Con thuyền nhỏ tấp vào cái bến cảng nhỏ cũng chẳng kém gì nó. Đấy là một hòn đảo nằm lọt thỏm giữa đại dương bao la, nơi khi ta nhìn xuống từ đỉnh thì chỉ thấy bốn bề sóng biển. Đen đưa thuyền vào gần rồi nhanh tay buộc thật chặt sợi dây thừng vào cái cọc, bến cảng lác đác vài con thuyền, nom nơi đây giống như nơi tôi chôn rau cắt rốn.
“Đi thôi!”
Đen chống hai tay lên hông, thở một hơi dài. Nó nhảy xuống cây cầu gỗ gần đấy, quay người lại rồi dìu tôi.
“Chị đi mua gì thì mua đi nhé, tối nay mình gặp nhau ở đây! Nhớ nhé, ở ngay đây đấy, đừng đi lạc đó”
Vừa nói, nó vừa chỉ chỉ xuống dưới đất. Tôi chỉ biết nhìn nó gượng cười, Đen sao mà vẫn còn trẻ con lắm
Tôi mở cái balo ra, nhìn cái điện thoại đang hết pin và cái ví nhỏ ở trong đấy. Chắc tôi phải làm nhiều việc vào hôm nay đấy nhỉ? Tôi nghĩ thầm, quay lại nhìn Đen, nó đang tỏ vẻ hưởng thụ khi ngân nga gì đấy trong lúc lúi húi xách từng giỏ cá xuống khỏi tàu. Nhìn nó vui tôi cũng vui lắm, cũng đúng thôi, đã quá lâu rồi cả hai mới về lại đất liền mà.
“Em tính làm gì?”
Tôi quay lại hỏi Đen, thằng nhóc đang lôi xềnh xệch một bao cá đầy ắp.
“Bán cá thôi.”
Nó thản nhiên.
“Chị đi mua sắm hay tham quan đi, nhớ đừng quên đường ra cảng đấy!”
Tôi gật gật cái đầu, đeo balo lên lưng, vẫy chào Đen lần nữa rồi chậm rãi tiến về phía thị trấn. Con đường dẫn ra cảng không rộng, được lát bằng những khối đá gồ ghề, hai bên rải rác vài chiếc thuyền gỗ nom đã cũ lắm rồi. Có người thấy tôi liền vẫy tay chào, nụ cười của họ trắng phau như vay cá. Đi thêm một đoạn, khu chợ nhỏ hiện ra trước ánh mắt hoài niệm. Khu chợ nhỏ, như cái cảng đang chứa nó. Nơi đầy ắp hải sản tươi sống vừa được mang từ thuyền về. Những con cá to, béo ú, tươi rói đang dãy đành đạch. Những con tôm, mực óng ánh trong ánh ban mai được đựng trong những chiếc rổ nhỏ. Nước biển nhỏ nhẹ xuống nền đá hoa cương, hòa lẫn cùng tiếng người dân, tạo thành một âm vang giống khi ta bước vào một buổi tiệc vui thú lắm.
Cư dân ở đây nói thứ tiếng kỳ lạ, tôi chưa từng nghe nó trước đây, dù là trong lớp học hay thậm chí là trên mạng đi nữa. Âm điệu trầm bổng, nhanh nhảu, trông họ nom đang hát, và sóng thì đang đệm theo âm vang. Họ nhìn tôi, có người vẫy tay, ra hiệu cho tôi lại gần. Lắm lúc tôi sẽ khựng lại, lúng túng khi nhìn thấy một lời mời chào quá niềm nở. Cuối cùng tôi chỉ đành cười trừ, xua xua tay, khẽ gật đầu rồi vội vã bước tiếp về phía trước.
Tôi như Alice đang lạc giữa xứ sở thần tiên. Cơ mà khung cảnh ở đây toát ra vẻ quen thuộc, chẳng kỳ thú như cái nơi Alice đặt chân vào đâu. Nơi đây chỉ là một thị trấn bình thường. Cơ mà “thị trấn” thì cũng không hẳn. Suy cho cùng, nó chỉ là một ngôi làng chài nghèo, tách bạch với thế giới. Con đường lát đá gập ghềnh, những căn nhà thấp bé nằm san sát, và tôi chẳng thấy dây điện hay gì đấy ở đây. Có lẽ với họ đồ điện vẫn là điều gì đấy xa xỉ lắm. Cứ như tôi vừa du hành ngược về một quá khứ rất xa xôi, cái thời mà tôi chỉ nghe bố mẹ kể trong giấc ngủ.
