Vol 3: Triều Dâng Dưới Vầng Trăng Đen - Phần Trung
Chương 9: Thần quốc
0 Bình luận - Độ dài: 31,200 từ - Cập nhật:
Ngay khoảnh khắc cửa thang máy khép lại, màn hình hiển thị tầng bỗng nhiên tắt ngúm.
Toàn bộ các nút bấm tầng đều mất hiệu lực, phía trên cửa chỉ còn hai chữ đỏ rực “Thần Đạo” sáng lên.
Hàng lông mày dài của Sở Tử Hàng khẽ run.
Những thùng tài liệu này đáng lẽ được vận chuyển tới một nhà kho nào đó trong nội khu, nhưng chưa từng có ai nhắc đến “Thần Đạo”.
Mà thứ gọi là Thần Đạo, không nên tồn tại trong một tòa cao ốc hiện đại.
Cái gọi là Thần Đạo, trên thực tế có cùng ý nghĩa với Quỷ Đạo, đó là con đường dẫn tới mồ mả.
Người xưa Trung Hoa từng nói:
“Trước mộ mở đường, dựng trụ đá làm mốc, gọi là thần đạo.”
Trong quan niệm cổ nhân, một khi bước lên con đường dẫn tới đại mộ ấy, tức là đã đặt chân vào cõi u minh.
Hai bên Thần Đạo, tượng người đá, ngựa đá đều là tùy tùng của mộ chủ.
Điểm cuối của con đường ấy thường là một cánh cổng đỏ, dẫn vào âm điện, nơi tế tự người đã khuất.
Nếu hiểu theo nghĩa Nhật Bản, Thần đạo là quốc đạo của Nhật, trong các đền thần thường thờ phụng những tồn tại lưng chừng giữa thần và quỷ.
Trong thang máy lan tỏa một bầu không khí thần bí khác thường.
Sở Tử Hàng khẽ kéo thấp vành chiếc mũ quân màu đen, che khuất đôi mắt.
Cửa thang mở ra, mùi hương liệu bị đốt cháy ập thẳng vào mặt.
Trong bóng tối chỉ có một lối đi mờ mờ phát sáng, hai bên đặt những ngọn nến chén màu đỏ.
Sở Tử Hàng kinh ngạc nhận ra mình đang đứng trong một không gian giống hệt chùa chiền.
Lối đi xuyên qua bên dưới một cổng Torii cao 3-4m, lớp sơn chu sa trên đó đã bong tróc, lộ ra sắc gỗ đỏ sậm nguyên thủy.
Rõ ràng đây là một cổ vật có niên đại lâu đời, vốn được dựng ngoài trời mưa gió, sau đó bị tháo rời rồi dời nguyên bản vào Tập đoàn Genji để lắp lại y hệt.
Không gian tĩnh lặng đến tuyệt đối, không một tiếng người.
Sở Tử Hàng điều chỉnh lại chuôi katana giấu trong áo khoác, để có thể rút ra nhanh nhất.
Anh nhanh tay chuyển toàn bộ thùng tài liệu ra khỏi thang máy, rồi ôm lấy một thùng, chậm rãi tiến về phía trước.
Trong bóng tối sừng sững những tượng gỗ cao lớn.
Trước tượng treo những tấm voan mỏng, lờ mờ hiện ra hình dáng Kim Cang hoặc ác quỷ, trên thân quấn dây thừng vàng nhạt.
Trong Thần đạo, có một loại dây thừng linh thiêng gọi là shimenawa, trên đó treo những dải giấy shide.
Nó vừa là dấu hiệu của thần thánh, vừa mang ý nghĩa phân định và phong ấn.
Thần xã Nhật Bản không chỉ thờ những vị thần hiền hòa.
Ở đó còn tồn tại vô số thực thể kỳ dị, nửa thần nửa quỷ, những vị thần mang bản chất song diện, có thể ban phúc, cũng có thể giáng họa nếu bị quấy nhiễu.
Các thần quan quấn shimenawa quanh cây cổ thụ, tảng đá, tượng đất hay tượng gỗ, không hẳn để tôn thờ, mà để trấn an và ràng buộc.
Đó là cách con người vạch ra ranh giới:
Nơi này thuộc về thần, và sức mạnh bên trong không được phép tràn ra ngoài, gây họa cho nhân gian.
Ánh nến yếu ớt khiến phần đầu các pho tượng đều chìm trong bóng tối, như thể đang cúi xuống quan sát kẻ bước vào, uy thế bức người.
Chung quanh bày đủ loại pháp khí tế lễ.
Trên những kiệu gỗ, bệ thờ được đặt trang trọng, bên trong là những cổ thần vô danh ngồi ngay ngắn.
Kiệu bị quấn kín bởi những sợi dây tím to bằng cổ tay, trông như cự long vây quanh ngai ngự của thần.
Nếu thang máy chính là Thần Đạo, thì lúc này Sở Tử Hàng đã bước vào “Âm điện”, nơi thờ phụng tổ tiên.
Phía trước lẽ ra phải là quan quách đặt thi thể.
Anh xuyên qua từng lớp rèm, cho đến khi một ngọn đèn trường minh rọi thẳng vào mắt.
Trước mặt là một bức bình phong khổng lồ.
Bình phong vốn thường được dựng sau cổng để che tầm nhìn, trong phong thủy còn có tác dụng tụ khí.
Bình phong thì không hiếm, nhưng cao lớn đến mức này thì chưa từng thấy, cao khoảng 4m, chạm trần, đỉnh mạ vàng, rộng hơn 10m.
Trên bức bình phong ấy, họa sĩ táo bạo sử dụng đỏ gỉ và chàm làm chủ sắc.
Những cự nhân nửa người nửa rắn ôm chặt lấy nhau, đuôi dài quấn chồng.
Cự nhân nam uy mãnh dữ tợn, cự nhân nữ đoan trang hiền hòa.
Các yêu ma trong thần thoại Nhật Bản vờn quanh họ.
Sau lưng các cự nhân mọc ra vô số cánh tay, mỗi tay cầm vũ khí khác nhau, giao chiến với bầy yêu quái.
Đó là một tác phẩm đẹp đến mức khiến người ta rơi lệ.
Phẫn nộ khuynh thế, bạo lực khuynh thế, cái chết khuynh thế, yêu diễm khuynh thế, tất cả bị dung luyện trong nét bút, để cuối cùng hiện ra một nỗi bi thương khuynh thế.
Nhưng trên bình phong còn có thứ đáng sợ hơn cả nghệ thuật, máu.
Máu tươi đầm đìa, đỏ sệt, chậm rãi bò xuống, hệt như ai đó đã dội từng xô sơn đỏ lên bức tường.
Sở Tử Hàng từng đối mặt với những tử thị hung tàn nhất, từng chứng kiến hiện trường đẫm máu nhất, nhưng chưa bao giờ thấy cảnh tượng nào khủng khiếp đến thế.
Trong cơ thể một người trưởng thành chỉ có khoảng 5 lít máu.
Dù bị thương nặng đến đâu, lượng máu chảy ra cũng có hạn.
Sau khi tim ngừng đập, máu không còn được bơm tuần hoàn mà dần ứ lại và đông trong hệ mạch.
Nhưng lượng máu trên bức bình phong này đủ để sơn lại cả bức tường.
Phải chết bao nhiêu người mới có thể như vậy?
Và cần thủ đoạn tàn nhẫn đến mức nào, mới khiến máu của họ bị bơm ra gần như toàn bộ trước khi tim ngừng đập, văng khắp nơi?
Sở Tử Hàng tháo kính áp tròng.
Đôi mắt hoàng kim bùng sáng trong bóng tối.
Anh ném thùng tài liệu xuống đất, rút kiếm dài.
Lãnh địa Ngôn Linh · Quân Diễm mở rộng, lưỡi kiếm dưới nhiệt độ cao phát ra ánh sáng nửa đỏ nửa đen.
Máu vẫn còn đang chảy, chứng tỏ cuộc thảm sát vừa kết thúc không lâu.
Khả năng rất lớn là hung thủ vẫn còn ở trong không gian này.
Đến lúc này, che giấu thân phận đã không còn ý nghĩa gì nữa, sống sót mới là chân lý.
Người đến đây cuối cùng hẳn là Caesar.
Anh ta rõ ràng không phải kẻ cuồng sát.
Sở Tử Hàng chỉ mong Caesar không nằm trong số những người đã chết.
Vòng qua bình phong, anh bước vào tầng sâu nhất.
Theo trình tự Thần Đạo rồi đến bình phong, nơi này chính là Âm điện đặt quan tài.
Ánh kiếm mờ chiếu lên gương mặt nghiêng của anh, đôi mắt hung lệ trong bóng tối.
Mùi máu tanh nồng xộc thẳng vào mũi, trước đó đã bị hương liệu che lấp.
Dưới chân là một lớp chất lỏng mỏng tràn sát sàn, giẫm lên dính nhớp. Không
cần nói cũng biết đó là máu tươi chưa đông.
Nếu bật đèn, sàn nhà hẳn đã đỏ rực.
Thi thể nằm la liệt khắp nơi, vây quanh những núi thùng tài liệu.
Tất cả đều mặc áo khoác đen.
Họ là cán bộ của Cục Chấp Hành, tinh anh hàng đầu.
Trong lúc vận chuyển tài liệu thì bị tập kích.
Vết thương cực lớn xuyên thẳng tim.
Động mạch chủ bị chém đứt, đó là mạch chủ dẫn máu từ tim đi khắp cơ thể, nên trong nhịp tim cuối cùng, máu bị bơm ra ngoài dữ dội như vỡ đập, huyết áp sụp đổ chỉ trong chớp mắt.
Sở Tử Hàng tra kiếm vào vỏ, quỳ xuống bên một thi thể, cố gắng phán đoán hung khí.
Nhưng anh không thể xác định.
Vết thương lớn đến mức phi lý, hung khí chém từ vai xuống, dừng lại ở tim, suýt chặt đứt cả vai lẫn cánh tay.
Đây không thể là vết thương do kiếm gây ra.
Trong toàn bộ lịch sử vũ khí loài người, thứ gần nhất có lẽ là rìu phóng đại gấp ba, nhưng lưỡi của nó lại có răng cưa.
Tóm lại, đó là một thứ rìu cưa kỳ dị, lưỡi dài 3 thước, nặng hơn 30kg, vậy mà bị vung lên như gió, điều này hoàn toàn phi thực tế, trừ khi một con Troll trong World of Warcraft giáng lâm nhân gian.
Caesar đang ngồi xổm ở phía đối diện thi thể.
Có anh ở đây, Sở Tử Hàng không cần lo bị tập kích bất ngờ.
Dưới trạng thái gia trì của “Kamaitachi”, gần như không ai có thể đánh lén Caesar, anh chính là radar sống.
“Thế này là sao?”
Caesar bịt mũi, “Xuyên thấu? Xé rách? Hay nổ tung? Hay là… ‘bị rồng khổng lồ cắn một phát’?”
Lời Caesar nói cũng có lý.
Những người này rất có thể đã bị một sinh vật khổng lồ với cái miệng rộng hơn 1m cắn chết, mà răng của sinh vật ấy hẳn phải xếp khít như lưỡi cưa.
“Khi tôi tới, nhiệt độ cơ thể của họ vẫn như người sống,” Caesar nói.
“Nói cách khác, kẻ giết người chỉ vừa rời khỏi đây vài phút trước. Nếu tôi đến sớm hơn vài phút… chắc giờ đã chết rồi.”
“Từ hiện trường, anh đã nhìn ra được gì?”
Sở Tử Hàng hỏi.
“Rất nhanh. Toàn bộ quá trình không quá 10 giây,” Caesar đáp.
“Tất cả bọn họ đều mang súng, vậy mà từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc thảm sát, không một ai kịp rút súng. Trong số những người tôi biết, chỉ có một kẻ làm được tốc độ như vậy, hiệu trưởng.”
Sở Tử Hàng đồng tình với phán đoán ấy.
Nếu đến sớm hơn vài phút, cả hai bọn họ đều sẽ chết.
Dù anh có Ngôn Linh · Quân Diễm, nhưng trước tốc độ có thể sánh ngang Anjou, anh căn bản không kịp kích hoạt ngôn linh, cũng không kịp bộc huyết, đã vì mất máu mà ngất đi.
Khả năng sống sót của Catcó thể cao hơn một chút, nhưng bị giết gần như là điều chắc chắn.
Anh có thể phát hiện đòn tấn công từ sớm, nhưng không đủ sức chống lại một đối thủ nhanh đến mức đó.
Giống như lời trong một quyển tiểu thuyết võ hiệp từng nói:
Thiên hạ võ công, không gì không phá, chỉ có nhanh là vô địch.
“Rốt cuộc là kẻ nào dám tàn sát Cục Chấp Hành ngay trong tổng bộ của Bát Gia Jaki?”
Sở Tử Hàng hỏi.
“Có lẽ là một kẻ yêu nghệ thuật,” Caesar nhún vai.
“Đưa tôi cái đèn pin.”
Anh bật đèn pin, giơ cao quá đầu, men theo sát tường mà đi.
Những bức bích họa dữ dội và rực rỡ lần lượt được soi sáng, như thể một cuộn sử dài đang chậm rãi mở ra trước mắt họ.
Cũng giống như bức bình phong ban nãy, trên tường phủ kín màu đỏ gỉ và chàm.
Những sinh vật cổ xưa nửa người nửa rắn xếp thành một đoàn tế lễ dài đến mức không thấy điểm cuối.
Kẻ giơ cao đuốc lửa, kẻ cầm trượng dài, kẻ khác lại cưỡi rồng hai cánh mọc sau lưng.
Đoàn tế lễ nhảy múa quanh một hố sâu khổng lồ, trong hố nằm một bộ xương to lớn.
Họa sĩ dùng vàng thật nung chảy để vẽ bộ hài cốt ấy, mắt trái là mặt trời, mắt phải là mặt trăng.
Sở Tử Hàng đứng dưới bích họa, ngẩng đầu nhìn lên, rất lâu không nói được lời nào.
Chỉ riêng một bức tranh trên bình phong đã đẹp đến nghẹt thở, còn nơi này, hàng trăm bức cổ họa liền mạch đang cùng nhau phác họa nên một thế giới không sao tưởng tượng nổi.
“Nơi này chẳng có gì khác ngoài mấy thứ này,” Caesar nói.
“Cả đại điện trống rỗng này chỉ để trưng bày bích họa. Họ cần những bức tường đủ lớn, nên dọn trống nguyên cả một tầng lầu. Người Nhật mà đã xa xỉ thì đúng là… tàn nhẫn.”
Sở Tử Hàng đưa tay chạm nhẹ lên bích họa, đầu ngón tay dính lại một lớp bụi đỏ nhạt.
Anh đưa lên mũi ngửi thử:
“Sắc tố làm từ oxit sắt.”
Anh nhận lấy đèn pin từ tay Caesar, chậm rãi bước đi, xem hết bức này đến bức khác, không nói thêm lời nào.
“Nhìn ra được gì chưa?”
Caesar đi theo phía sau khá lâu, cuối cùng không nhịn được mà hỏi.
Cậu chủ nhà Gattuso chịu hạ mình làm “cái đuôi” của đối thủ truyền kiếp, chuyện này bình thường là không thể xảy ra.
Nhưng trong lòng Caesar thừa nhận, về kiến thức tích lũy, Sở Tử Hàng vượt xa anh.
Huống hồ anh quá tò mò về những bức bích họa này, nên cũng chẳng ngại hỏi.
“Giống như Bản Sinh họa trong Phật giáo,” Sở Tử Hàng trầm ngâm hồi lâu rồi nói.
“Nguyên bản chúng không được vẽ ở đây, mà là trên những bức tường vôi của một ngôi chùa cổ. Có người đã dùng keo và hóa chất, lột nguyên mảng bích họa khỏi bức tường mục nát, rồi chuyển chúng sang đây. Trong bảo tồn văn vật, cách làm này gọi là ‘chỉnh thể yết thủ’, yêu cầu kỹ thuật cực kỳ tinh vi.”
