng cậu luôn vui khi thấy cô bé nhìn mình bằng ánh mắt ngưỡng mộ như thế.
“Vì nếu em muốn mua gì đó mà không có anh bên cạnh, em chẳng biết phải làm sao cả!”
Đúng như cậu đã đoán mà. Khi cậu mỉm cười và thở dài, Myuri khúc khích cười theo.
~~~
Không ai có thể chỉ liếc mắt một cái mà biết được con người thật bên trong của người khác. Ngay cả trong Kinh Thánh, khi Chúa hay các thiên thần cải trang thành con người thì cũng chẳng ai nhận ra. Các thánh nhân thì luôn bị người đời chế giễu.
Suy cho cùng, thân phận của một người thường được quyết định bởi chính bộ quần áo họ khoác lên.
Dù lý thuyết là vậy, nhưng Col vẫn cảm thấy có gì đó không ổn.
“Anh mặc gì cũng chẳng quan trọng đâu, anh trai. Chẳng có bộ nào thực sự hợp với anh cả.”
Cô bé không còn trêu chọc cậu như thường lệ, mà trên gương mặt là vẻ bối rối thật sự.
“…Trong khi đó, trông em lại giống hệt một học việc xuất sắc trong xưởng đấy.”
Myuri mặc áo tay ôm sát, quần len thô để tăng độ bền bỉ và bên hông quấn một chiếc thắt lưng đựng dụng cụ. Khi buộc gọn mái tóc lại, Myuri bỗng biến thành hình ảnh tiêu biểu của một chàng học việc trẻ tuổi để tóc dài.
Col cũng mặc trang phục tương tự, nhưng ngay cả người thương nhân chuẩn bị quần áo cho họ cũng chỉ có thể mỉm cười một cách lúng túng.
“Sao anh không ăn mặc như một thương nhân đi? Nếu ai nói anh là một ông chủ trẻ trong thành, em cũng tin đấy.”
Rốt cuộc thì điều ấy cũng không quá hợp lý đối với Col, người cảm thấy bút và mực hợp với mình hơn cả.
Sau cuộc đối thoại đó, hai người bước ra phố. Myuri không lao ngay vào các quầy hàng thức ăn để xin nếm thử như thường lệ. Có lẽ vì họ vừa ăn trưa xong, nhưng lần này, sự tò mò đã thắng thế cơn thèm ăn.
Đôi mắt cô bé trở nên lấp lánh khi đi qua khu thợ thủ công.
“Anh trai!! Nhìn kìa! Cái nồi to quá! Nấu được bao nhiêu đồ ăn luôn!”
“Cái đó là nồi chưng cất, dùng để nấu rượu từ lúa mì…”
“Này anh trai, nhìn bên kia kìa, họ bán mấy cây giáo trông lạ ghê!”
“Không phải giáo đâu. Đó là để xiên heo với cừu trước khi cho vào lò. Tay cầm uốn cong để có thể xoay tròn khi nướng…”
“Ồ, hay ghê! Đây là cửa hàng lông thú ạ? Nhưng lông mỏng thế này thì mùa đông không lạnh sao?”
“Chúng ta đã thấy ở Atiph rồi mà? Cái đó không phải để mặc. Là để viết lên, họ kéo căng ra mọi phía khi phơi khô…”
“Này này, anh trai, nhìn kìa!”
Myuri tiếp tục không mấy để tâm đến lời giải thích của Col khi chạy từ sạp này sang sạp khác. Dù vậy, cậu vẫn thấy ấn tượng: hễ là thứ gì cậu đã giải thích một lần, cô bé đều nhớ rõ. Thoạt nhìn, Myuri chỉ như một cô bé vô tư chạy nhảy, nhưng thực ra đang tiếp thu mọi thứ trên thế giới bằng một sức sống đáng kinh ngạc.
Khi họ rời khu thợ thủ công để bước vào khu dân cư, Myuri bỗng nhiên im lặng. Cô bé đứng khựng lại, nhìn chằm chằm vào khoảng không.
Rồi gần như vô thức, cô bé nắm lấy tay Col.
Mỗi khi sự tò mò trong cô bé nghiêng quá xa về một phía, Myuri lại trở nên lặng lẽ như thế.
Cô bé đang nhìn những phụ nữ và trẻ con ngồi dưới mái hiên các ngôi nhà ở Desarev, quay sợi từ lông cừu.