Đoạn tôi dừng lại ở một cửa tiệm đã cũ nằm ngay ngắn trên sườn đồi. Ngoài nó ra thì trên cái đồi này dường như chẳng còn ngôi nhà nào nữa. Cửa tiệm được chắp vá bằng những thanh gỗ nguệch ngoạc, chỗ cong lên, quẹo xuống, như được một thằng bé xây lên. Biển hiệu để nhiều thứ tiếng lắm, tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Trung,... Chỉ mỗi chữ tiếng Việt thôi cũng là đủ tôi lấy hết can đảm còn lại để bước vào.
Tôi đẩy cửa tiến vào, giống con mèo nhỏ ướt mèm, rụt rè trong sương gió. Cánh cửa kẽo kẹt một tiếng dài, nghe như giọng nói của một diễn viên bi kịch Hy Lạp. Ngay lập tức, cái chuông bé xíu đước gắn phía trên rung lên, nó phát ra những thanh âm trong trẻo, trái ngược hoàn toàn với cái bi kịch vừa mới xảy ra. Tiếng chuông hay lắm, ngân nga như gió thoảng bên tai. Trong cái không gian ngột ngạt vừa mới chớm nở, nó còn vang lên rõ ràng hơn nữa. Thấy vậy, tôi ngại lắm, chỉ dám ti hí đôi mắt qua cánh cửa đó, tôi sợ người đàn ông hung dữ trong trí tưởng tượng sẽ quát tôi vì phá hỏng giấc ngủ của ông ấy.
“Kumusta, ano ang kailangan mo?”
Giọng một người phụ nữ vang lên từ quầy gỗ, giọng cô dịu hiền, ấm áp, vững chắc, giống hệt ánh nắng chói chang ở ngoài này. Cô lại gần tôi, một người phụ nữ đã ngoài tứ tuần. Cô trạc tuổi mẹ. Cô mang trên mình cái khăn choàng quấn quanh người, lộ ra một ít tóc. Tôi thấy lấp ló dưới đó là nước da ngăm đen, sáng bóng lên dưới ánh sáng hắt qua từ khung cửa sổ. Đôi mắt cô hơi nheo lại khi cười, nụ cười hiền lành tràn đầy sức sống. Cô mau chóng kéo tôi vào bên trong.
Tôi nuốt khan cái ực. Mùi gỗ cũ xộc vào mũi làm tôi thích thú đê mê như một con nghiện. Cửa hàng thơm lắm, nom đã cũ rồi. Mùi thời gian, mùi cần mẫn, mùi nắng mai, tất cả hòa quyện tạo nên sự sống nhịp nhàng trong nơi này. Tôi mải mê chú tâm vào nó quá mà đã quên mất là người kia vẫn đang đứng trước tôi. Mất một lúc để tôi bình tâm trở lại. Tôi bỗng ngượng ngùng, nhìn cô rụt rè như một con thỏ. Thế rồi tôi đánh liều lên tiếng, từng chữ bập bè giống một đứa nhóc đang tập đánh vần.
“Dạ vâng...”
Tôi ngập ngừng.
“Can...Can you speak English?”
Mất một lúc lâu, người phụ nữ ấy mới hiểu ra vấn đề, cô vội vàng đi ra khỏi quầy hàng, nắm lấy tay tôi mà dìu tôi ngồi xuống.
“China?”
Tôi lắc lắc đầu, xua tay. “Việt Nam, Việt Nam!” Vừa nói, tôi vừa làm ra dấu một chữ S to tướng trước mặt.
“À!”
Cô ấy reo lên, như ngọn chuông gió vui sướng khi thấy gió.
“Mẹ chị cũng là người Việt Nam đấy!”
Cô tiến về phía trước, nhìn tôi với con mắt dễ mến lắm, cô lại nói.
“Thế em ở đâu?”
“Dạ...”
Tôi nghĩ thầm về quê mình; cái nơi khỉ ho cò gáy, quỷ ma còn chẳng thèm tới ấy liệu người phụ nữ này có biết không? Thôi thì kệ vậy, tôi nghĩ mình cũng chẳng nên nói cho người này biết làm gì.
“Thế em tìm gì ở đây?”
Như hiểu được ý tôi, cô quay về cái quầy bán hàng nằm gọn trong một góc, đưa đôi mắt nhỏ về phía tôi. Cô giống một người thanh tra đang tra khảo phạm nhân trước khi đưa họ ra pháp trường. Người phạm nhân ấy là tôi, một kẻ tội đồ với tội danh ích kỷ và ngu ngốc.