“Bản Sinh họa là gì?”
“Trong Phật giáo có một hình thức nghệ thuật tự sự đặc biệt gọi là Phật Bản Sinh họa. Đây là loại tranh kể lại những tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi Ngài còn tu hành trên con đường Bồ Tát đạo. Tranh thường không tồn tại đơn lẻ mà gồm nhiều bức hoặc nhiều cảnh liên hoàn trong cùng một bố cục, sắp xếp theo trình tự thời gian, nhằm truyền đạt các lý tưởng như bố thí, nhẫn nhục, xả thân và đại bi. Loại hình này đặc biệt phổ biến tại Đôn Hoàng, nơi các hang động Phật giáo lưu giữ mật độ lớn Phật Bản Sinh họa. Những đề tài nổi tiếng có thể kể đến như “Cắt thịt đổi chim bồ câu”, “Xả thân nuôi hổ”, “Cửu sắc lộc bản sinh”, đều là các bản sinh truyện kinh điển trong hệ thống Jakata, nhấn mạnh tinh thần hy sinh thân mạng vì chúng sinh của Bồ Tát. Xét về kỹ thuật hội họa, các Phật Bản Sinh họa này rất gần với tranh bích họa trong hang đá Đôn Hoàng. Chúng sử dụng hệ thống sắc tố khoáng tự nhiên như oxit sắt, bột lam ngọc, lục đồng, đôi khi pha bột mica để tạo hiệu ứng ánh sáng. Đây là kỹ pháp vẽ tranh thịnh hành trong mỹ thuật Phật giáo khu vực Trung Á Trung Hoa, phổ biến từ khoảng thế kỷ III–IV sau Công nguyên, gắn liền với quá trình Phật giáo truyền nhập và bản địa hóa tại Trung Quốc. Sử sách Trung Hoa ghi lại rằng vào thế kỷ III, nữ vương Yamatai từng nhiều lần phái sứ giả sang triều Ngụy. Rất có thể chính trong quá trình giao lưu này, kỹ pháp hội họa Phật giáo cùng mô thức tự sự bằng tranh đã được tiếp xúc, học hỏi và truyền bá, rồi dùng để vẽ những bích họa này.”
Sở Tử Hàng kết luận:
“Nói cách khác, tuổi đời của những bức tranh này đã gần 2.000 năm.”
“Tôi không hứng thú với giá trị nghệ thuật hay kỹ pháp hội họa,” Caesar nói thẳng.
“Tôi chỉ muốn biết vì sao chúng lại quan trọng đến mức Bát Gia Jaki sẵn sàng dành cả một tầng lầu để đặt chúng.”
“Trong nhận thức của Phật đồ, Phật Bản Sinh họa là dòng chảy tái sinh của Bồ Tát trong vô số kiếp quá khứ, những kiếp sống nơi Ngài mang thân phận phàm trần, lấy khổ hạnh và hy sinh làm phương tiện, từng bước viên mãn Ba-la-mật, để cuối cùng chuyển sinh và chứng ngộ Phật quả với thân phận Thích Ca Mâu Ni. Còn những bích họa này…”
Sở Tử Hàng giơ cao đèn pin, ánh sáng quét khắp bức tường, “…tôi nghĩ đây chính là lịch sử chân thực trong lòng Bát Gia Jaki!”
Ánh đèn chiếu sáng toàn bộ bích họa.
Giữa đại dương mênh mông, rồng và rắn uốn lượn tung hoành.
Trên đại địa vươn lên những thành thị hùng vĩ, những con đường chằng chịt vắt ngang qua biển.
Trên bầu trời, rồng đen và rồng trắng song song lơ lửng, mỗi con vươn ra một cánh tay, cùng nắm lấy một cây quyền trượng bằng vàng.
“Hắc Vương… và Bạch Vương!”
Caesar im lặng rất lâu, rồi mới khe khẽ thốt ra mấy chữ ấy, giọng mỏng như hơi thở, tựa như sợ làm kinh động những quỷ thần đang ngủ yên trong lịch sử.
Chỉ nhìn bức đại họa trên bình phong lúc trước, anh vẫn còn hoài nghi rằng đây có thể chỉ là tác phẩm nghệ thuật mang tính tưởng tượng, trong thời đại mông muội, con người thường hình dung viễn cổ là thời kỳ thần và ma quỷ đại chiến, rồi từ phế tích sau chiến tranh mà các cổ quốc nhân loại ra đời.
Nhưng khi nhìn thấy bức họa này, anh đã hoàn toàn tán đồng phán đoán của Sở Tử Hàng:
Đây không phải là câu chuyện hư cấu.
Đây là lịch sử được ghi chép cách đây 2.000 năm, do một nhóm cổ nhân từng biết đến nền văn minh đã thất lạc lưu lại.
Ở Học viện Cassell, tồn tại một bộ lịch sử Long tộc mang tính suy luận, được tổng hợp từ các thần thoại ký sự, cố gắng loại bỏ tối đa trí tưởng tượng của con người để phục dựng “nền văn minh Long tộc chân thực”.
Bí Đảng tin rằng trong lịch sử Long tộc từng tồn tại một thời đại hoà bình huy hoàng.
Khi ấy, Hắc Vương với tư cách thủy tổ thống lĩnh quần long, còn Bạch Vương giữ vai trò tư tế, phụ trợ bên cạnh.
Trong thời kỳ song vương cộng trị ấy, ngay cả những con rồng hung bạo nhất cũng không dám dễ dàng khơi mào chiến tranh.
Uy nghiêm từ hai vương tọa đen và trắng ở phía Bắc đại địa lan tỏa khắp thế gian, khiến tầng lớp quý tộc Long tộc phủ phục dưới áp lực của quyền lực.
Thực chất, bức bích họa này chính là một tấm bản đồ.
Nó phác họa phạm vi lãnh thổ mà văn minh Long tộc từng bao phủ, thậm chí cả các tuyến giao thông huyết mạch, cùng những kẻ thống trị của thời đại ấy.
Những kết luận mà Bí Đảng phải nghiên cứu và tổng hợp suốt hàng nghìn năm, vậy mà đã sớm được trình hiện trên bích họa cổ của một ngôi chùa Nhật Bản.
“Anh thấy những dòng chữ nét nhỏ ở góc trên bên trái không?”
Sở Tử Hàng chỉ lên phía trên bức tranh.
“Đó là chữ triện Trung Hoa. Khoảng hai nghìn năm trước, khi tiếng Nhật vẫn chưa hình thành hệ thống văn tự bản địa dù ngôn ngữ nói đã tồn tại, các họa sư và tăng lữ buộc phải dựa vào chữ Hán du nhập từ Trung Quốc để ghi chép và chú giải. Trong bối cảnh tôn giáo nghi lễ, họ thường sử dụng những dạng chữ cổ, bao gồm cả chữ triện, bên cạnh các thể chữ Hán khác chưa hề thống nhất. Tên bức tranh này là 《Cổ Kham Dư》. ‘Kham dư’ ban đầu chỉ địa hình địa mạo, sau mới phát triển thành phong thủy học. ‘Cổ kham dư’… nghĩa là bản đồ cổ đại. Đây chính là bản đồ thế giới của thời đại mà Long tộc từng thống trị thế gian, cách đây không biết bao nhiêu kỷ nguyên!”
“Trời ạ… nếu họ chịu mang mấy bích họa này ra đấu giá, chắc hiệu trưởng với lão ‘ngựa đực’ kia còn đánh nhau ngay tại phòng đấu giá mất.”
Caesar đứng cạnh Sở Tử Hàng, ngước nhìn bích họa, lẩm bẩm.
Ngắm nhìn những bích họa này, tựa như dòng thời gian bị đảo ngược.
Nền văn minh Long tộc cực thịnh ấy nở rộ trên đại địa như một rừng hoa.
Trong sách giáo khoa lịch sử hiện hành, đó là cuối Kỷ Băng Hà, đại địa hoang vu, băng hà ở bán cầu Bắc đạt cực đại, lan sâu vào lục địa Bắc Mỹ, châu Âu và Bắc Á, khó hậu khắc nghiệt đến mức sinh vật còn sót lại chỉ có thể lay lắt tồn tại trong những vùng trú ẩn ấm hơn ở vĩ độ thấp hoặc ven biển.
Nhưng trong những bích họa này, đó lại là thời đại văn minh phồn thịnh:
Một chủng tộc vĩ đại dựng lên những cột đồng cao chọc trời trên khắp các châu lục, xây thành thị quanh những cột ấy.
Trên đỉnh các thông thiên tháp trong thành có đền thờ.
Còn những hoàng đạo rộng lớn thì nối liền các thành thị cách nhau ngàn dặm.
Sở Tử Hàng lấy máy ảnh từ trong áo khoác ra.
Caesar sững người:
“Cậu kiếm đâu ra máy ảnh thế?”
“Phố Akihabara. Giảm giá 20%, còn tặng kèm bao máy. Vốn định dùng để chụp lõi của Kaguya-hime.”
“Cậu không biết tiếng Nhật mà cũng dám ra ngoài mua đồ một mình à?”
“Không sao,” Sở Tử Hàng nói rất bình thản.
“Chỗ đó toàn người Trung Quốc đi mua đồ điện tử. Nhân viên bán hàng còn vui vẻ nói với tôi rằng anh ta là người Đông Bắc, hỏi tôi quê ở đâu.”
Sau phần bản đồ, nội dung bích họa dần trở nên hoang đường.
Có quái vật dữ tợn với 8 chiếc cổ dài và 9 cái đầu vờn quanh thân thể, những chiếc cổ quấn vào nhau như dây thừng.
Nó bò trên đại địa, các đầu đang uống nước từ thượng nguồn của 8 con sông.
Chiếc đuôi sắc bén chém đôi núi cao ở hạ lưu.
Từ bụng nó chảy ra dòng nước đỏ tươi hòa vào sông ngòi.
Chỉ nhìn bức họa cũng đủ biết đó là một sinh vật dài hàng trăm km.
Lại có những người phụ nữ khỏa thân bị phong băng trong khối băng khổng lồ, một con rắn chui ra từ khe nứt, nói chuyện với con người phía trên khối băng.
Vô số hình ảnh khó tin khác nối tiếp nhau, tính tượng trưng cực mạnh, nhưng lại u ám và khó giải mã.
Những hình vẽ tương tự Caesar cũng từng thấy qua.
Gia tộc anh cất giữ không ít da dê trước thời Trung cổ.
Trong đó, các pháp sư và luyện kim giả thời Trung cổ châu Âu thường dùng hình vẽ tay kết hợp với ký hiệu giả kim và mật tự cổ để ghi chép những phát hiện của mình.
Để tránh người ngoài, đặc biệt là Giáo hội và giới thế tục dễ dàng phát hiện bí mật, những bức họa này cố ý được vẽ theo lối mờ ám, chồng ghép nhiều tầng biểu tượng, chỉ người trong giới mới có thể giải đọc.
Chẳng hạn, nếu một pháp sư vẽ hình một thiếu nữ xinh đẹp cầm chén vàng uống chất lỏng, thì ý nghĩa thật sự lại chẳng hề mỹ lệ.
Trong hệ biểu trưng giả kim Trung cổ, chén vàng tượng trưng cho Chén Thánh, mà Chén Thánh lại là biểu tượng của máu Đấng Cứu Thế.
Thiếu nữ không phải mỹ nhân, mà là vật tế tinh khiết.
Cách giải cuối cùng của bức họa ấy là một nghi thức huyết tế bị cấm, được ngụy trang bằng hình ảnh tôn giáo và thẩm mỹ, nhằm che giấu bản chất tà giáo của việc hiến tế và triệu hồi.
Những thủ pháp ghi chép bằng hình ảnh biểu trưng như vậy là đặc trưng của giả kim thuật và huyền học châu Âu thời Trung cổ.
Thế nhưng, trong các tư liệu dị bản lưu truyền ở phương Đông, từng xuất hiện những bản sao chép và tái diễn giải kỳ lạ.
Tương truyền rằng tại Nhật Bản cổ, có người đã mượn kỹ pháp bích họa Phật giáo chịu ảnh hưởng Đôn Hoàng để ghi lại nội dung của những tri thức bị xem là hắc vu thuật, vốn có nguồn gốc từ các bản chép méo mó của huyền học phương Tây.
Những bích họa ấy không phản ánh một truyền thừa lịch sử trực tiếp, mà là dấu vết của sự hiểu sai, ghép nối và bản địa hóa tà tri thức ngoại lai.
Hắc vu thuật bắt nguồn từ sự hiểu sai Ngôn Linh và Luyện Kim thuật.
Những bích họa này cũng vậy, chúng là những “thư tịch bí mật” cổ xưa hơn cả vu thuật thủ quyển, là sách ghi chép chân lý tối hậu của thế giới, mũi nhọn trực chỉ nền văn minh Long tộc viễn cổ.
“Cậu… xem hiểu được không?”
Caesar dùng đèn pin phụ chiếu cho Sở Tử Hàng.
Kích thước bích họa quá lớn, đèn flash của máy ảnh cầm tay không thể chụp trọn một lần, chỉ có thể chụp từng mảng nhỏ.
“Có thể thử giải đọc một phần rất nhỏ thôi, nhưng cũng chỉ là tầng nông nhất.”
Giọng Sở Tử Hàng trầm xuống.
“Những bức bích họa này chứa đựng lịch sử Long tộc vượt xa khả năng hiểu biết của chúng ta. Bát Gia Jaki chưa bao giờ công bố chúng với Học viện, bọn họ hiểu rõ giá trị của thứ này, nên mới chuyển toàn bộ bích họa vào Tập đoàn Genji để tránh ánh mắt người ngoài.”
Anh dùng đầu ngón tay miết nhẹ lên vùng đỏ sẫm trên bích họa.
“Muốn phát hiện bí mật thật sự thì phải nghiên cứu nguyên bản. Ngửi thử loại màu này đi.”
“Không phải cậu vừa nói là oxit sắt sao?”
Caesar nghi hoặc cúi xuống, ngửi đầu ngón tay của Sở Tử Hàng.
“Mùi dầu mỡ… còn có cả mùi máu. Cái này tuyệt đối không phải oxit sắt!”
Khắp mặt đất đều là máu, nhưng mùi tanh toát ra từ sắc đỏ của bích họa còn nồng đậm hơn nhiều.
Những bức tranh lẽ ra đã có lịch sử 2.000 năm, vậy mà màu sắc vẫn sánh đặc như mỡ.
“Nếu tôi đoán không sai,” Sở Tử Hàng chậm rãi nói, “đây là màu được chế từ mỡ nhân ngư trộn với máu. Dầu nhân ngư hàng ngàn năm cũng không khô, còn máu của chúng thì luôn giữ được độ ‘tươi’. Những thứ chúng ta từng thấy dưới rãnh biển Nhật Bản chính là nhân ngư trong thần thoại Nhật.”
Anh dừng lại một nhịp.
“Người vẽ những bức bích họa này, nếu đã bắt được nhiều nhân ngư như vậy để chế màu, thì nhất định biết đến Takamagahara và Thi Thủ. Họa sư chính là tổ tiên của Bát Gia Jaki. Những bích họa này rất có thể đã bị bóc ra từ tường của gia tộc thần xã. Những hình người trên bích họa đều được vẽ bằng máu mỡ nhân ngư. Điều này mang ý nghĩa tôn giáo đặc biệt, gọi là ‘thông linh’. Nhân ngư vốn là hỗn huyết chủng thời cổ, trong máu chúng có long huyết. Dùng loại máu này để vẽ, mỗi hình người đều có tinh phách.”
Sở Tử Hàng chỉ vào một hình người màu máu được viền bằng vàng.