Phần lớn công việc ở khu thợ thủ công diễn ra trong xưởng, nhưng tại đây, dụng cụ được bày la liệt khắp đường. Qua những ô cửa và cánh cửa mở rộng, có thể thấy người ta đang làm việc bên trong. Khó mà biết ranh giới giữa nhà ở và nơi lao động nằm ở đâu. Có người đặt đồ lên một tấm ván buộc dây rồi thả xuống mặt đường, sau đó lại kéo lên. Thậm chí còn có người dùng chiếc xẻng lớn chuyên cho lò bánh mì để chuyền vật liệu qua khoảng trống giữa hai ngôi nhà—mọi thứ trông như một cảnh tượng đầy hư ảo.
Nó giống như một vở kịch mà Col từng xem ở một quốc gia phương Nam, nơi cả thị trấn trở thành sân khấu.
“Oa…”
Myuri khẽ thốt lên, hoàn toàn vô thức.
Giữa con phố trải một tấm vải lớn, trên đó chất thành một ngọn núi lông cừu. Những bé gái nhỏ chôn mặt vào đống lông, lôi rác vụn ra. Phía sau, các cô bé lớn hơn một chút dùng thứ giống như cái cào để chải lại chiều sợi cho gọn.
Dọc theo tường nhà có vẻ là những giá phơi, nơi các cô bé với tay treo lông lên. Những bó lông được buộc vật nặng rồi treo dần lên cao, hẳn là một phần của công đoạn xoắn sợi. Vì cần độ cao, những cô bé lớn hơn Myuri vừa làm vừa trò chuyện rôm rả.
Gần như không còn lối đi cho Col và Myuri khi băng qua khu vực nhộn nhịp ấy, cho đến khi họ tới một con kênh bao quanh thị trấn. Ở đó, những người đàn ông mà trước đó họ chưa thấy qua đang dùng ròng rọc kéo búa nện xuống đống lông đặt trong nước. Đây là công đoạn nện lông.
Bên cạnh họ là những thùng đầy lông. Công nhân rắc nước, tro và một thứ thuốc gì đó vào, trộn đều rồi dùng sào mà khuấy đều. Xong xuôi, đống lông nặng trĩu nước được giao cho bọn trẻ giẫm cho ráo, rồi lại có những đứa trẻ khác trải vải ra phơi.
Thậm chí còn có những thanh niên trẻ vác theo những bao vải lanh to hơn cả thân mình để chuyển vật liệu giữa các công đoạn.
“Giống như một tổ kiến vậy.”
Myuri thở dài đầy ngưỡng mộ nói. Col thấy nhận xét ấy hoàn toàn chính xác.
“Biểu tượng của sự cần cù đó.”
“…Đừng giảng đạo với em.”
Cô bé khoa trương đưa tay bịt tai, như bảo cậu hãy để yên cho mình.
“Đâu có. Em đã làm việc rất vất vả ở phương Bắc rồi mà.”
Myuri vẫn nhìn cậu với vẻ hoài nghi, nhưng khi nhận ra cậu nói thật, cô bé bỗng nở nụ cười rạng rỡ và bám lấy cánh tay cậu.
“Nhưng ai cũng làm hết sức mình thật đấy. Trông họ còn vừa làm vừa vui nữa.”
Col trầm ngâm, ngắm nhìn khung cảnh rộn ràng.
“Nyohhira chẳng phải cũng náo nhiệt như thế sao?”
Rồi Myuri nói một điều không ai ngờ tới. Vì họ đã rời Nyohhira được một thời gian, có lẽ cô bé bắt đầu nhớ nhà.
“Về độ náo nhiệt thì có lẽ cũng giống nhau, nhưng Nyohhira chỉ toàn là tiệc tùng thôi.”
Trái lại, sự sôi động của nơi này lại đến từ những con người đang làm việc. Không chỉ vậy, khắp thị trấn, từ dưới mái hiên cho tới những con hẻm chật chội, ai nấy đều tất bật tạo ra lông cừu. Và điều khiến Col chú ý hơn cả là dường như mỗi người đều thật sự tìm thấy niềm vui trong công việc của mình.
Col cũng không ghét lao động, nhưng cậu thấy thật kỳ bí khi bầu không khí bao quanh những người dân nơi đây khiến cậu cảm thấy có gì đó khác biệt.
Đang lúc họ đi vừa quan sát, Myuri đột nhiên lên tiếng.