“Một ít đồ ăn và sạc điện thoại ạ.”
Tôi đảo mắt quanh cửa hàng, có độc cái cửa sổ ở ngoài soi rõ ánh sáng bên trong. Ở trong đây đầy đủ mọi thứ, nào xoong nồi niêu chảo, dây câu, lưới cá, đến cả snack, gia vị, mì gói. Nói chung là mọi thứ mà một cửa hàng bình thường, nơi bạn hay đến mua đồ có thì những thứ đó trong đây đều có, và có thể là nhiều hơn như vậy nữa.
“Đâu, đưa điện thoại cho chị xem nào?”
Cô ấy đưa tay ra vẫy tôi lại, đôi bàn tay thon gọn đến nỗi tôi cảm giác đấy chẳng phải tay con người, những ngón tay thon dài, cái móng tay được chăm sóc kỹ lưỡng. Thứ mà tôi cá chắc rằng ai nhìn thấy nó cũng phải ghen tị tự hỏi tại sao nó lại có thể đẹp thế. Rồi họ sẽ cho rằng, cô là một người siêng ăn lười làm, hay làm những gì đó không đứng đắn. Song cái cửa hàng tươm tất này lại là thứ đủ để nói lên cô đã cố gắng đến nhường nào.
“Đây ạ.”
Tôi đưa cái điện thoại của mình cho cô, mất một lúc lâu, người phụ nữ ấy mỉm cười.
“Được thôi, thứ này chị giúp em được, thế em còn cần gì nữa?”
“Chắc là...”
Tôi lại đánh mắt ra cái kệ hàng kế bên.
“Một ít đường, rất nhiều nước ngọt” tôi cầm cái bịch màu trắng trên tay, khá chắc đấy là đường, “thêm một thùng mì tôm nữa”, tôi chỉ tay về cái thùng mì ngoài xa xa, trong nó lạ mắt lắm.
“Được rồi, của em hết 600 Peso nhé, vì em cũng coi như là đồng hương đi, chị lấy em 550 thôi nhé!”
Cô khẽ cười, đoạn lúi húi cắm sạc cái điện thoại cho tôi, rồi mau chóng lấy đồ đem lại quầy.
“À chết!” Như sực nhớ ra cái gì đấy, giọng cô cao hơn một chút mà hỏi. “Em có đồng Peso chứ?”
Tôi lắc đầu, mở cái ví ra, chẳng có thứ gì gọi là “đồng Peso” trong đấy cả.
Thấy vậy, cô liền ra vẻ ngẫm nghĩ một hồi. Mắt cô nheo lại, để lộ ra một ít tóc trên vầng trán sáng bừng. Cô như một tạo vật hoàn hảo của thượng đế, một thiên sứ mang dáng vóc con người. Cô ngồi xuống, bấm bấm cái máy tính trong quầy rồi nhìn tôi, thấy vậy, tôi bèn lảng tránh ánh mắt cô. Chuyện ấy là lẽ tất nhiên. Khi một tội đồ của tội lỗi đưa mắt nhìn lên mặt trời, họ sẽ thấy nó chói chang, thấy mình thật là bé nhỏ như một con chuột chẳng đáng để được sống. Hoặc là như khi ta vừa làm sai thì phải đối diện với mẹ, chắc vì vậy mà tôi cảm thấy ngại ngùng, tội lỗi đến kỳ lạ.
“Thôi thì như này.”
Cô nhìn lên, tặc lưỡi một cái, không có chút khó chịu gì trong hành động ấy. Rồi cô lại gần phía tôi, lấy ra hai cái ghế rồi ngồi xuống đối diện với tôi.
“Chị lấy của em 100 ngàn, coi như là kỷ niệm đi, đã lâu rồi không có người ở ngoài đến đây, thôi thì coi như là chị tặng.”
“Sao ạ?”
Như không tin vào tai mình, tôi hỏi lại.
Người phụ nữ khẽ cười. Nụ cười chỉ dành cho riêng mình tôi. Cô bước chậm lại gần, gió nhẹ lùa vào qua song cửa. Bàn tay nhẹ xoa mái tóc bết của tôi, động tác dịu dàng đến mức khiến tôi bất giác muốn khóc nấc lên mà kêu cô là mẹ. Chẳng để tôi kịp phản ứng, cô đặt bàn tay lên vai, khẽ ấn xuống, bắt tôi ngồi xuống cái ghế mà cô vừa mới lấy ra. Cái ghế đã cũ, kêu lên vài tiếng cọt kẹt nhưng tôi vẫn thấy dễ chịu lắm.