“Vì thế, họa sư tuyệt đối không được nói dối khi vẽ. Mỗi nét bút đều nhằm tái hiện lịch sử chân thực. Nhân vật này mang ý nghĩa cực kỳ đặc biệt, hắn là kẻ duy nhất được viền vàng. Điều đó cho thấy thân phận và địa vị của hắn vượt xa những người còn lại. Hắn đội vương miện lông cao, cầm một cây trượng. Trong bích họa cổ đại, trượng chỉ có hai hàm nghĩa: vũ khí hoặc quyền trượng. Ở đây, nó đại diện cho quyền trượng. Hắn là thủ lĩnh của tất cả.”
“Đại loại kiểu… gia trưởng?”
Caesar nhún vai.
“Không.”
Sở Tử Hàng đáp gọn.
“Họ gọi hắn là ‘Hoàng đế’. Hoặc chúng ta có thể gọi hắn là… siêu hỗn huyết chủng.”
“Siêu hỗn huyết chủng?”
Caesar ngẩn người. Khái niệm này anh chưa từng nghe qua.
Việc phân hạng hỗn huyết chủng theo huyết thống chỉ xuất hiện sau khi Học viện Cassell được thành lập.
Sau đó, do phát hiện một số cá nhân có năng lực gần bằng Long tộc thuần huyết, người ta mới bổ sung hạng S trên A.
Việc phân hạng không hoàn toàn dựa vào huyết thống, mà còn xét đến biểu hiện thực tế.
Sinh viên hệ chính quy thường chỉ ở haing B trở xuống.
Sau khi tốt nghiệp, gia nhập Bộ Chấp Hành, nếu biểu hiện xuất sắc mới dần được nâng lên A. Những kẻ như Caesar hay Sở Tử Hàng, chỉ dựa vào huyết thống đã được xếp A, đã là dị loại.
Đừng nói đến Lộ Minh Phi, kẻ dựa thuần huyết được đặc cách lên thẳng S, một tồn tại nghịch thiên.
Dĩ nhiên cũng có ngoại lệ như Finger, huyết thống không tệ nhưng biểu hiện quá nát, rớt thẳng xuống F.
Nhưng dù là hạng S, vẫn chỉ là “hỗn huyết chủng”.
Cái gọi là “siêu hỗn huyết chủng” căn bản không tồn tại trong bảng phân hạng.
Chẳng lẽ là thứ vượt qua hạng S, SS?
“‘Hoàng đế’ là một dạng hỗn huyết chủng vượt ngoài nhận thức của chúng ta.”
Sắc mặt Sở Tử Hàng nghiêm trọng hẳn.
“Tất cả hỗn huyết chủng đã biết, dù ưu tú đến đâu, cũng không thể vượt qua ‘hạn mức huyết thống’. Đó là ranh giới tuyệt đối giữa người và rồng. Một khi vượt qua, long huyết sẽ nuốt chửng ý thức, biến con người thành tử thị, đây là quy luật không thể phá. Nhưng theo những bích họa này, Nhật Bản từng tồn tại hỗn huyết chủng có thể bước qua ranh giới ấy. Bọn họ có tiềm năng sánh ngang Long Vương, sinh ra đã là lãnh tụ của Bát Gia Jaki.”
“Chỉ từ một hình người bé tí viền vàng mà cậu đọc ra ngần ấy thứ?”
Caesar không tin nổi.
“Nhìn tranh thì không thấy,” Sở Tử Hàng đáp, “nhưng phần chú giải bằng chữ triện thì đầy rẫy những lời ca tụng dành cho Hoàng đế. Sự ra đời của hắn được gọi là ‘giáng thế’. Ý nghĩa của hắn sánh ngang Prometheus trộm lửa, hay Jesus Christ dùng máu mình cứu rỗi nhân loại. Hắn là thiên tử giáng lâm, đế vương của định mệnh. Tôn hiệu gồm ‘Đông Hoàng’, ‘Diệu Đế’, ‘Chấn Đế’, ‘Thái Vi Chủ’… Hắn hội tụ mọi mỹ đức của nhân loại, sở hữu sức mạnh vĩ đại để đối kháng với thần.”
Sở Tử Hàng quay sang nhìn Caesar.
“Cậu không nghĩ đến một người nào sao?”
“Loại tồn tại cấp Chúa Jesus thế này thì tôi quen kiểu gì được?”
Caesar trợn mắt.
“Tôi chưa nói với cậu à? Cả nhà tôi đều là tín đồ Thiên Chúa giáo đấy. Nếu trên đời thật có thứ quái vật như vậy, tôi chỉ có nước cầu nguyện làm tín đồ của hắn thôi.”
“Hoàng đế sinh ra đã được định sẵn.”
Sở Tử Hàng nói chậm rãi.
“Ngay từ thời niên thiếu, hắn đã được an bài để thống trị phương Đông. Dù tuổi còn trẻ, hắn đã có địa vị cực cao trong gia tộc, đến cả trưởng bối cũng phải nghe lệnh. Hắn là…”
Anh dừng lại, từng chữ một.
“… thiếu chủ gia tộc trẻ tuổi.”
Một cơn rúng động nổ tung trong đầu Caesar.
Anh rùng mình theo bản năng.
“Là… rùa khổng lồ? Thuộc hạ của hắn gọi hắn là… thiếu chủ!”
“Minamoto Chisei mới 26 tuổi, đã là thiếu chủ của Bát Gia Jaki. Chỉ nhờ chiến công trong Cục Chấp hành thôi sao?”
Sở Tử Hàng trầm giọng.
“Khi chúng ta gặp các gia chủ, gia trưởng Tachibana Masamune đứng dậy, mọi người đều đứng dậy theo, duy chỉ có Minamoto Chisei vẫn ngồi yên. Đó không phải vô lễ, mà là thói quen. Giữa anh ta và gia trưởng là địa vị ngang hàng. Người kế thừa thần huyết chính là anh ta. Anh là kẻ thống trị tương lai của Bát Gia Jaki. Người sẽ thống trị trong tương lai,”
Sở Tử Hàng nói khẽ, “đương nhiên không cần cúi đầu trước kẻ đang thống trị hiện tại.”
Caesar hoàn toàn câm lặng.
Tên người Nhật lười biếng, ít nói đó… lại là Hoàng đế, tồn tại đứng trên mọi hỗn huyết chủng sao?
Sau gương mặt lãnh đạm ấy, lại ẩn giấu sức mạnh vĩ đại nhất của hỗn huyết chủng?
Và kẻ mang sức mạnh đó… chỉ muốn đi bán kem chống nắng?
Trò đùa này chẳng khác gì Alexander Đại Đế nói rằng mục tiêu đời mình không phải chinh phục thế giới, mà là ra Địa Trung Hải làm ngư dân cạy hàu.
“Khoan đã khoan đã! Chuyện này quá vô lý rồi!”
Caesar đột nhiên gào lên, vỗ mạnh vào trán.
“Siêu hỗn huyết chủng? Thứ đó làm sao có thể tồn tại! So với cái này, tôi thà tin là trên đời có siêu Saiyan còn hơn!”
Tâm trạng anh cực kỳ phức tạp, giống như đột nhiên nghe tin trên đời có một công tử vừa đẹp trai hơn, vừa ngầu hơn mình.
Anh luôn tin rằng bản thân là ưu tú nhất, nhiều lắm thì chỉ có Sở Tử Hàng có thể chia bớt ánh hào quang.
Nhưng nếu thật sự tồn tại siêu hỗn huyết chủng…
Khốn kiếp!
Chẳng lẽ thiếu gia nhà Gattuso lại biến thành thứ dân dưới hạn mức huyết thống?
Còn Minamoto Chisei mới là công tử chân chính của hỗn huyết chủng?
Sai quá rồi!
Sai đến mức không thể chấp nhận!
Mà Caesar Gattuso thì không thể nào sai.
Vậy nên nhất định là thế giới này sai rồi!
“Làm sao có thể tồn tại kẻ phớt lờ được hạn mức huyết thống?”
Caesar không giấu nổi vẻ hoài nghi, cố chấp tranh luận với Sở Tử Hàng.
“Đó là vực sâu không thể vượt qua. Bất kỳ ai bước qua ranh giới ấy, thần trí đều sẽ bị long huyết nuốt chửng! Thế nhưng Minamoto Chisei trông hoàn toàn bình thường cơ mà? Long huyết lẽ ra phải khiến hắn hưng phấn, điên cuồng mới đúng chứ? Đằng này cái vẻ lười biếng uể oải đó… trông chẳng khác gì bị rối loạn nội tiết!”
Trong đời mình, Caesar chưa từng cố chấp muốn làm rõ một vấn đề học thuật đến thế, huống chi lại là tranh luận với kẻ thù không đội trời chung.
“Chữ 皇(Hoàng) tách ra thì là gì?”
Sở Tử Hàng nhìn thẳng vào mắt hắn.
“白… 王(Bạch Vương)?”
Sau vài giây im lặng, Caesar khó nhọc thốt ra hai chữ ấy.
“Chết tiệt… bọn họ là hậu duệ của Bạch Vương? Huyết mạch Bạch Vương ư?”
“Đúng vậy,” Sở Tử Hàng đáp.
“Họ chính là dòng máu Bạch Vương mà Bí Đảng từng cho rằng đã tuyệt diệt. Tên của loạt bích họa này là 《Bạch Đế Bản Sinh》, ghi lại lịch sử của Bạch Đế và con cháu của hắn. Bát Gia học được chữ Hoàng từ Trung Hoa cổ. Trong nhận thức của họ, chữ này sinh ra là để chỉ siêu hỗn huyết chủng. Hoàng mang hàm nghĩa thần, như ‘Đông Hoàng Thái Nhất’ trong Sở Từ. Không chỉ vậy, chữ ấy còn che giấu cả danh xưng của vị Bạch Đế kia. Hoàng là con người gần với thần nhất trên thế gian. Kẻ ấy thừa hưởng huyết mạch của Bạch Vương. Mà Bạch Vương là Long Vương khống chế tinh thần, có thể thao túng ý thức của kẻ khác, nhưng bản thân thần trí vĩnh viễn thanh minh.”
Sở Tử Hàng dừng lại, giọng trầm xuống:
“Hoàng kế thừa thiên phú ấy. Vì vậy, dù vượt qua hạn mức huyết thống, năng lực tinh thần vẫn bảo vệ hắn khỏi bị long huyết xâm thực. Hắn là dị loại duy nhất. Trong cơ thể gần như toàn bộ là long huyết, nhưng lại mang một trái tim… của con người.”
“Quái… thai.”
Sau một hồi im lặng kéo dài, Caesar chỉ thốt ra được hai chữ.
—-
Cùng lúc đó, tại tầng đáy của Tập đoàn Genji, sâu hơn cả Thần Điện Khung Sắt, trong bóng tối tuyệt đối, một ánh đèn đỏ sẫm bật sáng.
「ならく」.
Đó là bảng chỉ dẫn của một thang máy.
“Naraku” là một thuật ngữ ngoại lai bắt nguồn từ Phật giáo Ấn Độ, chỉ Na-lạc-ca, tầng địa ngục sâu thẳm nhất trong luân hồi.
Đó không phải là hư không vô tận hay sự sa đọa vĩnh viễn, mà là cảnh giới quả báo dành cho những chúng sinh tạo ác nghiệp nặng:
Một nơi tăm tối, kéo dài tưởng như vô hạn, nơi các ác quỷ và tội nhân rơi xuống đáy khổ đau, chịu giày vò suốt vô số năm tháng.
Chỉ đến khi nghiệp lực tiêu tận, họ mới có thể rời khỏi Naraku và tái sinh vào những cõi khác của nhân thế.
Cửa thang máy mở ra.
Một bóng người bước vào màn đêm không thấy nổi bàn tay đưa ra trước mặt.
Ngoài tiếng quạt thông gió xoay đều, nơi này tĩnh lặng như nghĩa địa.
Bức tường phía trước đột ngột phát sáng.
Một bức tường khổng lồ cao 7, 8m tỏa ra ánh lam u u.
Nhìn kỹ mới nhận ra, đó là một bể chứa nước khổng lồ.
Bức “tường” thực chất là mặt kính của bể, ghép từ hàng trăm khối kính vuông cỡ 1m, liên kết bằng khung kim loại hẹp.
Trên đỉnh bể lắp tuabin nước và bộ lọc cỡ lớn.
Dung tích bể chẳng kém gì thủy cung.
Hệ thống cấp nước thông thường không thể đáp ứng, nên nó lấy nước từ cống ngầm, lọc sạch rồi dẫn vào.
Khi thay nước, tuabin lại hút ra, trả về hệ thống Thần Điện Khung Sắt.
Bóng người ngồi bệt xuống trước vách kính.
Ánh lam chiếu lên gương mặt nghiêng của cậu, đường nét cao gầy, tinh tế, như những pho tượng thiếu niên Hy Lạp bằng cẩm thạch trong đền Parthenon.
Nhìn từ một góc, hắn mang vẻ nữ tính mê hoặc.
Đổi góc khác, lại giống một đứa trẻ đơn độc ngồi trong thủy cung ngắm cá voi trắng.
Luôn có những đứa trẻ như thế.
Chúng có thể ngồi hàng giờ trước bể kính, trong khi cá voi trắng chỉ thỉnh thoảng mới bơi lại nhìn chúng.
Người lớn đi ngang qua, nhìn bóng lưng đứa trẻ, đều cảm thấy nó vừa kỳ lạ vừa sâu sắc đến đáng sợ.
Trẻ con… đôi khi vốn là những sinh vật rất kỳ quái.
Cậu thiếu niên bóc một miếng kẹo cao su, nhét vào miệng.
Đối diện với bể nước trống rỗng, cậu hoàn toàn không sốt ruột.
Từ sâu trong bể vang lên tiếng nước ào ào.
Một sinh vật thủy sinh khổng lồ bắt đầu di chuyển nhanh, chiếc đuôi dài quét thành những vòng xoáy.
Cậu lấy từ trong áo ra một cây bút laser, bật lên.
Chấm đỏ xuất hiện trên mặt kính.
Người nuôi mèo thường dùng thứ này để trêu mèo con, chấm sáng di chuyển nhanh, mèo thì nhảy bổ loạn xạ.
Cậu chậm rãi di chuyển tia laser.
Chấm đỏ lập lòe, cuối cùng thu hút sự chú ý của sinh vật trong nước.
Nó bơi lại gần.
Không chỉ một con.
Là cả một đàn.
Những con cá lớn áp sát mặt kính, mắt không chớp nhìn chằm chằm chấm đỏ.
Gương mặt chúng tái nhợt, như xác chết trôi dạt nhiều ngày trên biển.
Một đàn cá… mang gương mặt con người.
Chúng nhìn trộm thế giới loài người qua lớp kính.
Có con vô cảm.
Có con khóe môi nhếch lên, như đang cười.
Hình dạng của chúng không giống nhau.
Đa phần có đuôi dài, thân phủ vảy.
Một số mang những cơ quan dị dạng khó tin:
Móng vuốt khổng lồ sắc bén, vây xương như lưỡi dao.
Khi hô hấp, các khe ở cổ mở ra, lộ lớp mang đỏ sẫm.
Cậu thiếu niên xoay nhẹ cổ tay.
Những “cá mặt người” uốn lượn thân thể, truy đuổi chấm sáng, ngoan ngoãn như thú cưng.
Cả bể nước bị khuấy động.
Từ đáy bể, một bộ hài cốt màu vàng sẫm nổi lên, hình dáng nửa người, nửa cá, nửa chim.
Rõ ràng khi còn sống, nó là đồng loại của chúng.
Những con cá mặt người dường như không hề ngại ăn thịt đồng loại khi đói.
Bộ xương đầy vết răng, trông như bị chém bằng rìu đốn gỗ.
Cậu tắt laser, tiến sát vách kính.
Mất mục tiêu, đàn cá tản ra.
Bể nước rộng chẳng khác nào hồ ngầm nhỏ trong tầng đá.
Nước ngầm đã lọc khá trong, nhưng khi cá bơi xa, bóng dáng chúng dần mờ đi.