“À đúng rồi, anh trai chẳng phải còn có việc phải làm sao?”
“Phải. Chúng ta cần gặp ông Yosef…”
Nói đến đó, cậu quay sang nhìn Myuri.
“Ừm? Sao vậy?”
Thấy cô bé chỉ tròn mắt nhìn mình một cách trống rỗng, cậu không kìm được nụ cười đang hình thành trên môi.
“Anh mừng là em nhớ tới việc anh cần làm, chứ không đòi đi chơi thêm.”
Cô bé chớp mắt, rồi đáp lại với một vẻ mặt rất khó tả.
“Thì, nếu anh không lo xong việc, lúc em đòi ăn anh sẽ cáu lên rồi bảo em đợi cho xong đã. Mà em thì sắp đói rồi.”
“…”
Col tự hỏi không biết như vậy có thể gọi là trưởng thành đúng nghĩa hay không.
Dẫu sao, cậu quả thực có việc cần giải quyết, nên hai người đổi hướng về phía cảng Desarev. Bản thân thị trấn đã đủ nhộn nhịp, nhưng khu cảng còn đông đúc gấp bội. Chẳng mấy chốc, Col nhận ra hôm qua người ngoài phố ít hơn là vì mưa vừa dứt. Cậu nắm chặt tay Myuri khi bị dòng người xô đẩy, cho đến khi cuối cùng cũng tới được con tàu họ đang tìm.
Con tàu hẳn đang được chất thêm hàng hoặc sửa soạn gì đó, bởi quang cảnh bận rộn chẳng khác nào một tổ kiến với người ra kẻ vào liên tục. Col chần chừ vì nếu nhờ ai đó gọi Yosef, hẳn sẽ thu hút không ít ánh nhìn, nhưng đúng lúc ấy, người cậu đang nghĩ tới lại đang cúi người nhìn xuống mạn tàu. Khi bất chợt ngẩng đầu lên, ông nhận ra họ ngay.
“Ngài Col!”
Yosef đứng thẳng người gọi tên cậu. Sau khi ra lệnh cho người bên cạnh, ông nhanh chóng bước qua cầu tàu tiến lại gần.
“Có chuyện gì sao? Ở thương hội có vấn đề gì à?”
Gương mặt Yosef thoáng vẻ căng thẳng, có lẽ vì chính ông là người đưa họ tới đó, nên bất kỳ điều bất tiện nào xảy ra cũng là trách nhiệm của ông. Đây là một người có tinh thần trách nhiệm rất cao.
“Không hề. Họ tiếp đãi chúng tôi rất chu đáo.” Việc đầu tiên Col làm là trấn an Yosef trước khi nói tới chuyện chính. “Tôi chỉ muốn hỏi khi nào chúng ta có thể khởi hành đi Rausbourne thôi.”
Nếu việc xuất phát bị trì hoãn quá lâu, cậu muốn sắp xếp một con tàu khác. Thậm chí, cậu còn thoáng nghĩ tới việc đi đường bộ bằng ngựa, dù cảm thấy như vậy sẽ bất kính với Yosef.
“Vậy à. Sớm nhất thì cũng phải ba ngày nữa. Nhưng nếu phát hiện hỏng hóc, việc sửa chữa khẩn cấp có thể kéo dài từ một tuần đến mười ngày.”
Yosef quay đầu nhìn con tàu phía sau, giọng đầy áy náy. Myuri cũng cúi nhìn xuống đáy tàu, nơi có người đang treo mình kiểm tra tình trạng thân tàu.
“Các tàu khác cũng chưa chắc đã sớm rời bến. Cơn bão để lại gió mạnh ngoài khơi, dòng chảy cũng rất xiết. Tôi cũng không khuyên đi đường ngựa đâu. Nhìn trên bản đồ thì có vẻ chỉ là băng qua một ngọn núi, nhưng vào mùa này tuyết vẫn còn dày. Đường biển nhanh hơn nhiều.”
Col hơi khó chịu, nhưng biết mình chẳng thể làm gì hơn.
“Desarev là một thị trấn tốt. Hãy nghỉ ngơi cho thật kỹ, như vậy sẽ giúp ngài chuẩn bị cho công việc tiếp theo đó.”
Thúc ép Yosef cũng chẳng ích gì, mà trong thư, Hyland cũng không yêu cầu họ phải gấp gáp.
“Vâng. Có lẽ chuyện này cũng là ý của Chúa.”