“Nếu em cảm thấy không được.”
Cô vuốt tóc tôi, nhìn tôi thật lâu, giọng nói rõ ràng.
“Thì em hãy kể câu chuyện của mình cho chị nghe đi, coi như là tiền bù cho đống đồ đó. Đã lâu lắm rồi chị không nói chuyện với ai ở nơi khác, cứ coi như đó là một món quà dành cho chị đi nhé?”
Ngẩn người mất một lúc, tôi lí nhí đáp lại.
“Câu chuyện... của em?”
Tôi lặp lại, trong khi cô vẫn cười hiền, không hiểu sao tôi cảm thấy mình đã xem cô như một người chị cả từ khi nào lâu lắm rồi.
Cô không trả lời ngay. Cô chỉ cười, trông cô giống hệt Đen, luôn cười đáp lại khi tôi nói về chủ đề nào đó. Nụ cười của cô đẹp lắm, nụ cười của Đen cũng vậy. Nụ cười ấm áp hiu hắt qua khung cửa sổ, thi thoảng gió sẽ lay động chúng tôi, làm cái chuông cửa rung rinh hát theo, dẫn dắt cả hai về cái quá khứ xa xôi lắm, cái quá khứ mà chẳng ai còn muốn nhớ tới.
“Thế để chị kể trước nhé?”
Câu hỏi thốt ra, nhưng chẳng đợi tôi phải đồng ý hay từ chối. Người phụ nữ khép đôi mi lại, hàng mi dài, đẹp chẳng kém gì những ngón tay. Cô ấy thật sự có phải là một con người không? Tôi thầm nghĩ khi nhìn gương mặt rám nắng thoáng chút u buồn, ẩn giấu đâu đó trong nếp nhăn mờ mờ trên khóe mắt. Cứ như cô đã chờ giây phút này từ rất lâu, cái giây phút được trút bỏ một phần câu chuyện chính mình. Cái giây phút này, nó chắc hẳn phải quan trọng lắm cho hành trình của tôi nhỉ?
Tôi mong là vậy.
Cô tên là Maria. Bố cô là một ngư dân quanh năm bám biển, cả đời chỉ biết đến sóng, cá và thuyền, ông là một người đơn giản đến lạ thường. Mẹ cô thì ở nhà buôn bán, cửa hàng này cũng là do bà để lại, bà là một con người tích cực, luôn yêu đời, giống hệt như cô. Qua lời kể, gia đình ấy dường như hạnh phúc lắm. Tuy không giàu có, nhưng họ lại có một cuộc sống bình dị biết bao người ao ước. Có lẽ bởi vậy nên gương mặt cô khi kể về nó mới khó tả đến thế. Thoáng chút hạnh phúc, tự hào. Nhưng cũng chẳng che đi được nét buồn đau, thất vọng.
“Cuộc sống cứ mãi như vậy thì thích nhỉ?”
Cô đưa mắt ra ngoài khung cửa sổ, tôi gật đầu, những đóa hoa hướng dương vẫn đang khoe sắc cùng gió biển.
Năm cô mười lăm, đó là một năm đáng nhớ. Biển cả được mùa, cá về như nước, nhiều đến độ mà bố cô bảo rằng “người ta làm muối cũng không được nhiều muối như năm nay bố bắt được cá”. Gia đình cô bấy giờ hạnh phúc lại càng thêm hạnh phúc. Như thể thượng đế đã thương xót mà bù đắp cho bao năm đói kém, giông bão vừa qua. Làng chài khi đó rộn ràng cả ngày lẫn đêm. Những con thuyền từ phương xa cứ nườm nượp kéo đến. Người lớn cần mẫn làm việc, bọn trẻ như cô thì vui vẻ đến trường. Tưởng chừng hạnh phúc sẽ kéo dài như vậy mãi.
Maria thở dài, cô lặng đi một nhịp. Như khi ta chờ từng giọt cà phê rơi tí tách xuống cái cốc thủy tinh trong suốt. Lắm lúc con người ta cần vài giây phút như vậy để bình tâm. Mất một lúc lâu, cô lại nói với một nụ cười gượng gạo.