Chỉ còn một con nhỏ hơn vẫn lượn lờ gần mặt kính, dường như vẫn tìm kiếm chấm sáng bí ẩn kia.
Cậu thiếu niên áp chặt bàn tay lên kính.
Qua ánh phản chiếu, có thể thấy vách kính dày tới nửa mét, được xây từ những khối kính khổng lồ.
Con cá mặt người áp sát khuôn mặt vào bức tường kính, dán chặt lên đó để quan sát bàn tay cậu bé.
Lúc này, dung mạo của nó mới hiện ra rõ ràng.
Nó là giống cái, hay nói đúng hơn, mang dáng dấp của một người phụ nữ.
Mái tóc dài đen nhánh xõa xuống, khuôn mặt trắng bệch nhưng vẫn giữ được nét thanh tú.
Giữa lông mày và khóe mắt mơ hồ có dấu vết của những ca tiểu phẫu thẩm mỹ tinh vi.
Nếu không phải trong hoàn cảnh quỷ dị thế này, mà gặp gương mặt ấy giữa phố Shibuya đông đúc, người ta thậm chí còn có thể gọi đó là… một cuộc gặp gỡ lãng mạn nho nhỏ.
“Cô thật đẹp,” cậu bé khẽ nói, “khi cô còn sống.”
Chỉ có gương mặt là đẹp.
Từ cổ trở xuống, cơ thể nó đã biến dạng hoàn toàn, phần dưới hợp nhất thành chiếc đuôi khổng lồ như trăn, thấp thoáng còn thấy tàn tích của đôi chân từng tồn tại.
Trong thần thoại khắp thế giới, hình tượng mặt người thân rắn lặp đi lặp lại không dứt.
Từ Phục Hy, Nữ Oa của nhân loại, đến Thái Hạo trong Tam Hoàng Ngũ Đế.
Từ “Uy Xà” mặc áo tím đội mũ son mà Tề Hoàn Công từng thấy trong Trang Tử.
Đến thần Chac Âm của núi Chung trong Sơn Hải Kinh, “mặt người thân rắn, đỏ như máu, mở mắt là sáng, nhắm mắt là tối”.
Rồi Naga trong Phạn văn, Medusa trong thần thoại Hy Lạp, hay những vị thần rắn đã thất truyền tên tuổi trong điện thờ Maya…
Chúng đứng giữa ranh giới của thần và ác quỷ, tượng trưng cho cám dỗ và bí ẩn tột cùng.
Các nhà thần thoại học đến nay vẫn không lý giải nổi vì sao hình tượng quái dị ấy lại xuất hiện đồng loạt trong những nền văn minh không hề liên hệ.
Nhưng nếu họ từng nhìn thấy sinh vật trước mắt, một thứ quái vật thậm chí còn có thể gọi là xinh đẹp, họ sẽ hiểu.
Tổ tiên loài người thực sự đã từng trông thấy những thứ như vậy bò qua, bơi tới, hoặc bất ngờ lao thẳng về phía họ.
Quá kinh hoàng, quá vặn vẹo, tuyệt đối không thể là sinh vật do Thượng Đế tạo ra.
Chỉ có thể là một trò đùa tàn nhẫn của ác quỷ đối với nhân loại.
Ấn tượng đó như tia sét nổ tung trong đầu những con người nguyên thủy, rồi được truyền lại, đời này sang đời khác dưới cái tên thần thoại.
Cậu bé bật cây bút laser.
Chấm đỏ xuất hiện ngay giữa trán cá mặt người, như một nốt chu sa tươi rói.
Gương mặt tái nhợt ấy bỗng được chiếu sáng.
Nếu không nhìn phần thân thể kinh tởm bên dưới, nó thậm chí còn mang vẻ “mỉm cười xinh đẹp, đôi mắt long lanh”, một loại mị hoặc mềm mại đến nguy hiểm.
Nó vươn chiếc móng vuốt dị dạng chộp lấy điểm sáng.
Móng vuốt cứng như thép, nhưng trên kính siêu cứng chỉ để lại những tiếng kèn kẹt chói tai.
Không bắt được, nó đột ngột nổi giận.
Há to miệng, gào thét trong im lặng.
Lúc này mới thấy rõ cấu trúc miệng khủng bố ấy:
Đôi môi mỏng như cánh hoa anh đào, nhưng hai bên có những khe nứt kéo dài đến tận mang tai.
Khi nó há miệng, dường như toàn bộ hộp sọ đều bung ra, để lộ hàm răng dài sắc nhọn dày đặc như bụi gai.
“Như thế thì xấu rồi,” cậu bé nói thản nhiên.
Tiếng gầm của nó chỉ kéo dài vài giây.
Một cánh vuốt khổng lồ từ phía sau ập tới, kéo phăng nó vào trung tâm bể nước.
Cậu bé tắt laser, lặng lẽ đứng nhìn cuộc tàn sát.
Hơn 10 con cá mặt người vây lấy đồng loại nhỏ bé hơn.
Chúng cắn chặt từng phần cơ thể con mồi, điên cuồng vẫy đuôi, dùng sức xoắn của thân thể để xé nát nó.
Cách săn mồi ấy giống hệt bầy cá mập trắng khi giết cá voi con, kéo nạn nhân xuống đáy biển, vừa đâm vừa xé, cho đến khi cá voi mẹ lao đến thì chỉ còn lại những mảnh xương vỡ vụn.
Con mồi và kẻ săn mồi quấn lấy nhau, tạo thành một đóa hoa thịt quái dị, một đóa hoa với cánh như rắn, mỗi cánh đều co giật,
từng làn khói máu đỏ bốc lên mặt nước.
“Thế giới này… thật xấu xí.”
Cậu bé nói nhạt nhẽo, gương mặt không buồn cũng chẳng vui.
Một tiếng rạn vỡ khe khẽ lan dọc theo toàn bộ bức tường kính.
Khung kim loại chống đỡ bắt đầu xoắn vặn, biến dạng.
Đàn cá mặt người đang ăn cũng nhận ra sự thay đổi, đồng loạt bỏ lại đống thịt nát, bơi dồn về phía bức tường, như tù nhân nghe thấy tiếng cửa nhà ngục mở ra, vô thức nhìn về cùng một hướng.
Bức tường kính lung lay dữ dội.
Một khối kính khổng lồ bị áp lực nước đẩy bật khỏi khung.
Rồi khối thứ hai, thứ ba…
Mỗi tấm kính đều rộng 1m vuông, dày nửa mét, nặng hàng tấn.
Từ chỗ vỡ, dòng nước phun vọt ra xa hàng chục mét.
Chỉ vài giây sau, bức tường trong suốt hoàn toàn sụp đổ.
Hàng chục nghìn tấn nước phá vỡ “đập”, cuốn theo không biết bao nhiêu cá mặt người.
Đó vừa là cơn cuồng triều chết chóc, vừa là cảnh tượng đẹp đến tận cùng.
Trong màn ánh sáng lam u u, những khối kính rơi xuống phản chiếu thứ ánh sáng lạnh như băng.
Trong ánh sáng ấy, những bóng đen giống rồng, giống rắn bay lượn giữa dòng nước.
Đẹp như ngày tận thế.
Cậu bé không hề bỏ chạy.
Ngay trước khi bị cơn lũ lam nuốt chửng, cậu khẽ thở dài.
—-
“Tiếng nước!”
Caesar nhíu mày.
Ngay cả khi không kích hoạt Kamaitachi, thính giác của anh vẫn nhạy hơn người thường gấp nhiều lần.
Anh nghe thấy tiếng nước, không phải dòng chảy trong ống dẫn, mà là âm thanh của thủy triều dâng.
Nhưng tập đoàn Genji nằm ở Shinjuku, cách biển ít nhất 4, 60km.
“Chắc Thần Điện Khung Sắt lại xả nước thôi.”
Sở Tử Hàng vẫn mải chụp ảnh bích họa, không quay đầu lại.
“Dự báo nói đêm nay Tokyo lại mưa lớn. Không có hệ thống thoát nước cấp độ này thì thành phố sớm sập rồi.”
Caesar đảo mắt tìm cửa sổ xem có mưa thật không, nhưng đại sảnh bích họa không hề có cửa sổ.
Cũng dễ hiểu, để bảo vệ các bích họa khỏi oxy hóa và bụi bẩn, Bát Gia Jaki hẳn đã lắp đặt hệ thống lọc bụi và khử ẩm trung tâm.
Mở cửa sổ là điều tối kỵ.
“Chiếu đèn cao lên,” Sở Tử Hàng nói.
“Chúng ta xem toàn cảnh bức họa này. Chắc chắn nó mang ý nghĩa đặc biệt.”
“Chỉ lần này thôi nhé!”
Caesar càu nhàu, “lần sau đừng dùng giọng đạo diễn sai khiến thợ ánh sáng với tôi!”
Anh giơ cao đèn pin.
Ánh sáng quét qua, bích họa rực rỡ hẳn lên.
Giống như bức họ từng thấy trong kho, bức họa này cũng sử dụng lượng lớn vàng ròng làm sắc liệu.
Ở châu Âu thời nghệ thuật vẽ Đức Mẹ Maria hưng thịnh, vàng đã không còn là kim loại hiếm tuyệt đối.
Thông qua mạng lưới thương mại Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương, vàng từ châu Phi được đưa vào lưu thông rộng rãi.
Tại nhiều bến cảng, nó thậm chí có thể đổi lấy bằng chuỗi hạt thủy tinh và các hàng hóa chế tác.
Nhưng Nhật Bản thì khác.
Khoảng 2.000 trước, dù đã tồn tại vàng sa khoáng với quy mô rất nhỏ, Nhật Bản chưa có khả năng khai thác mỏ vàng một cách hệ thống.
Vàng vì thế vẫn là kim loại cực kỳ khan hiếm, mang ý nghĩa nghi lễ và quyền lực nhiều hơn là vật liệu thông dụng.
Phần lớn vàng được sử dụng phải vận chuyển từ lục địa, chủ yếu qua bán đảo Triều Tiên và Trung Hoa, theo những tuyến giao thương ven bờ và hải trình ngắn trên biển Hoa Đông.
Những chuyến vượt biển ấy luôn đối mặt với gió mùa dữ dội, sóng lớn và kỹ thuật hàng hải thô sơ.
Không ít thuyền nhỏ đã lật úp giữa biển, thủy thủ bỏ mạng trong làn nước lạnh.
Chính vì thế, ở Nhật Bản cổ đại, vàng không chỉ hiếm vì khó kiếm, mà còn vì nó được đánh đổi bằng sinh mạng.
Lượng vàng quý giá ấy lẽ ra phải được dùng để đúc ấn tín hay trang sức, vậy mà lại được phung phí đến xa hoa cho một bức bích họa.
Điều đó chỉ chứng tỏ một điều:
Bức tranh này, trong toàn bộ hệ thống bích họa, giữ địa vị tối thượng.
Sở Tử Hàng quan sát bức bích họa từ trên xuống dưới, từng chút một.
Anh có thể chụp ảnh, nhưng nếu muốn nghiên cứu kỹ chất liệu màu vẽ và các chi tiết tinh vi, thì không gì bằng trực tiếp đứng trước nguyên bản.
Bức tranh mang tính trừu tượng rất cao:
Một bộ xương có đôi cánh đang trao cho con người một mảnh xương.
Điều khiến người ta kinh ngạc là bộ xương và con người lại cấu thành một bố cục giống hệt âm dương ngư.
Bộ xương màu vàng nằm trên nền đen, con người màu vàng nằm trên nền trắng.
Cânh tay xương cầm mảnh xương chạm vào bàn tay người sống, toàn bộ hình ảnh như đang xoáy tròn không ngừng.
Ngay cả Caesar, người hoàn toàn mù tịt về huyền học cũng nhìn ra được ý nghĩa biểu tượng của bức tranh:
Cái chết và sự sống luân chuyển không ngừng.
Bộ xương tượng trưng cho tử vong, con người đại diện cho sinh mệnh.
Nhưng mấu chốt lại nằm ở mảnh xương mà bộ xương trao cho con người, rốt cuộc, trong vòng sinh tử ấy, nó đang truyền sinh thứ gì?
“Thái Cực đồ?”
Caesar thử đoán.
Sở Tử Hàng lắc đầu:
“Thái Cực đồ xuất hiện sớm nhất vào đầu thời Bắc Tống, trong truyền thuyết được cho là do Trần Đoàn truyền lại, nhưng với hình thức chuẩn hóa quen thuộc ngày nay, nó thực chất chỉ được hệ thống hóa tương đối muộn, gắn với truyền thống Dịch học và các học giả như Chu Đôn Di, còn việc quy toàn bộ nguồn gốc cho Trần Đoàn phần nhiều mang tính diễn giải hậu kỳ. Tuy nhiên, những bích họa này lại cổ xưa hơn rất nhiều so với triều Tống. Những hình thức tương tự đã từng xuất hiện độc lập trong nhiều nền văn minh khác nhau: cặp song ngư bơi đối xứng, hay hai con rắn nối đầu liền đuôi thành một vòng khép kín. Ở tầng nghĩa sâu xa, chúng không đơn thuần chỉ về “giao hợp” theo nghĩa sinh lý, mà là cách cổ nhân hình tượng hóa tư tưởng nhị nguyên: sinh tử, âm dương, phân tách và hòa hợp, chu kỳ tuần hoàn và sự vận động không ngừng của vũ trụ.”
“Giao… gì cơ?”
Caesar nghẹn lời.
“Giao phối.”
Sở Tử Hàng đành nói thẳng.
“Người sống với người chết giao phối? Nghe bệnh hoạn thật đấy, chẳng lẽ đây là thứ dâm tà của người Nhật?”
Caesar cau mày.
“Không. Đây là giao phối mang ý nghĩa tôn giáo. Trọng tâm không nằm ở hành vi, mà ở thứ được truyền sinh. Vật mà bộ xương trao cho con người kia, nó tượng trưng cho ‘sinh mệnh’. Họa sĩ lấy mảnh xương ấy làm tâm điểm để vẽ nên toàn bộ bức tranh.”
Sở Tử Hàng nói khẽ.
“Cho nên, mấu chốt chính là khối xương đó.”
“Chú giải bằng chữ triện nói gì?”
Caesar hỏi.
“Trong đó có rất nhiều cổ tự và dị thể, tôi cũng chỉ miễn cưỡng đọc được.” Sở
Tử Hàng dừng lại giây lát.
“Nhưng có 8 chữ thì tôi chắc chắn mình không thể nhầm.”
Anh chậm rãi nói:
‘Cổ đạo Hoàng Tuyền… Con đường Hóa thần’
“Nghe chẳng hiểu gì. Hoàng Tuyền chẳng phải là địa ngục trong tiếng Hán sao?”
“Anh còn nhớ Thúy Ngọc Lục không?”
“Tất nhiên. Bất kỳ hỗn huyết chủng có học thức nào cũng biết Thúy Ngọc Lục. Nó giống như Kinh Thánh đối với tín đồ Cơ Đốc vậy.”
Caesar nhún vai.
“Bức tranh này,” Sở Tử Hàng hạ giọng, “gần như chính là bản Thúy Ngọc Lục của Nhật Bản.”
Caesar giật mình.
Thúy Ngọc Lục là một tồn tại kỳ quái trong lịch sử tư tưởng phương Tây.
Thực ra, nó không hẳn là một cuốn sách, bởi toàn bộ văn bản chỉ gồm 13 câu châm ngôn ngắn ngủi, súc tích như lời thì thầm của một trí tuệ cổ xưa.
Bản thân văn bản ấy cũng vốn không có tên gọi gốc.
Danh xưng Emerald Tablet, Thúy Ngọc Lục xuất hiện từ truyền thuyết hậu thế, cho rằng những mệnh đề ấy từng được khắc trên một phiến ngọc lục bảo.
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa từng tồn tại bằng chứng khảo cổ xác nhận sự hiện hữu của bản ngọc nguyên thủy này.
Phiến ngọc có lẽ chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng biểu tượng của các luyện kim sư.