Yosef mỉm cười, trông nhẹ nhõm hơn hẳn, rồi lại nhớ ra điều gì đó.
“À phải rồi. Hồi nãy có người tìm ngài đấy, ngài Col.”
“Gì cơ?”
Col từng quen vài người khi làm việc ở nhà tắm Nyohhira hiện đang ở trong vương quốc này, nhưng cậu không nghĩ có ai biết mình đang ở Desarev. Trước phản ứng ngạc nhiên của cậu, Yosef nhún vai.
“Họ không nói tên ngài. Chỉ hỏi rằng vị giáo sĩ từng tham gia sự việc ở phương bắc có ở trên tàu này không. Có lẽ là người nghe phong thanh đâu đó. Dù sao thì thủy thủ và hành khách của chúng tôi cũng khá kín miệng.”
Sligh từng nhắc tới chuyện này, nhưng Col không ngờ nó lại xảy ra nhanh đến vậy.
“Thấy ngài không quen họ, nên tôi tránh trả lời. Nhưng may là ngài đang mặc thế này. Nếu người quanh đây biết thân phận của ngài, e là sẽ có rắc rối.”
Col cúi nhìn bộ quần áo của mình, còn Myuri đứng bên cạnh thì chăm chú nhìn cậu.
Ít nhất thì trông cậu không giống một giáo sĩ.
“Danh tiếng có sức mạnh, và luôn có kẻ muốn lợi dụng sức mạnh đó.”
“Cảm ơn ông đã cảnh báo.”
“Ồ, không có gì.”
Col nhận ra vẫn còn rất nhiều điều mình chưa hiểu về thế giới này, và tự nhủ nên ghi nhớ lời khuyên của Yosef. Dẫu vậy, việc bị người khác lợi dụng nghe vẫn có vẻ xa vời. Cậu có thể bị lợi dụng kiểu gì chứ? Nếu ai cần giải thích kinh điển thần học, cậu luôn sẵn lòng. Chỉ cần họ mở lời.
“Dù sao thì, tối nay tôi sẽ ghé thương hội. Sao chúng ta không cùng uống một chén với ngài Sligh nhỉ? Xưởng rượu tôi thích nhất cũng ở thị trấn này đấy.”
Sau lưng Yosef, đã có người đứng đợi ông quay lại công việc.
Col thấy áy náy vì đã làm gián đoạn ông.
“Vâng, tôi rất mong đợi đến lúc ấy.”
Col đáp rồi cùng Myuri rời đi.
Lúc đi lại ở cảng trong giai đoạn họ vừa đặt chân đến nơi này, chỉ việc bước thẳng cũng đã khó khăn. Nhưng giờ đã quen với dòng người, việc di chuyển không còn vất vả nữa.
Thấy Myuri liên tục đảo mắt nhìn quanh, Col liền hỏi:
“Em thấy có gì lạ sao?”
Sau thoáng ngạc nhiên, cô bé khẽ nhướng mày.
“Em chỉ kiểm tra xem có kẻ xấu nào bám theo anh không thôi.”
Lẽ ra công việc của cậu dưới vai trò của một người trưởng thành là bảo vệ cho cô bé. Thế nhưng, trước vẻ khó chịu của Myuri, cậu lại chẳng biết đáp lại thế nào.
“Ngoài này nguy hiểm lắm, nên đừng rời xa em. Được không, anh trai?”
Những lúc thế này, Col không rõ rốt cuộc ai đang dẫn dắt ai.
Nhưng cậu không còn thấy bực bội, cũng không gọi cô bé là láu cá nữa.
“Vậy thì trông cậy vào em nhé.”
Khuôn mặt Myuri lập tức bừng sáng, nhe cả hàm răng.
“Cứ để đó cho em!”
Cô bé hớn hở đến mức tưởng như tai và đuôi sắp lộ ra, nhưng rồi đột ngột dừng lại giữa dòng người đông đúc, ngẩng đầu nhìn lên cao.
Col theo ánh mắt ấy, tự hỏi chẳng lẽ có thiên sứ nào vừa rơi xuống từ bầu trời.
“Này anh trai, em muốn tới đó!”
Cô bé giơ tay chỉ về phía mỏm đất mũi có nhà thờ chính tòa sừng sững đứng đó, nơi ngọn lửa soi đường cho những con tàu lạc giữa biển đêm, đồng thời cũng là ánh lửa của đức tin dành cho con người.
0 Bình luận