Bố cô cố gắng lắm, ông làm bằng cả bốn, năm người cộng lại. Ông muốn bù đắp cho mẹ con cô, cố gắng tất cả để làm cho gia đình hạnh phúc. Thế mà ông lại chả để tâm đến bản thân. Trong cái trí óc của một người đàn ông, gia đình là quan trọng hơn tất thảy. Họ xem gia đình còn lớn hơn cả mạng sống của chính mình, họ cố gắng để cho gia đình mình hạnh phúc. Thế mà họ nào biết, với gia đình, con cái, người đàn ông đó còn quý hơn cả thứ hạnh phúc, tiền bạc, vật chất giả tạo mà họ luôn theo đuổi.
Thế rồi, ông đổ bệnh. Ban đầu chỉ là vài vết sưng tấy trên da, ông chủ quan không chữa trị mà cứ như vậy tiếp tục bám biển. Nhưng chẳng ai ngờ được, căn bệnh ấy như con quỷ đói khát, ngày một hành hạ, cắn xé con người đáng thương kia. Da ông lở loét, mưng mủ, lâu lâu lại nhổ ra một ngụm máu tươi. Răng ông rụng dần, để lại cái hàm trống hoắc, chẳng thể nói cái gì rõ ràng. Đêm cuối, Maria không còn nhận ra ông. Trước mắt cô là một con ác quỷ tanh tưởi, tạo vật đáng nguyền rủa từ sâu trong lòng địa ngục. Cô khóc, khóc nhiều lắm. Cô nắm chặt cái bàn tay ác quỷ kia vào lòng. Cầu nguyện ai đó từ tận trời cao với cái tâm hồn bi oan, ai oán.
Thế mà ông vẫn chết.
Không chỉ mỗi ông. Năm ấy cả làng chết nhiều. Người ta chết trên thuyền, trên biển, trên cả chiếc giường khi người ta đang mặn nồng ái ân. Xác người nằm la liệt, ai cũng bảo nơi này đã bị nguyền rủa. Họ thi nhau bỏ đi, thuyền từ nơi khác chẳng còn ghé lại. Cái làng đã ít nay chẳng còn ai, chỉ còn lại những núi tử thi phập phồng dữ dội trước gió biển.
“Chính tay chị đã thiêu bố. Ngọn lửa dữ dội, nó gào lên, nhưng ông thì vẫn nằm im lìm. Có lúc, chị thấy được nụ cười cảm ơn của ông. Chắc ông hạnh phúc lắm? Hạnh phúc khi được chết.”
Maria thở dài, tay cô mân mê cái cốc ở gần đấy.
“Còn chị, ngày đó chị cũng bị ngọn lửa ấy thiêu cháy mất rồi.”
Biển cả thì được mùa, những con cá ươn lên, thúi hoắc khi con người thưa đi. Chợ vắng hơn, chẳng ai còn bán hàng. Khu chợ cũng đau buồn mà chết, chắc có lẽ khu chợ cũng là một con người, một con người đau đớn quằn quại vì bệnh tật. Cửa tiệm của nhà cô cũng vậy, ngày càng ế ẩm. Mẹ phải gồng mình bù lỗ, đồ ăn thì cứ ít đi, thiếu vắng bóng dáng của người đàn ông trong ngôi nhà nó tệ hại ghê gớm. Mẹ cứ cố gắng, đến một ngày, bà bỏ cuộc. Bà ngày nào cũng ngồi im bên hiên, mắt vô định nhìn ra phía biển, cái bóng gầy guộc đôi khi lại rít lên khe khẽ, những chai rượu trắng biếc trước đấy chẳng thấy đâu giờ chất cao như ngọn núi.
Rồi bà bỏ đi, một ngày trời cao vời vợi. Không một lời từ biệt, chỉ một chữ “xin lỗi”. Bả bỏ đi, để lại cửa tiệm lạnh lẽo và đứa con gái chưa tròn đôi mươi ngơ ngác cứ mãi đợi chờ.
“Mẹ chị đi tìm thứ gì đấy, phía sau đường chân trời. Trong các cơn say, chị hay nghe bà nhắc về thứ đấy.”
Maria cười, cô lại kể. Cô chờ hoài, chờ hoài rồi cô cũng bỏ cuộc. Cô bắt đầu tập cách tự lập, tập cách phân bố chi tiêu, bán hàng. Những bài học bố mẹ dạy cô, cô luôn để nó sâu trong trái tim, như thể chờ đợi một ngày nào đó, họ sẽ lại khen cô. Khen cô một lần nữa.
Một năm, hai năm, rồi cả thập kỷ trôi qua. Cô lớn lên, ra dáng một cô thiếu nữ, chẳng còn đau buồn như ngày trước. Maria cưới chồng, sinh con. Như một quy luật tất yếu của cuộc sống, thịnh rồi lại suy, đau buồn rồi sẽ lại hạnh phúc. Ngôi nhà nhỏ lại đầy ắp tiếng cười, những bữa cơm đạm bạc vui vẻ, có người đàn ông yêu thương hết mực mà cô gọi là chồng.