Văn bản được gán cho Hermes Trismegistus, vị “Hermes ba lần vĩ đại”, một nhân vật huyền thoại kết tinh từ thần Thoth của Ai Cập và Hermes của Hy Lạp, biểu trưng cho trí tuệ, tri thức bí truyền và nghệ thuật huyền học.
Việc quy thuộc tác giả này không mang ý nghĩa ghi chép lịch sử theo nghĩa hiện đại, mà là một tuyên ngôn tư tưởng:
Tri thức trong Thúy Ngọc Lục được xem như đến từ cội nguồn thiêng liêng vượt khỏi thời gian.
Những câu chuyện kể rằng Alexander Đại đế từng phát hiện Thúy Ngọc Lục tại Ai Cập, hay phiến ngọc từng được đặt trong hành lang Thư viện Alexandria, đều thuộc về truyền thuyết luyện kim thời Trung cổ và Phục Hưng.
Không có tài liệu cổ đáng tin cậy nào xác nhận các chi tiết ấy, và “lăng mộ của Pharaoh Hermes” cũng không tồn tại trong lịch sử Ai Cập học.
Dấu vết lịch sử sớm nhất mà giới học thuật có thể xác nhận về Thúy Ngọc Lục xuất hiện vào khoảng thế kỷ VIII–IX, dưới dạng bản văn tiếng Ả Rập, trong bối cảnh các học giả Hồi giáo tiếp nhận, bảo tồn và tái diễn giải di sản tri thức Hy Lạp, Ai Cập.
Từ đây, văn bản được dịch sang tiếng Latinh vào thời Trung cổ và dần lan truyền khắp châu Âu.
Từ thế kỷ XV đến XVIII, khi thuật luyện kim và tư tưởng huyền học bùng nổ, thế giới xuất hiện hàng trăm dị bản, bản sao và bản chú giải khác nhau của Thúy Ngọc Lục.
Mọi luyện kim sư đều coi 13 câu châm ngôn ấy là manh mối dẫn đến con đường tối thượng.
Nhưng bởi ngôn từ của nó mơ hồ như thơ huyền học, đa tầng như biểu tượng tôn giáo, có lẽ cho đến nay vẫn chưa từng có ai thực sự giải mã hoàn toàn được Thúy Ngọc Lục.
Trong nội bộ Bí Đảng, luôn tồn tại một học phái cho rằng Thúy Ngọc Lục thực chất ghi chép quy luật tiến hóa từ con người lên loài rồng.
Thành tựu tối cao của luyện kim không phải luyện kim loại, mà là luyện chính bản thân mình, đả thông con đường long hoá.
Nếu bức họa này là Thúy Ngọc Lục của Nhật Bản, vậy thì khối xương mà bộ xương trao cho con người kia… chính là pháp tắc tiến hóa.
“Hoàng Tuyền đúng là có nghĩa là địa ngục,” Sở Tử Hàng nói tiếp, “nhưng sau khi băng qua tầng sâu nhất của địa ngục, thứ chờ đợi lại chính là thiên đường. ‘Cổ đạo Hoàng Tuyền’ là con đường xưa tồn tại giữa địa ngục ác quỷ hoành hành và nó cũng chính là ‘con đường hóa thần’. Chỉ cần vượt qua, sẽ có thể tiến hóa thành thần. Trong Thúy Ngọc Lục cũng có câu tương tự: ‘Dưới giống như trên, trên cũng như dưới; nhờ đó hoàn thành kỳ tích của Thái Nhất.’ Bất luận đi lên hay đi xuống, chỉ cần phá vỡ cực hạn, đều có thể chạm tới sự hoàn mỹ tối hậu.”
Sở Tử Hàng ngẩng đầu, nhìn vòng tròn ám dụ cho ý nghĩa chung cực của luyện kim:
“Bộ xương vàng kia tượng trưng cho Bạch Vương. Hắn ban xương máu của mình cho nhân loại, tạo nên huyết duệ của Bạch Vương, tức những nhân ngư. Nhưng thần còn để lại một di sản quý giá hơn: phương pháp tiến hóa từ hỗn huyết chủng thành rồng. Dù vô cùng nguy hiểm… nhưng không phải là bất khả.”
“Nếu cậu biết phương pháp đó, cậu có muốn thử không?”
Caesar đứng cạnh anh, cùng ngước nhìn vòng luân hồi thần bí.
“Không.”
Sở Tử Hàng nói rất khẽ.
“Làm vậy… cha tôi sẽ rất thất vọng.”
“Thật ra tôi cũng hơi muốn thử…” Caesar thở dài, “nhưng chắc mẹ tôi cũng sẽ thất vọng lắm. Thôi bỏ đi. Ở đây còn có thứ quý giá hơn cả bức này.” Caesar hất cằm.
“Đi, xem bức đáng tiền nhất ở đây.”
“Đây là bức anh nói sao?”
Sở Tử Hàng ngước nhìn bức tường cao trước mặt.
“Cậu không thấy à?”
Caesar đứng cạnh anh.
“Ít nhất thì nó là bức đắt nhất.”
“Làm sao anh biết?”
“Kẻ xâm nhập sẵn sàng giết nhiều tinh anh của Cục Chấp Hành như vậy, nhưng cuối cùng lại chỉ lấy đi đúng bức bích họa này. Điều đó chứng tỏ hắn không chỉ là một kẻ biết thưởng thức nghệ thuật, mà bức tranh này chắc chắn còn là tác phẩm xuất sắc nhất trong tất cả các bích họa.”
Trước mặt họ là một bức tường trắng toát.
Bích họa đã bị lấy đi.
Những bức khác ít nhiều đều vương vết máu, chỉ riêng bức tường này sạch sẽ tinh khiết, không lưu lại chút dấu vết nào.
Điều đó cho thấy hung thủ đã nhanh chóng xử lý xong các cán bộ Cục Chấp Hành rồi mới lấy tranh, khi cuộc thảm sát kết thúc, máu sẽ không còn bắn lên tường nữa.
Nếu là do chính Bát Gia Jaki tháo tranh đem đi tu sửa, thì trên tường hẳn phải còn vết máu.
“Mỗi lần chuyển tài liệu lên đây cách nhau chưa đầy 10 phút,” Caesar trầm giọng.
“Hắn phải giết người rồi bóc tranh trong vòng 10 phút, tốc độ ấy kinh khủng thật.”
“Những bích họa này sau khi tách khỏi bức tường nguyên thủy thì được gắn lên vải vẽ truyền thống đã xử lý phèn,” Sở Tử Hàng vừa nói vừa lướt ngón tay dọc theo bức tường, nhận lấy đèn pin từ tay Caesar để kiểm tra kỹ hơn.
“Nhưng lớp vải lại được dán vào tường bằng keo. Bình thường muốn gỡ tranh phải dùng dung môi rửa keo trước. Hắn làm được nhanh như vậy…”
“Thám tử Sở Tử Hàng,” Caesar nhún vai, “cậu định tìm dấu vân tay trên bức tường này à?”
“Không.”
Sở Tử Hàng chiếu đèn vào một mảng màu vàng nhạt.
“Tôi đang xem lớp keo. Ở đây vẫn còn sót lại keo dính, chứng tỏ hắn xé thô bạo chứ không tháo đúng quy trình, vì thế mới nhanh. Nhưng xé như vậy rất khó bảo đảm nền tranh không bị hỏng. Nếu hắn thật sự trân trọng bức họa này, tại sao lại đối xử với nó tàn nhẫn như vậy?”
“Hợp lý. Với người sưu tầm nghệ thuật, làm hỏng một bức tranh chẳng khác nào làm nhục một tuyệt sắc mỹ nhân, không thể tha thứ.”
“Câu đó là cha anh nói à?”
Sở Tử Hàng hỏi.
“Không.”
Caesar cười lạnh.
“Cậu đánh giá lão khốn đó quá cao rồi. Ông ta có vẻ yêu nghệ thuật, yêu sưu tầm, nhưng thực chất chẳng yêu gì cả. Thứ duy nhất ông ta quan tâm là bản thân mình. Ông ta có thể bỏ ra hàng chục triệu đô mua một bức danh họa, lưu ảnh trong điện thoại để khoe khoang với cả thế giới, rồi một buổi sáng nào đó bảo quản gia tháo tranh khỏi phòng khách quẳng xuống hầm rượu. Cách ông ta đối xử với phụ nữ cũng vậy. Đêm trước còn đọc thơ Shelley cho người đàn bà mặc lễ phục, sáng hôm sau tỉnh dậy lại thấy thân thể trần truồng ấy xấu xí đến buồn nôn, liền đi tắm rồi dặn quản gia mau chóng tống khứ ‘đống thịt khó coi’ đó đi.”
Caesar mỉa mai cay độc, lời sắc như dao.
“Ông ta là kiểu người ích kỷ đến tận xương tủy. Với ông ta, cả thế giới này chỉ là đồ chơi, chơi chán thì vứt.”
Sở Tử Hàng liếc nhìn Caesar.
Về chuyện này anh không tiện bình luận.
Nhưng anh chợt nhận ra mối quan hệ tệ hại giữa Caesar và Pompeii không chỉ đơn thuần là bất đồng về phong cách sống.
Caesar vốn là người khá bao dung, chỉ cần anh chịu được thái độ cao cao tại thượng của Caesar, thì anh vẫn sẽ nhận được sự ‘quan tâm từ trên cao’.
Thậm chí trong những chuyến công tác, Caesar còn mua quà cho toàn bộ cán bộ Hội Sinh Viên.
“Biếu tặng vừa phải là sự hào phóng cần có của giới quý tộc”
Đó là một trong những câu cửa miệng của Caesar.
Ngay cả khi cạnh tranh với Sở Tử Hàng gay gắt nhất, Caesar cũng hiếm khi buông lời cay nghiệt.
Nhưng nhắc đến Pompeii, trong anh lại lộ ra một thứ cảm xúc có thể gọi là… oán độc.
“Kẻ đó không quan tâm đến giá trị nghệ thuật của bức bích họa,” Sở Tử Hàng nói khẽ.
“Mà là manh mối quan trọng ẩn giấu bên trong nó, có thể là chìa khóa để giải mã toàn bộ hệ thống bích họa. Trước khi chữ viết ra đời, hội họa chính là chữ viết, dùng để ghi chép lịch sử. Những bích họa này chắc chắn đang che giấu một bí mật nào đó. Và kẻ trộm bức tranh kia, thứ hắn muốn chính là bí mật ấy.”
“Phương pháp tiến hóa hoàn mỹ?”
Caesar cau mày.
“Có thể.”
Sở Tử Hàng ngồi xuống, rọi đèn pin về sát mặt đất.
Một mảnh tranh vải cỡ khoảng 20cm vuông vẫn còn dính lại trên tường, mép rách nham nhở, rõ ràng là bị xé vội.
Anh cúi xuống chụp ảnh.
“Hoa văn rất phức tạp, lượng thông tin không nhỏ. Khi về chúng ta in ảnh độ phân giải cao, có thể suy ngược nội dung bích họa nguyên bản.”
“Phiền phức quá.”
Caesar rút Dictator từ sau lưng, luồn mũi dao vào khe sau lớp vải, cẩn thận cắt keo từng chút một.
“Hắn đã trộm cả một bức lớn như vậy rồi, tại sao ta không mang luôn mảnh này đi? Phân tích hiện vật gốc, chẳng phải thu được nhiều thông tin hơn sao?”
Sở Tử Hàng sững lại 1 giây rồi gật đầu.
Phong cách làm việc của nhà Gattuso luôn trực diện và bá đạo, đa phần là quá mạnh tay, nhưng đôi lúc, thẳng thừng cũng không hẳn là xấu.
“Chụp nhanh những bức còn lại.”
Caesar vừa nói vừa giấu mảnh tranh vào lớp lót áo.
“Lộ Minh Phi vừa đến là ta rút ngay. Tạm thời đừng để ý đến Kaguya-hime. Hôm nay thu hoạch của chúng ta còn lớn hơn cả việc cho nổ tung nó.”
Anh đột ngột trầm mặc vài giây, rồi vỗ vai Sở Tử Hàng.
“Đạo diễn, tự chiếu đèn tự quay nhé. Nhanh lên — có người đang đến.”
“Anh nghe thấy gì?”
Sở Tử Hàng lập tức cảnh giác.
“Thang máy. Không phải thang hàng ta đi lên, mà là thang VIP bên cạnh. Thang VIP vốn dừng ở tầng này, giờ đang đi xuống. Có người ở tầng dưới gọi thang. Mà người đủ tư cách dùng thang VIP thì chỉ có thể là…”
Caesar huýt sáo nhẹ.
“Con cự long mang hình người đó, đúng không?”
“Chưa chắc hắn sẽ lên tầng này,” Sở Tử Hàng nói.
“Đừng hy vọng viển vông thế. Ngày mai Sở Cảnh sát sẽ đến khám nghiệm hiện trường, tối nay họ gấp rút chuyển hồ sơ, toàn bộ người vận chuyển đều là Cục Chấp Hành, chứng tỏ tài liệu cực kỳ quan trọng. Vì thế rồng hình người và Tachibana Masamune mới đích thân thị sát. Đã xem hiện trường bên dưới, họ có thể không lên đây sao?”
Caesar lao về phía thang máy.
“Khi hắn bước ra khỏi thang mà thấy đầy xác chết, còn chúng ta thì đang trộm đồ ở đây, có giải thích kiểu gì cũng vô ích. Nhanh chụp nốt số bích họa còn lại đi! Tôi sẽ tìm cách câu giờ cho cậu!”
Cánh cửa thang VIP làm bằng đồng khắc hoa văn.
Caesar bật đèn pin cỡ nhỏ, ngậm trong miệng, dùng hai tay nạy mạnh khe cửa, cưỡng ép mở ra.
Gió lạnh trên dưới cuồn cuộn , bên ngoài là giếng thang sâu hun hút.
Chỉ cần nhìn giếng thang là đủ cảm nhận quy mô của tòa nhà.
Giếng thang của cao ốc bình thường chỉ chứa 3-4 thang máy, diện tích khoảng 40m vuông.
Nhưng giếng thang của tập đoàn Genji có thể cho hơn 10 thang máy vận hành đồng thời, diện tích vượt quá 100m vuông.
Trong không gian đó dựng san sát những cột thép góc cường độ cao, liên kết bằng xà thép ngang.
Đây đều là thang máy siêu tốc cho cao tầng, cabin kim loại lao lên xuống với tốc độ 5m mỗi giây, sượt qua trong gang tấc, khiến người ta liên tưởng đến những thành phố tương lai trong tiểu thuyết khoa học viễn tưởng.
Thang VIP đang dừng ở tầng thấp nhất, hẳn là đang đón người.
Hiệu ứng dội âm trong giếng thang rất tốt, với thính lực của Caesar, a mơ hồ nghe được tiếng Tachibana Masamune và Minamoto Chisei đang trò chuyện.
Thang máy VIP bắt đầu đi lên.
Trên màn hình phía trên cửa hiện ra hai chữ “Thần Đạo”.
Phỏng đoán của Caesar đã được chứng thực, những kẻ đứng đầu tối cao của Bát Gia Jaki đang trên đường tiến đến tầng này.
Tầng đặt đại sảnh bích họa nằm đâu đó trong khoảng từ tầng 30 đến 40.
Mỗi tầng cao gần 5m, tính ra thì chỉ cần 30 đến 40 giây là thang máy có thể lên tới nơi.
Đúng lúc ấy, thang máy chở hàng bên cạnh cũng bắt đầu nhích xuống chậm chạp.
Và đúng vào khoảnh khắc chết người này, Lộ Minh Phi vừa kịp khuân xong 50 thùng tài liệu, đang trên đường lên tầng để gặp họ.
Để giữ độ ổn định, thang máy hàng chỉ chạy với tốc độ bằng vài phần của thang máy VIP.
Điều đó đồng nghĩa, Minamoto Chisei và những người kia sẽ tới trước.