Đó là những ngày cho cô biết rằng, cuộc sống vẫn còn tươi đẹp lắm.
Những tưởng vết thương đã lành, cô lại có thể mỉm cười hạnh phúc. Nhưng hỡi ôi, tất cả chỉ là một giấc mộng. Tiệc tan, mộng tàn. Hạnh phúc rồi lại đớn đau. Ấy vẫn chỉ là một quy luật đơn giản của cuộc sống.
“Thế mà giấc mộng ấy nhanh quá, chị còn chưa kịp vui mừng. Nó lại tan đi mất rồi.”
Maria lại thở dài, lắm lúc tôi muốn bảo cô đừng kể nữa nhưng không thể. Tôi chỉ biết chết lặng, như một pho tượng phật bao dung trước vạn vật. Tôi không phải là phật, bạn biết đấy. Tôi chỉ là một kẻ ngu muội không biết làm gì khi đối mặt với nỗi đau của người khác.
Cho đến cái năm cơn bão ấy ập xuống.
Trong trí nhớ của cô, cơn bão đó không giống bất kỳ cơn bão nào trước kia. Nó như một con quỷ dữ đội lốt mưa giông chỉ để thỏa mãn cái thú vui giết chóc trong mình. Nó như con rồng hung hăn vừa bị ai đó chọc tức mà gào thét trong cơn cuồng nộ. Nó như ý chí biến chất của con người, khi nỗi đau là quá lớn để giam giữ trí óc thuần khiết của họ.
Trời đất tối sầm, biển cả gào rú, từng con sóng cao như những bức tượng trắng xóa nối nhau đập không ngừng vào bờ, như muốn nuốt chửng cả hòn đảo. Những mái nhà tranh bay vèo trong gió, cuốn vào trong cái vòi rồng cao quá hàng trăm mét. Những cái cây cổ thụ gãy răng rắc, Maria sợ lắm, bão đến quá nhanh, chẳng hề được dự báo.
“Âm thanh giống như khi con người ta đang bị tra tấn. Tiếng rít như tiếng hét của con người khi bị lấy ra từng khúc xương với tình trạng tỉnh táo.”
Cô nhớ lại cơn bão ấy, đôi mắt cô sáng rực, hình ảnh ấy hiện lên trong đầu tôi như thể tôi đang đứng giữa tâm bão.
“Cây cối đổ như rạ, có tiếng cười khanh khách vang vọng lẫn trong tiếng gió thét. Chị không biết nữa. Không biết cái ngôi làng này, hòn đảo này có tội lỗi gì để mà ông trời phải hành hạ nó đến thế....”
Maria rưng rưng, cô lại dừng một nhịp, hít một hơi dài rồi tiếp tục câu chuyện còn đang dang dở.
Chính cơn bão ấy đã cướp đi cái con người mà cô đã đem lòng quý mến lắm. Người đã cứu cô khỏi vũng lầy tối tăm, giúp cô có thể sống tiếp. Cô đã mất chồng trong một ngày giông tố như vậy. Anh bị cuốn phăng đi, chẳng còn thấy anh trở lại hòn đảo nữa.
“Ước gì anh ấy còn sống. Đôi khi chị vẫn nghĩ, chỉ là anh ấy đã quá chán chị và con, quá chán hòn đảo này.”
“...”
“Thế nên anh ấy rời đi cũng là điều chí phải. Chị chỉ mong sự thật là như vậy, rằng anh ấy đang sống hạnh phúc ở đâu đó. Chẳng cần phải nhớ mong đến chị làm gì, chỉ cần còn sống là tuyệt lắm rồi!”
“...”
“Chị nhớ như in ngày hôm đó.”
Ánh mắt cô mở to, chừng chừng nhìn ra ngoài khung cửa sổ, như thể ngoài kia vẫn còn vang vọng tiếng gió gào thét từ năm xưa.
“Chính ngày đó cũng là ngày chị mất con, mất đi tất cả những thứ còn lại trên đời này.”
Maria bảo, cô sợ lắm. Những đứa con của cô còn kinh hãi gấp nhiều lần. Nó quá nhỏ bé, chỉ như một con giun yếu ớt chỉ biết trốn trong lòng đất. Nó run rẩy, co quắp trong vòng tay mẹ. Miệng nó cứ rít lên, hai bàn tay bé xíu bịt chặt lấy đôi tai, mắt nó nhắm nghiền. Không biết nó có căm thù cái đất trời kia vào lúc ấy? Maria hãi lắm, cô lấy hết sức bình sinh phòng thẳng một mạch về nhà. Cô sợ lắm, sợ chỉ cần lỡ một nhịp, chỉ cần một cơn gió mạnh thổi qua cũng đủ làm con cô tan biến khỏi cuộc đời. Đứa con đứt ruột do chính tay cô nhào nặn.
Ấy vậy mà chẳng kịp.
Cái cây cổ thụ vĩ đại, thứ đã sừng sững giữa đảo có khi là đến hàng ngàn năm. Thứ được người dân tôn thời như “vị thần hộ mệnh” nay bất ngờ đổ rạp xuống trong cơn bão dữ dội ấy. Tiếng thân cây gãy vang rền rĩ, to hơn bất cứ tiếng sét nào trong đời bạn từng nghe, nặng nề như một thanh gươm bổ ngang số phận. Và rồi, trong khoảnh khắc định mệnh, nó đổ sập xuống, che kín nửa bầu trời, nghiền nạt mọi vật trên đường nó dạo chơi.
Bi hài thay, cái thứ gọi là “thần hồ mệnh”, cái thứ cô luôn đặt niềm tin vào nay lại đè lên trên người hai mẹ con xấu số. Giờ đây nó là tội phạm cho tấn bi kịch nhỏ nhoi trong cuộc đời cô gái yếu đuối. Cái cây hóa thành lưỡi dao sắc lẹm, cướp đi mạng sống của đứa trẻ mà cô yêu thương hơn cả sinh mệnh của chính mình.
Đau đớn thay, đứa bé đó lại chết trong chính vòng tay cô. Cái chết bất ngờ, đột ngột không một lời cảnh báo, không một tiếng khóc kêu cứu, chỉ còn lại cơ thể lạnh ngắt trong vòng tay mẹ. Chết rồi, con người ta không còn thấy đau buồn nữa. Con người ta không cần phải nhớ nhung, cảm thấy tội lỗi. Không hiểu tại sao, lúc đó Maria thanh thản lắm, như trút được hết mọi nặng nề trong lòng.
Chết rồi. Vậy thì sao? Liệu việc đó có còn quan trọng? Một ngày nào đó, cô cũng sẽ chết mà thôi. Cái chết không một ai nhớ đến.
Không ai có thể biết hết vạn cái chết xảy ra từng giờ, từng phút, từng giây trên đời. Cái chết của con cô, chỉ là một cái chết nhẹ nhàng, bình dị trong dòng chảy không ngừng của thời gian. Đó chỉ là một cái chết của đứa trẻ, cái chết của niềm tin hy vọng của một con người, của thứ tình mẫu tử mà Maria đã bám víu vào như một con bợm nghiện thuốc.
Đấy chỉ đơn giản là một cái chết ngẫu nhiên. Cái chết của một con người bé nhỏ, yếu đuối trước giông tố thế gian. Cái chết của một người mẹ ngỡ tưởng rằng bản thân vừa mới được tái sinh.
“Em biết không?”
Cô vuốt ve mái tóc tôi, lau đi vài giọt lệ nhỏ.
“Khi ta mất đi thứ gì đó quan trọng, ta sẽ sợ mình sẽ lại có được những thứ đó.”
Cô dừng lại một lúc, hít một hơi thật sâu rồi nở nụ cười chua chát.
“Bởi lẽ, khi ta có lại nó, cái cảm giác rằng ta sẽ mất nó một lần nữa, nó sẽ đau đớn biết nhường nào. Ta cố giữ nó, ta cố nắm chặt nó, nhưng càng cố, ta lại càng không thể làm gì. Ta chỉ là con người, em ạ. Ta yếu đuối, nhỏ bé đến lạ. Vì rằng ta chỉ là con người, nên ta mới phải vượt qua đau khổ mà sống cho cả những người đã rời bỏ ta.”
Chồng cô chẳng quay lại nữa. Sâu trong thâm tâm của mình, cô vẫn luôn mong mỏi rằng anh đã đi một nơi nào đó khác, có được tình yêu hạnh phúc cho riêng mình. Cô muốn, rất muốn anh quay về lại đây, nhưng đồng thời lại chẳng muốn gặp anh nữa.
“Có lẽ anh ấy vẫn chưa chết như mọi người vẫn nói.”
Cô nắm lấy bàn tay tôi.