“Chết tiệt thật chứ! Trùng hợp kiểu quái gì thế này!”
Caesar ngẩng đầu quan sát giếng thang.
Họ đã ở rất gần đỉnh tòa nhà, đến mức có thể nhìn thấy rõ cụm bánh răng kéo cáp thép đang vận hành phía trên.
“Ở trong hai giếng thang sát nhau, ngay cạnh một con rồng hình người… nếu cậu ta biết chuyện này chắc sợ đến đái ra quần mất.”
“Chỉ còn cách thử thôi.”
Caesar thò nửa người vào giếng thang, hai tay cầm súng, nhắm thẳng vào cụm bánh răng và bóp cò.
Từng phát đạn đều trúng đích.
Nhưng uy lực của Desert Eagle vẫn chưa đủ để phá hủy hoàn toàn hệ bánh răng.
Đạn bật ngược trong giếng thang, tóe ra những tia lửa chói mắt, va đập loảng xoảng không dứt.
Caesar vốn không định để cabin rơi tự do, đè chết con rồng hình người cùng Tachibana Masamune. Mục tiêu của hắn chỉ là kích hoạt hệ thống an toàn, buộc thang máy phải phanh gấp giữa chừng.
Trong các cao ốc, thang máy luôn có nhiều tầng bảo hiểm.
Chỉ cần hệ thống nhận định vận hành bất ổn, nó sẽ lập tức tự động phanh lại.
Mà khi đã bị kẹt trong cabin, Minamoto Chisei cũng không thể khởi động lại thang máy, thứ duy nhất hắn có thể làm, là cạy cửa ra, rồi leo thang bộ lên.
Mấy chục tầng lầu đủ để leo đến mỏi chết.
Bánh răng phanh bắt đầu quay, cọ mạnh vào đĩa hãm, tóe ra một chuỗi tia lửa rực rỡ.
Đúng lúc đó, Minamoto Chisei bỗng im lặng.
Anh đưa tay nắm lấy thanh Kumokiri bên hông.
“Sao vậy?”
Tachibana Masamune giật mình.
Ông nhìn Minamoto Chisei lớn lên, chỉ cần một động tác nhỏ cũng đủ hiểu tâm trạng anh.
Lúc này, từ người Minamoto Chisei tỏa ra sát khí lạnh lẽo đến rợn người.
Kumokiri vẫn còn trong vỏ, nhưng trong lòng anh, thanh katana ấy đã sớm rút khỏi bao.
Minamoto Chisei ngẩng đầu nhìn lên phía trên, gương mặt không chút biểu cảm:
“Có chuyện rồi. Con ngửi thấy mùi máu… mùi máu từ phía trên trôi xuống.”
Vừa dứt lời, tiếng súng long trời lở đất vang lên từ phía trên đầu.
Đó là tiếng của một khẩu súng lục cỡ lớn, âm thanh trong không gian kín của giếng thang bị dội lại, chồng chất, khuếch đại đến chói tai.
Cabin rung lắc dữ dội, như thể bất cứ lúc nào cũng có thể rơi xuống.
Nhưng cả Minamoto Chisei lẫn Tachibana Masamune đều không hề tỏ ra hoảng loạn.
Tachibana Masamune rút ra từ trong tay áo kimono một khẩu súng lục ổ xoay cỡ lớn:
“Thứ chuột nào dám chui vào Tập đoàn Genji, lại còn ra tay trước?”
“Các bang phái trung thành với Moukishu đều đã bị chúng ta đè xuống. Danh sách truy nã chỉ còn Osho và Ryuo là lọt lưới…”
Minamoto Chisei cau mày.
“Vậy mà vẫn có kẻ dám xâm nhập tổng bộ của chúng ta sao? Đã dám vào, chắc chắn đối phương đã chuẩn bị kỹ.”
“Không cần lo.”
Tachibana Masamune lạnh giọng.
“Khi thiết kế đã tính đến an toàn thang máy. Đừng nói súng lục, cho dù là lựu đạn cũng không thể ảnh hưởng đến vận hành của thang máy VIP. Khi bị tấn công, nó sẽ chuyển sang chế độ an toàn. Không tới 1 phút, chúng ta sẽ lên tới tầng cao nhất.”
Thang máy VIP vẫn tiếp tục đi lên, chỉ là từ siêu tốc, nó đã biến thành một chiếc thang máy bình thường, đang vận hành trong chế độ an toàn.
“Con không lo cho thang máy.”
Giọng Minamoto Chisei lạnh như băng.
“Con lo cho kẻ đang nổ súng kia… rất có thể hắn đang ở đại sảnh bích họa.”
Sắc mặt Tachibana Masamune lập tức thay đổi.
Ông móc điện thoại ra, bấm số:
“Kaguya-hime, tòa nhà chuyển sang chế độ phong tỏa toàn diện. Cấm tất cả mọi người ra vào. Đóng toàn bộ hệ thống thông gió và cống ngầm. Triển khai xạ thủ bắn tỉa!”
“Người ra lệnh: Tachibana Masamune. Người thực thi: Kaguya-hime. Mệnh lệnh hợp lệ, mệnh lệnh đã được tiếp nhận. Tòa nhà sẽ hoàn tất phong tỏa toàn diện trong 30 giây.”
Chỉ 1 giây trước, Tập đoàn Genji vẫn còn rực sáng ánh đèn.
Ngay khi mệnh lệnh được ban ra, ánh sáng tắt dần từ dưới lên trên, từng tầng một, chỉ còn đèn khẩn cấp chiếu sáng lờ mờ.
Lối thoát hiểm và cửa khẩn cấp đồng loạt khóa chặt.
Cả tòa nhà bị chia cắt thành các khu vực hạn chế.
Muốn đi từ khu này sang khu khác, chỉ có cách phá cửa hoặc phá tường, và hành động đó sẽ lập tức bị Kaguya-hime phát hiện.
Trên sân thượng, các xạ thủ bắn tỉa ồ ạt xuất hiện.
Nòng súng của họ chĩa xuống, phong tỏa toàn bộ mặt ngoài tòa nhà.
Nếu có kẻ định phá vách kính, dùng dây trượt xuống, thì trong lúc hạ độ cao, chắc chắn sẽ bị bắn hạ.
Đó là phương án an ninh đã được diễn tập vô số lần.
Mức độ bảo vệ của Tập đoàn Genji vượt xa trí tưởng tượng của Caesar.
Chỉ tiếc, đêm nay lại là lúc hệ thống an ninh yếu nhất, bởi ngày mai Sở Cảnh sát sẽ tiến hành đột kích điều tra.
“Một khi tòa nhà đã bị phong tỏa hoàn toàn,” Tachibana Masamune lạnh lùng nói, “cho dù là con chuột từ đâu chui ra… cũng đừng hòng thoát được.”
Minamoto Chisei liếc nhìn bảng số tầng.
Còn hơn 10 tầng nữa, họ sẽ tới đại sảnh bích họa.
“Nhanh! Nhanh! Nhanh! Rút lui ngay!”
Caesar vừa thay băng đạn vừa hét.
“Cùng lắm nửa phút nữa là bọn họ sẽ tới tầng này!”
Sở Tử Hàng chụp xong bức bích họa cuối cùng, cất máy ảnh, lao về phía thang máy.
Minamoto Chisei là siêu hỗn huyết chủng, đối đầu trực diện với hắn khi chưa có chuẩn bị, hoàn toàn không có cửa thắng.
Cho dù kiêu ngạo như Caesar, cũng không dại gì thử vận may.
“Thế còn Lộ Minh Phi thì sao?”
Sở Tử Hàng liếc nhìn con số tầng của thang máy chở hàng.
Dù thang máy VIP đang chạy ở chế độ an toàn…
nó vẫn sẽ đến trước.
“Cứ để họ chơi với nhau đi. Dù sao thì con rùa khổng lồ kia cũng sẽ không tin người của Cục Chấp Hành là do Lộ Minh Phi giết đâu. Cùng lắm là nhốt cậu ta lại, tra hỏi thêm vài trận.”
Caesar nhún vai.
“Chúng ta phải tin đồng đội. Tôi tin cậu ta chịu được.”
“Cậu ta chịu nổi tra tấn á?”
Sở Tử Hàng lắc đầu.
“Không chịu nổi cũng chẳng sao.”
Caesar nói tỉnh bơ.
“Cậu ta chỉ biết chúng ta từng trốn trong Takamagahara. Chúng ta rời Takamagahara là xong, cậu ta không thể khai ra thêm bất cứ thứ gì. Vậy nên, dù chịu không nổi thì cũng phải chịu, vì chẳng có thông tin nào để khai cả.”
Anh cười nhạt.
“Con rùa ấy có thể là một thằng khốn, nhưng chưa đến mức là kẻ cuồng sát muốn nuốt sống Lộ Minh Phi đâu.”
Lộ Minh Phi đơ toàn tập.
Cậu vừa mới bước vào thang máy chở hàng, còn chưa kịp mừng vì mình thoát khỏi hang ổ nguy hiểm, thì đã nghe thấy tiếng súng dồn dập vọng sang từ giếng thang bên cạnh.
Nghe kiểu này… chẳng lẽ đại ca với đàn anh đấu súng với Cục Chấp Hành rồi sao?
“Ôi cái đệt…”
Lộ Minh Phi hoảng hốt thò tay vào áo mò súng.
Dù mấy trò mưa bom bão đạn này hoàn toàn không phải sở trường của cậu, nhưng đã ra ngoài lăn lộn thì kiểu gì cũng phải có đồ phòng thân. Phim ảnh vẫn hay chiếu thế mà, nam chính nhét một khẩu súng lục nhỏ vào tay nữ chính, dịu dàng hỏi:
“Em còn nhớ anh dạy em bắn súng thế nào không?”
Rồi đến phút then chốt, chính khẩu súng nhỏ đó bắn chết trùm phản diện…
Phụ nữ trong phim hành động ai cũng nên có một khẩu súng lục.
Lộ Minh Phi nghĩ thầm:
May mà mình cũng có!
…Khoan đã, sao nghĩ nghĩ lại thấy mình đang đứng về phía “thiếu nữ yếu đuối” thế này?
Cậu nắm chặt khẩu súng, run cầm cập, luồn lách giữa đống thùng tài liệu tìm chỗ nấp.
Nhỡ đâu cửa thang máy vừa mở ra là một tràng đạn quét tới, thì cậu tiêu đời ngay tại chỗ.
Thang máy rung lắc dữ dội.
Đèn nhấp nháy vài lần rồi tắt phụt, bóng tối nuốt trọn không gian.
“Má ơi, đại ca… đây là đấu súng hay là pháo kích vậy? Rung đến mức cúp điện luôn rồi!”
Lộ Minh Phi lẩm bẩm trong sợ hãi.
Nhưng Caesar đâu có mang theo tên lửa… mà kể cả có, cũng chẳng có lý do gì để rung lắc cả tòa nhà thế này…
Đây đâu còn là đi thang máy nữa?
Cảm giác chẳng khác gì ngồi tàu hải tặc ở công viên giải trí.
Lúc làm trong Takamagahara cậu còn uống mấy ly rượu.
Lắc kiểu này thêm chút nữa chắc nôn ra hết.
Một giây sau, Lộ Minh Phi chợt tỉnh ngộ.
…Ối mẹ ơi, động đất rồi!!!
Nhật Bản là đất nước thỉnh thoảng lại rung lên một trận.
Động đất nhỏ thì coi như giải trí.
Nhưng cái cường độ này… Ít nhất cũng trên cấp 7!
Động đất nhỏ thì vui, động đất lớn là chết người!
Cảm giác mất trọng lượng ập đến.
Thang máy chở hàng mất kiểm soát, lao thẳng xuống dưới.
Má phanh cọ vào ray, kim loại gào rú, tia lửa bắn tung tóe soi sáng cả giếng thang.
Cường độ địa chấn vượt quá tiêu chuẩn thiết kế của Maruyama.
Phanh thất bại.
Thang máy chở hàng rơi tự do với gia tốc chuẩn một G, lao thẳng về phía mặt đất!
Khoảnh khắc này, chỉ có ba chữ có thể diễn tả cảm xúc của Lộ Minh Phi trước cuộc đời khốn nạn này.
Không phải kiểu gào thét hùng hồn, mà là:
“Cứu! Mạng! A——!!!”
Tachibana Masamune bị hất mạnh vào vách thang máy, trán bê bết máu.
Phản xạ của ông vốn nhanh hơn người thường rất nhiều, đáng lẽ không đến mức thảm hại như vậy.
Nhưng khi sóng chấn động ập tới, ông đang hai tay cầm súng ổ xoay, nhắm vào cửa thang máy, toàn bộ tinh thần dồn vào phía trước, hoàn toàn không kịp đề phòng cabin lắc lư như tàu hải tặc.
Không phải “rung”, mà là lắc.
Biên độ vượt quá 1m.
Tòa cao ốc mang theo tất cả những người bên trong đung đưa qua lại.
Trong mắt đa số mọi người, nhà chọc trời luôn đứng yên, vững như bàn thạch.
Nhưng đó chỉ là ảo giác.
Khung xương của những tòa nhà này là thép, mà thép không chỉ cứng, nó còn dẻo.
Khi chịu ngoại lực, nó sẽ cong để giảm chấn, rồi bật trở lại.
Với độ cao của Tập đoàn Genji, chỉ cần gió lớn, tầng cao nhất cũng có thể lắc với biên độ hàng chục cm.
Chỉ là so với tổng chiều cao của tòa nhà thì quá nhỏ, con người bình thường không đo đạc nên thường bỏ qua.
Nhưng trong một trận động đất cường độ cao, khi sóng địa chấn quét qua, toàn bộ khu Shinjuku rung chuyển.
Những tòa nhà chọc trời đung đưa như rừng tuyết tùng giữa bão lớn.
Minamoto Chisei cắm Kumokiri vào vách thang máy, giữ vững thân thể, đồng thời kéo Tachibana Masamune đứng dậy.
Thang máy dừng hẳn.
Cáp thép giật căng vô ích, nhưng cabin kẹt cứng trong ray, không nhúc nhích.
Thang máy VIP có tiêu chuẩn vượt xa thang hàng, về mặt thiết kế, nó chịu được động đất cấp 9.
Nhưng chịu được không có nghĩa là vẫn vận hành bình thường trong cấp 9.
Sóng địa chấn khiến giếng thang bị cong vênh.
Dù thiết kế của Maruyama có ưu tú đến đâu, cũng không thể để thang máy chạy trong một giếng thang bị uốn cong.
Điện thoại trong túi áo khoác rung lên.
Minamoto Chisei lấy ra xem.
Tin nhắn từ chính quyền thành phố:
Cảnh báo động đất:
Mười lăm giây trước, Tokyo xảy ra động đất nông, cường độ khoảng 6,5 độ.
Sóng địa chấn sẽ đến Saitama sau 15 giây, và Yokohama, Osaka sau 30 giây.
Đề nghị người dân chuẩn bị phòng tránh.
“Động đất… lại đúng vào lúc này!”
Tachibana Masamune cũng đang nhìn điện thoại.
Tòa nhà vẫn đang trong trạng thái phong tỏa toàn diện.
Nghĩa là con chuột vẫn chưa trốn thoát.
Nhưng nếu không giải phong tỏa, thì người trong tòa nhà không thể sơ tán.
Cán bộ Cục Chấp Hành thì còn ổn, họ là những kẻ liều mạng, gặp động đất cũng có thể giữ bình tĩnh.
Nhưng trong tòa nhà này còn có những nhân viên tăng ca bình thường.
Bên ngoài vang lên tiếng bước chân dồn dập.
Mọi người đang làm theo Kế hoạch Ứng phó Động đất đã được diễn tập:
Trưởng phòng chỉ huy tổ trưởng, tổ trưởng dẫn nhân viên, từng người rời văn phòng theo trật tự, phân luồng về các lối thoát hiểm khác nhau.
Nhật Bản là đất nước quen với động đất.