“Có lẽ anh ấy đang hạnh phúc bên ai khác. Nếu đúng là vậy thật, thì chị sẽ hạnh phúc nhường nào...”
Cô mỉm cười, nụ cười thật lòng như một vị thiên sứ.
“Nếu cô có một hy vọng để lấy lại tất cả, cô có bám lấy hy vọng đấy không, khi mà hy vọng đó có thể cho cô sống một cuộc đời trọn vẹn bên họ?”
Trong vô thức, giọng tôi tự cất lên.
Cô nhìn tôi, thoáng chút kinh ngạc rồi làm vẻ đăm chiêu. Tôi nghĩ cô đã biết câu trả lời cho mình từ trước rồi, và quả thật là đúng như vậy.
“Không, đau đớn lắm.”
Cô lấy tay tôi đặt lên ngực, quả tim bé bỏng đập mạnh, rộn ràng.
“Ta có lại họ, một ngày nào đó họ sẽ mất đi ta, nếu vậy chẳng phải họ cũng sẽ đau đớn?”
Tôi lặng người. Quả thật, cuộc đời của tôi so với cô chẳng là gì cả. Nỗi đau của tôi chỉ như một cây kim nhỏ nhoi giữa một rừng gai mà người phụ nữ này đã từng nếm trải đủ cả. “Cô là Maria?” Tôi nắm chặt tay của cô, người phụ nữ mang trong mình cái tên của Đức mẹ.
Cô gật đầu, nắm chặt tay tôi, nở ra nụ cười hiền hậu. So với cô, tôi thật ích kỷ. Tôi nhìn cô như nhìn một thực thể khác, tỏa sáng, ung dung, một vị thánh sống. Còn tôi, đê hèn, ích kỷ, một con quỷ trong bộ dạng của con người. “Xin lỗi cô...” Tôi thủ thỉ, rồi òa vào lòng, cố vớt vát chút gì đó tử tế còn sót lại trong con người của mình.
Cô nhìn tôi tò mò, đoạn cô lại hỏi.
“Thế còn em, tại sao em lại đến đây? Kể cho chị nghe nào, biết đâu chị có thể giúp ích được gì đó.”
Trong một phút lưỡng lự, tôi nắm chặt lấy chút can đảm ít ỏi còn lại trong tâm cam thay cho lời thú tội. Tôi kể, tất cả, lý do tôi đến đây, mong chờ sự phán xét. Tôi kể tất cả, những suy nghĩ thầm kín trong lòng, những ích kỷ, giận hờn vô cớ. Cả cuộc đời tôi lật nhanh qua từng trang sách. Chính tôi là người đã bắn phát súng bi kịch mở đầu, cũng chính tôi là người cầm dao cắt đứt mối nhân duyên của cả hai đứa. Ôi một đứa trẻ ác quỷ. Tôi thầm nghĩ khi kể ra câu chuyện đời mình. Câu chuyện nguệch ngoạc tệ hại mà chính nó đã viết ra. Đứa trẻ của ác quỷ. Tại sao họ lại có thể sinh ra nó trong khi cả hai đều là thiên thần?
“Vùng đất ‘phía sau đường chân trời’?”
Cô tự nhủ với bản thân, như đã nghe ở đâu đó, cô lại lục tìm ký ức một lần nữa.
“Chị nhớ mình đã nghe qua ở đâu rồi...”
Qua một thoáng, cô nhìn tôi, như vị bồ tát nhìn con người phàm trần mang đầy tội lỗi.
“Mẹ chị đã từng nói trước khi rời bỏ nơi này. Đúng vậy! Bà đã nói về thứ gì đó ở đằng sau đường chân trời và cách để đến được với đó. Người dân trên đảo, những người già hơn chị có lẽ biết được điều này, chị thì chẳng rõ.”
Cô đi vài vòng trước mặt tôi rồi lại thở dài.
“Chị chịu thôi, chỉ biết chúc em may mắn!”
Rồi cô kéo tôi dậy, huých nhẹ vào vai.
“Thôi bỏ qua đi, giờ em hãy đi tắm rửa, rồi ăn cơm với chị nhé! Nhanh nào, em bảo đứa em của mình đang chờ em ngoài cảng mà đúng không?”
“Vâng...”
Tôi ấp úng, thở ra một hơi dài. Cảm giác nói ra mọi thứ, tất cả những suy nghĩ thầm kín không ngờ lại dễ chịu đến như vậy. Tôi cũng thầm cảm ơn cô, Maria, chẳng câu từ nào có thể tả xiết.
1 Bình luận