Người Nhật cũng nổi tiếng tuân thủ kỷ luật, thường thể hiện sự bình tĩnh vượt mức bình thường.
Nhưng sự bình tĩnh ấy không thể kéo dài lâu.
Khi họ đến lối thoát hiểm, họ sẽ phát hiện ra:
Tất cả cửa an toàn đều bị khóa.
Không một thẻ ra vào nào mở được.
Từ trưởng phòng đến nhân viên bình thường, không ai ngoại lệ.
Không ai không sợ chết.
Khi họ nhận ra mình có thể bị chôn sống trong tòa nhà này, kỷ luật sẽ sụp đổ.
Họ sẽ xô đẩy, giẫm đạp, đập phá bằng mọi thứ trong tay để tìm đường thoát thân.
Đến lúc đó, chưa cần động đất giết người, chính hoảng loạn sẽ gây ra thương vong.
“Không ổn.”
Minamoto Chisei trầm giọng.
“Phải giải phong tỏa.”
“Không thể!”
Tachibana Masamune quát lên, lấy khăn tay che trán, máu không ngừng thấm ra.
“Nếu người ngoài thật sự nhìn thấy bích họa, sao chép rồi mang đi, hậu quả không chỉ là vài mạng người! Nó có thể ảnh hưởng đến hàng trăm, hàng ngàn người! Những bí mật đó tuyệt đối không được tiết lộ! Chuyện này sẽ sớm kết thúc thôi! Sau khi khóa cửa an toàn, kẻ xâm nhập không thể thoát khỏi đại sảnh bích họa! Ta đã mở một lối cầu thang cứu hỏa. Người ở kho lưu trữ đang chạy về phía đó! Mười phút nữa là tới!”
“Dư chấn có thể ập đến bất cứ lúc nào. Mười phút đã là quá dài. Chuyện này để con xử lý. Mười phút nữa, dù con có bắt được kẻ xâm nhập hay không, cũng phải mở cửa!”
“Chisei, cậu đã là Gia trưởng rồi! Cậu là hy vọng của cả gia tộc! Không cần cậu phải mạo hiểm như vậy!”
Tachibana Masamune nắm chặt cánh tay Minamoto Chisei .
“Chỉ là Gia trưởng tạm quyền mà thôi. Xin Gia trưởng chân chính hãy yên tâm tránh hiểm. Việc này con sẽ giải quyết.”
Minamoto Chisei đẩy nắp kiểm tra phía trên cabin thang máy.
“Những giống loài có thể uy hiếp được con trên thế giới này… không nhiều đâu.”
Anh xoay người nhẹ nhàng, đứng vững trên nóc cabin.
Trong giếng thang, những sợi cáp thép dài hàng trăm mét nối từ tầng mái xuống tận tầng hầm.
Gió rít chói tai, tia lửa điện tóe lên không ngừng.
Luồng khí nhiễu loạn do thang máy siêu tốc tạo ra mạnh đến mức tốc độ gió vượt cấp 10, như thể có thể cuốn phăng con người bất cứ lúc nào.
Theo lẽ thường, trong động đất phải tuyệt đối tránh dùng thang máy, ai từng được huấn luyện sơ tán đều biết điều đó.
Nhưng lúc này, các thang máy lại đang chạy với tốc độ tối đa.
Mọi người đã bắt đầu hoảng loạn.
Cửa thoát hiểm không mở được, họ chỉ còn cách liều lĩnh lên thang máy, hy vọng sang tầng khác sẽ có lối ra.
Nhưng rất nhanh thôi, họ sẽ nhận ra:
Tất cả các tầng đều bị khóa kín.
Minamoto Chisei kéo Tachibana Masamune lên, đỡ ông đứng trên dầm thép góc giữa các giếng thang.
Dầm rộng chưa tới 30cm, trước sau đều là vực sâu thẳng đứng.
Những cabin thang máy nặng hàng tấn có thể lướt sát mặt hoặc sát lưng họ bất cứ lúc nào. Hai người buộc phải đứng thẳng, tuyệt đối không được lệch người, chỉ cần bị quệt trúng, hỗn huyết chủng cũng không chịu nổi.
“Không ngờ giếng thang máy lại là nơi… kỳ diệu thế này.”
Tachibana Masamune mệt mỏi tựa vào cột thép.
“Cảm giác như đang đứng giữa làn chuyển hướng trên cao tốc vậy.”
Ông đã 2 ngày 2 đêm không ngủ.
Từ lúc biết Sở Cảnh sát Tokyo xin lệnh khám xét đặc biệt từ Văn phòng Thủ tướng để đột kích Tập đoàn Genji, ông liên tục chỉ huy việc di dời, bận rộn không ngơi tay.
Ông vốn là kiểu người tỉ mỉ, lo toan đến kiệt sức.
Minamoto Chisei cởi áo khoác gió, choàng lên vai ông:
“Ngài còn chịu được chứ?”
“Chỉ là trầy trán chút thôi…”
Tachibana Masamune thở dài khẽ khàng.
“Nhưng ta thật sự già rồi. Thành gánh nặng của cậu mất.”
“Ngài đừng nói vậy.”
Minamoto Chisei đáp.
“Khi ngài ở thời kỳ đỉnh cao nhất, con cũng từng là gánh nặng của ngài. Mười phút. Dù con có quay lại hay không, cũng phải giải phong tỏa.”
Anh bật người, chộp lấy sợi cáp thép, vung Kumokiri hém vào điểm nối giữa cáp và cabin.
Bốn vệt lửa điện rực sáng tóe lên trên ray trượt.
Cabin rơi thẳng xuống vực tối không đáy.
Sợi cáp kéo theo Minamoto Chisei vọt ngược lên, thân ảnh anh nhanh chóng nuốt vào bóng đen phía trên.
Luồng khí nóng và sóng xung kích của Quân Diễm đập thẳng vào cửa an toàn bằng thép không gỉ.
Caesar đội gió phản chấn lao tới kiểm tra.
Cánh cửa… vẫn nguyên vẹn.
Độ bền của nó vượt xa dự đoán của họ.
Caesar rút Desert Eagle, nhắm vào ổ khóa bắn liên tiếp.
Đạn bật ngược trở lại, trên cửa chỉ để lại vài vết lõm mờ nhạt.
Băng đạn anh dùng là đạn xuyên giáp lõi thép, đủ xuyên áo chống đạn Kevlar, nhưng bắn vào cánh cửa này thì chẳng khác nào đạn BB đồ chơi.
“Khốn kiếp! Cánh cửa này còn chắc hơn cả cửa kho tiền!”
Caesar giận dữ đá mạnh một cú.
Sở Tử Hàng gõ nhẹ lên cửa, âm thanh trầm đục bất thường:
“Đúc nguyên khối bằng thép, đúng chuẩn cửa két cỡ nhỏ. Tường cũng được gia cố bằng thép!”
Caesar vỗ mạnh lên trán.
Đáng lẽ họ phải nghĩ ra sớm hơn.
Không có cửa sổ, chỉ có duy nhất một cửa an toàn, nơi này chính là kho bảo mật.
Thứ được cất giữ không chỉ là nghệ thuật vô giá, mà còn là bí mật của Long tộc.
Họ đã bị khóa chặt trong kho bí mật của Bát Gia Jaki.
“Sức công phá của Quân Diễm không chỉ đến thế chứ?”
Caesar nghiến răng.
“Tăng lực thêm nữa? Hay nung chảy luôn cánh cửa này?”
“Phóng thích Quân Diễm trong không gian kín là điều cấm kỵ.”
Sở Tử Hàng nói.
“Nếu tăng lực, sóng phản hồi từ tường sẽ đánh ngược lại chúng ta. Tôi chỉ có thể tạo bạo phát, còn áp đặt nhiệt độ siêu cao ổn định lên vật thể… đó là quyền năng của Vua của Thanh Đồng và Lửa.”
Caesar chợt nhớ tới đêm vị Thanh Đồng và Lửa thức tỉnh, cậu thiếu niên kỳ lạ chậm rãi bước đi trong Điện Anh Linh, mọi thứ trên đường đi lặng lẽ tan chảy, để lại con đường rực lửa.
Đó mới là chủ nhân tối cao của lửa.
Không bùng nổ, không ánh sáng chói lòa, sức mạnh cuồng bạo được kiểm soát chính xác tuyệt đối, như một đại tông sư thong thả vung bảo kiếm.
Lưỡi kiếm chạm đâu, vạn vật lặng lẽ đứt lìa.
Sở Tử Hàng từng thừa nhận:
Ngay cả Quân Diễm, một ngôn linh bậc cao như vậy, vẫn có thiếu sót.
Nghe thì có vẻ bình thản, nhưng trong lòng anh đầy bất cam, bao công sức mới thu được những tư liệu bích họa quý giá, còn chưa kịp phân tích đã rơi vào tuyệt địa.
Anh quay sang thang máy.
So với cửa an toàn này, có lẽ cửa thang máy dễ phá hơn.
Nhưng lần này, dù dốc hết sức, anh vẫn không thể phá mở.
Khe cửa méo mó biến dạng, song vẫn không chịu nhúc nhích.
Không hổ danh là thiết kế của Maruyama.
Nếu họ muốn xây một phòng tranh kiên cố như két sắt, thì nó đúng là bất khả xâm phạm.
Cửa thang máy cũng đã được gia cố.
Trước đó Caesar mở được bằng tay không là vì nó đang ở trạng thái mở, một khi đã khóa chặt, thì tê giác cũng không húc nổi.
“Khốn thật! Tự chui vào nhà giam rồi!”
Caesar giáng một đấm vào cửa.
ẦM!
Cánh cửa nứt toác!
Cửa đồng đặc đúc nguyên khối, nặng tới vài trăm cân, dù dùng xe SUV cũng khó phá, vậy mà giờ đây rạn vỡ dưới cú đấm của Caesar.
Anh sững sờ nhìn nắm đấm mình.
Cánh cửa tiếp tục rung lên dữ dội.
Tiếng vang dội như chuông lớn trong thánh đường, hết đợt này đến đợt khác.
Vật liệu của nó là hợp kim đồng–thiếc.
Trước thời đại đại bác bằng sắt, thứ kim loại này từng dùng để đúc nòng pháo:
Cực kỳ cứng, nhưng thiếu dẻo.
Khi lực tác động vượt ngưỡng, nó sẽ nứt vỡ như đá.
Giờ đây, cánh cửa đã lung lay đến cực hạn.
Caesar chợt hiểu ra chuyện gì đang xảy ra.
Không phải cú đấm của anh đã vượt quá giới hạn chịu đựng của đồng thiếc, mà là có người đang đập cửa từ phía bên kia!
Anh bật người lùi lại, nhưng đã quá muộn.
Một cánh tay mặc vest đen thò ra từ khe nứt, đánh thẳng vào ngực Caesar!
Caesar rút ngay Dictator, ép lưỡi dao sát tim mình, cưỡng ép đỡ trọn cú đánh.
Anh có cảm giác như bị một khúc gỗ công thành nện thẳng vào lồng ngực.
Từ xương ức đến xương sườn vang lên âm thanh răng rắc như sắp vỡ vụn.
Lực xung kích khiến tim anh ngừng đập trong khoảnh khắc.
Nếu không phải đang ở trạng thái Bộc Huyết, cú đánh này thậm chí đủ để khiến anh chết vì nhồi máu cơ tim!
Sở Tử Hàng lao tới ôm lấy Caesar , cố giúp anh triệt tiêu lực, nhưng cả hai vẫn bị đánh bay ra ngoài.
“Thế nào?”
Sở Tử Hàng trầm giọng hỏi.
“Giờ thì tôi tin lời cậu rồi!”
Caesar nghiến răng, lau mạnh vệt máu nơi khóe miệng.
“Siêu hỗn huyết chủng… đúng là tồn tại thật! Chẳng khác gì Siêu Saiyan!”
Cánh tay kia liên tiếp đấm xuyên qua cửa đồng.
Dù là hỗn huyết chủng ưu tú đến đâu, cơ bắp và xương cốt cũng không thể so với rồng.
Thế mà kẻ đó lại đang dùng thân thể trần trụi để nện vào kim loại cứng như vậy.
Caesar và Sở Tử Hàng liếc nhau, đồng loạt tắt đèn pin, ẩn mình vào bóng tối.
Cửa đồng sụp đổ trong tiếng nổ ầm vang.
Trước mắt Minamoto Chisei hiện ra một con đường nhỏ được thắp sáng bằng ánh nến.
Anh xoay nhẹ cổ tay, toàn thân xương cốt lần lượt vang lên tiếng lách tách.
Thời gian chỉ có 10 phút, giờ đã trôi qua 1 phút.
Đường dây điện cao áp trong giếng thang máy đã đứt, những tia lửa điện sáng lóa hắt bóng anh lên đại sảnh bích họa.
Cú phá cửa vừa rồi đã khiến đối phương bị thương, nhưng không phải vết thương chí mạng.
Đối phương cũng không phát ra bất kỳ tiếng động nào vì đau, điều đó cho thấy huyết thống của hắn cực kỳ tinh thuần, ít nhất không kém trạng thái long hóa của Sakurai Akira.
Trong tầm mắt không có mục tiêu khả nghi nào.
Đối phương cũng không phản kích ngay khoảnh khắc anh phá cửa.
Rõ ràng, màn xuất hiện của anh đã để lại ấn tượng đáng sợ.
Bọn chúng đang ẩn nấp trong bóng tối không thấy gì, chờ thời cơ tập kích.
Minamoto Chisei bật người lên, không tiến mà lùi, đáp xuống xà thép trong giếng thang máy.
Trước mặt anh là sợi dây điện cao áp tóe lửa, nguồn sáng duy nhất trong giếng thang.
Cái bóng của anh vì thế biến mất khỏi đại sảnh.
Đối phương không thể dựa vào bóng để phán đoán hành động của anh nữa.
Việc cái bóng đột nhiên biến mất hẳn đã khiến đối phương kinh hãi.
Nhưng bọn chúng vẫn im lặng tuyệt đối, giống như bầy sói mai phục sư tử, kiên nhẫn và lạnh lùng.
Minamoto Chisei cởi áo vest, vo tròn lại rồi ném mạnh ra ngoài.
Chiêu đánh lạc hướng này không mới, nhưng trong điều kiện ánh sáng yếu thì cực kỳ hiệu quả.
Những kẻ mai phục chắc chắn đang dán mắt vào cửa thang máy.
Khi thấy bóng đen xuất hiện, chúng chỉ có chưa đầy một ml giây để suy nghĩ.
Đối phương có súng.
Trong trạng thái căng thẳng tột độ, 99% con người sẽ bóp cò theo phản xạ thần kinh, không cần suy nghĩ.
Áo vest bay xa 6-7 mét, nhẹ nhàng rơi xuống đất, tựa như một con ưng đen hạ cánh.
Bóng tối im lìm.
Dường như… không hề tồn tại kẻ địch.
Sự bình tĩnh này vượt xa dự đoán của Minamoto Chisei.
Không chỉ huyết thống xuất sắc, bọn chúng còn được huấn luyện cực kỳ bài bản.
Anh liếc nhìn đồng hồ.
Một phút 12 giây đã trôi qua.
Chỉ còn 8 phút 48 giây, Tachibana Masamune sẽ giải trừ phong tỏa.
Khi đó, đám xâm nhập hoàn toàn có thể trộn vào đám đông và rời đi không dấu vết.
Không còn thời gian dò xét nữa.
Minamoto Chisei từ từ hạ thấp người, rồi bùng nổ sức bật, vượt qua xà thép lao thẳng về phía bình phong.
Đây là cuộc so tốc độ thuần túy.
Tốc độ xuất phát của anh đủ để so với siêu xe.
Chỉ cần đủ nhanh, mọi đợt chặn giết sẽ thất bại, mưa đạn cũng chỉ bị bỏ lại phía sau.
Áp suất gió khổng lồ khiến bề mặt bộ vest gợn sóng như nước chảy.
Dưới lớp áo là Kumokiri, thanh katana nguy hiểm.
Tay phải anh giấu kín bên trong.
Đó là Iaijutsu · Nukitsuke
Cuối thời Chiến Quốc Nhật Bản, khi chiến loạn len lỏi vào từng con phố và hành lang gỗ của các phủ đệ samurai, một loại kiếm thuật đặc thù dần hình thành trong im lặng.
Nó không sinh ra trên chiến trường mở, cũng không dành cho những cuộc quyết đấu danh dự, mà dành cho khoảnh khắc sinh tử xảy ra trong nháy mắt, nơi kẻ còn sống là kẻ rút kiếm trước.
Iaijutsu ra đời từ nhu cầu đó.
Đây không phải kiếm đạo của thế tấn công kéo dài, mà là võ học của khoảnh khắc đầu tiên:
Khi kiếm còn trong vỏ, thân thể còn tĩnh, và ý chí chưa lộ ra ngoài.
Trọng tâm của iaijutsu là nukitsuke, đường chém phát ra đồng thời với động tác rút kiếm.
Không phải “rút rồi chém”, mà là rút chính là chém.
Lưỡi kiếm thoát khỏi vỏ trong một quỹ đạo xiên, thường là từ hông lên hoặc từ vai xuống, đánh thẳng vào trung tuyến đối phương.
Về hình thức, nukitsuke trông giống một đòn đánh bất ngờ.
Nhưng về bản chất, đó là một kỹ thuật được tính toán cực kỳ nghiêm ngặt:
Tư thế đứng, độ mở hông, hướng cổ tay, khoảng cách và thời điểm đều phải chuẩn xác tuyệt đối.
Chỉ cần sai lệch nửa nhịp, kiếm sẽ mắc vỏ, và người dùng iaijutsu sẽ chết trước khi kịp bước sang chiêu thứ hai.
Chính vì đánh vào khoảnh khắc đối phương còn chưa “bước vào trận”, nukitsuke từng bị kẻ ngoài gán cho danh xưng “đòn chém ám sát”.
Nhưng đó là cách hiểu của người chỉ nhìn thấy kết quả, mà không hiểu nguyên tắc.
Trong iaijutsu, nukitsuke không phải hành vi đánh lén, mà là sự kiểm soát thời cơ.
Đó là đòn tấn công khi thế chưa hình thành, khi sát khí còn chưa kịp bộc lộ, một biểu hiện thuần túy của việc đọc tình huống và quyết đoán sinh tồn.
Khi iaijutsu dần được hệ thống hóa trong các lưu phái, nukitsuke không bị loại bỏ hay che giấu, mà được đặt vào vị trí nền tảng.
Nó trở thành bài học đầu tiên:
Rút kiếm đúng cách, chém đúng hướng, kết thúc giao tranh trước khi nó thực sự bắt đầu.
Ngày nay, nukitsuke vẫn tồn tại trong iaijutsu và iaido như một chuẩn mực kỹ thuật, không mang hàm ý tà đạo hay ám sát.
Nó là biểu tượng của một võ học sinh ra từ loạn thế, nơi đạo lý không nằm ở số chiêu đã tung ra, mà ở việc có cần phải tung chiêu hay không.
Iaijutsu, từ đó, trở thành con đường của sự tỉnh táo và tiết chế, kiếm chỉ rút khi không còn lựa chọn nào khác, và khi đã rút, thì mọi do dự đều phải kết thúc trong một nhát.
Minamoto Chisei không bận tâm đến danh tiếng.
Ngay từ ngày đầu cầm kiếm, Tachibana Masamune đã nói với anh:
Kiếm là thứ dính máu.
Kẻ cầm kiếm vốn đã là ác ma.
Nếu vậy, còn sợ gì tiếng xấu?
Anh phải kết thúc trận chiến càng nhanh càng tốt.
Dù có giết sạch kẻ xâm nhập cũng không sao, chỉ cần giữ được bí mật của đại sảnh bích họa, và tranh thủ đủ thời gian để mọi người trong tòa nhà sơ tán.
Minamoto Chisei mất thăng bằng, bị quán tính khổng lồ hất ngã, đập sấp mặt xuống đất.
Một cú ngã cực kỳ mất thể diện, ở Trung Quốc gọi là “chó gặm bùn”.
Anh đã trúng bẫy.
Kẻ mai phục đúng là một thằng khốn.
Một sợi dây được kéo căng ở độ cao khoảng 30 phân so với mặt đất.
Nó không cản áo vest, nhưng đủ để quật ngã Minamoto Chisei.
Bóng đen từ hai bên ập tới.
Bên trái, kẻ địch vung vũ khí dạng kiếm, Minamoto Chisei nghe thấy tiếng kim loại xé gió rít lên.
Bên phải, một kẻ khác xả đạn với tốc độ cao, đạn bắn tóe lửa sát người anh.
Bọn chúng chừa lại một con đường sống.
Chỉ cần anh buông tay đầu hàng thì sẽ không bị thương.
Nhưng nếu cử động, đạn sẽ ghim anh chết tại chỗ.
Kumokiri cắm vào bình phong đối diện, trong khoảnh khắc ngã xuống, thanh kiếm đã tuột khỏi tay anh.
Tay không tấc sắt, Minamoto Chisei chỉ có thể giơ cao hai tay, ra hiệu từ bỏ kháng cự.
Ngay khoảnh khắc cuối cùng, Sở Tử Hàng thu lực, lưỡi kiếm chỉ lướt nhẹ qua gáy Minamoto Chiíei.
Caesar dùng Desert Eagle dí thẳng vào trán anh.
Cả hai đều thở dốc.
Để có thể đánh úp thành công, họ gần như đã dốc cạn toàn bộ sức lực.
Sợi dây làm Minamoto Chisei vấp ngã chính là dây thừng tím quấn quanh bệ thờ, dày bằng bắp tay, buộc voi cũng không đứt.
Sở Tử Hàng đưa tay sờ vào thắt lưng Minamoto Chisei, kiểm tra xem anh còn giấu vũ khí nào không.
Minamoto Chisei lắc đầu, húc thẳng vào họng súng.
Desert Eagle ở khoảng cách 200m cũng đủ bắn vỡ đầu một con nai sừng tấm.
Người thường chỉ cần thấy cỡ nòng phô trương ấy là đã mềm nhũn cả chân.
Nhưng Minamoto Chisei dám dùng đầu mình để va vào nòng súng.
Yagyu Shinkage-ryu · Muto-dori · Ryuto-tsui
Là một trong những võ thuật không tay hiếm hoi của kiếm đạo Nhật Bản.
Dưới tay kiếm thánh Yagyu Sekishūsai Muneyoshi, nó mới thực sự hoàn thiện.
Nghĩa của nó chỉ có một:
Xông thẳng vào lòng đối thủ, tay không đoạt kiếm.
Chính nhờ tuyệt kỹ Muto-dori, Yagyu Sekishusai thường không mang katana theo người, bởi kiếm của ông ở khắp thiên hạ, bất cứ thanh kiếm nào đeo bên hông người khác cũng đều có thể trở thành kiếm của ông.
Caesar đã mắc sai lầm.
Anh đứng quá gần.
Sở Tử Hàng cũng mắc sai lầm.
Anh không nên tin rằng chỉ một khẩu Desert Eagle có thể khống chế được một Hoàng đế.
Nòng súng bị hất lệch.
Minamoto Chisei xoay người bật dậy, giật đứt sợi dây thừng, đưa tay kẹp lấy thanh katana của Sở Tử Hàng chỉ bằng hai ngón tay!
Anh giơ tay qua đầu, dẫn lưỡi kiếm lướt sát vai mình, không một tiếng động, trượt thẳng về phía bình phong.
Đây không chỉ là một tuyệt kỹ.
Nó là biểu hiện tối thượng của một kiếm đạo đã vượt qua hình thức của kiếm.
Yagyu Shinkage-ryu không truy cầu tốc độ,
cũng không dùng khí thế để áp đảo.
Thứ nó theo đuổi là khoảng cách vừa đủ để sinh tử chạm nhau, là thời điểm mà ý niệm ra đòn bị bẻ gãy ngay trong khoảnh khắc hình thành, là tâm cảnh bình thản đến mức đối phương không còn biết mình đang bị săn đuổi.
Khi Muto-dori được triển khai, không có chiêu thức rực rỡ, không có bước chân phô diễn.
Chỉ có một lần tiến thân, thẳng vào nơi mà người thường cho là vùng cấm.
Ở đó, nhịp thở phá vỡ nhịp chém, thân pháp xóa đi khoảng cách, và sát ý được giấu kín đến khi mọi phản ứng đã muộn.
Không có khoảnh khắc giao phong.
Chỉ có kết quả.
Trong sự bình thản ấy không tồn tại nhân nhượng.
Trong đôi tay trần ấy là một thứ bạo lực được kiểm soát đến mức tuyệt đối.
Đó là lý do vì sao Muto-dori được hậu thế kính sợ, không phải vì nó nguy hiểm, mà vì nó không cho đối phương cơ hội để nhận ra mình đã thua.
Và cũng vì thế, kiếm đạo này được truyền tụng bằng một câu duy nhất:
“Kiếm cao nhất, là khi không cần rút kiếm.”
Caesar tay trái cầm Dictator, tay phải cầm Desert Eagle, truy kích Minamoto Chisei
Nhưng Minamoto Chisei xoay quanh anh như một vũ công, nhẹ nhàng như thể được gió nâng lên.
Caesar dốc hết sức vẫn không theo kịp bước chân ấy, chỉ có thể trơ mắt nhìn Minamoto Chisei lướt qua giữa lưỡi dao và làn đạn, như lướt qua những song sắt vô hình.
Chỉ trong vài giây ngắn ngủi, khoảng cách giữa sinh viên đứng đầu khoa chính quy của Học viện và đệ nhất chi nhánh Nhật Bản đã lộ rõ.
Caesar và Sở Tử Hàng liên thủ, vẫn không thể áp chế được vị Hoàng đế này!
Thanh Kumokiri trên bình phong biến mất.
Caesar đảo mắt tìm kiếm, nhưng Minamoto Chisei đã hòa vào bóng tối.
“Kamaitachi” mất hiệu lực.
Caesar chỉ còn nghe thấy hai nhịp tim, của chính mình và của Sở Tử Hàng.
Đại sảnh bích họa dường như chỉ còn hai người sống.
Anh hiểu rõ:
Đó là vì huyết thống của Minamoto Chisei mạnh đến mức có thể đè nén cả nhịp tim.
Nhưng cảm giác thì chẳng khác nào đang đối mặt với một yêu ma có thể hiện hình bất cứ lúc nào, rồi tan vào hư vô trong chớp mắt.
Đây chính là siêu hỗn huyết chủng, trước hắn, mọi quy tắc đều có thể bị phớt lờ.
Sở Tử Hàng bất ngờ xuất thủ, vung kiếm chém thẳng vào yết hầu Caesar.
Caesar lập tức hạ thấp người né tránh.
Họ từng là kẻ địch quá lâu, đến mức đã hình thành sự ăn ý bản năng.
Minamoto vừa hiện thân từ bóng tối.
Kumokiri lặng lẽ rơi xuống sau đầu Caesar.
Kiếm pháp của anh lại đổi.
Tennen Rishin-ryu · Kage-uchi
Đây không phải là một kiếm thế phô diễn kỹ xảo, mà là đòn đánh kết liễu trong khoảnh khắc đối phương lơi lỏng nhất.
Kage-uchi, “đánh trong bóng” lấy thời cơ và khoảng trống tâm lý làm trọng tâm, chứ không lấy sức nặng hay tốc độ thuần túy làm cốt lõi.
Kiếm vận hành kín đáo, không phô trương, thân người giữ ổn định như không hề chuẩn bị xuất thủ.
Lực không bộc phát từ cổ tay hay vai trước, mà ẩn trong tư thế, nhịp thở và sự tĩnh lặng, chỉ đến khi ra tay mới đồng loạt bùng lên trong một nhát duy nhất.
Đòn chém của Kage-uchi thường ngắn, trực tiếp, không báo trước.
Nó không áp bức bằng uy lực liên tục, mà cắt thẳng vào khoảnh khắc đối phương tin rằng mình an toàn, khi ánh mắt chệch đi, khi ý niệm phòng bị vừa tan.
Kage-uchi không có nhiều biến chiêu.
Nhưng mỗi lần xuất thủ đều mang ý đồ kết thúc ngay tại chỗ:
Không cho đối phương cơ hội hiểu rằng mình đã bị tấn công.
Kiếm dài của Sở Tử Hàng chém trúng Kumokiri.
Tóe lửa rực rỡ, làn nhiệt nóng rát ập thẳng vào mặt Minamoto Chisei, thanh kiếm của Sở Tử Hàng vừa được gia nhiệt trong lãnh địa Quân Diễm.
Sở Tử Hàng không thu kiếm.
Cùng tư thế, cùng quỹ đạo, chém ra nhát thứ 2, rồi thứ 3, thứ 3, thứ 5, thứ 6…
Mỗi nhát chém, Kumokiri lại rung lên dữ dội, Minamoto Chisei buộc phải lùi thêm một bước.
Tia lửa của nhát trước còn chưa tắt, tia lửa mới đã bắn ra.
Cuối cùng, tia lửa dày đặc như dệt thành lưới.
Chuỗi liên trảm của Sở Tử Hàng không thể so với Inuyama Gaichi sau khi kích hoạt Sát Na, nhưng lực đạo còn mạnh hơn, mạnh đến mức ngay cả Minamoto Chisei cũng chỉ có thể dựng kiếm phòng thủ liên tục.
Trước khi Minamoto Chisei lao ra khỏi giếng thang máy, Sở Tử Hàng đã kích hoạt huyết thống.
Nhờ kỹ thuật tinh luyện huyết thống của Hội Sư Tâm, anh tạm thời vượt qua ngưỡng giới hạn.
Đối diện siêu hỗn huyết chủng, anh không hề có chắc thắng.
Nhưng Sở Tử Hàng là người, càng không chắc, càng không lùi, mà all-in ngay từ đầu.
Anh sử dụng “Thập Tam Liên Trảm”.
Cùng động tác, cùng góc độ, liên tục chém vào một điểm, ép đối phương phải đối kiếm, xem ai cạn lực trước.
Đây là kiếm thuật mộc mạc:
Chém càng nhiều, càng mạnh.
Tương truyền trong lịch sử, có kiếm sư từng chém liền 13 nhát, 13 đạo lực trong khoảnh khắc dồn vào cùng một điểm, cuối cùng chém gãy vũ khí đối phương.
Vì thế nó còn được gọi là “Đoạn Đao Thập Tam Liên Trảm”.
Nhưng với hỗn huyết chủng, 13 chưa bao giờ là cực hạn.
Sở Tử Hàng từng chém ra 234 liên trảm.
Đến cuối, con số đã mất ý nghĩa, chỉ còn thấy kiếm quang như thủy triều.
Caesar từng chế giễu Thập Tam Liên Trảm của Sở Tử Hàng là “máy chặt cây”, đơn điệu, lặp lại, chẳng có mỹ cảm.
Nhưng giờ đây, cỗ máy chặt cây ấy lại ép một con cự long hình người liên tiếp lùi bước.
Ngay cả Caesar cũng muốn vỗ tay tán thưởng.
Nhưng lời khen còn chưa kịp thốt ra, anh đã thấy Sở Tử Hàng bị đánh bật ngược trở lại.
Chính xác hơn, anh bị một cỗ bạo lực thuần túy cưỡng ép đánh lui.
Sở Tử Hàng loạng choạng ổn định lại thân hình, kiếm trong tay rung dữ dội, gần như không thể khống chế.
Chuỗi liên trảm bị cưỡng ép cắt đứt.
Trong khoảnh khắc trống đó, Minamoto Chisei bước lên, dùng vai húc thẳng vào ngực Sở Tử Hàng.
Tai-atari
Nếu Sở Tử Hàng bị nắm cổ tay, thanh kiếm sẽ lập tức bị đoạt.
Nhưng Sở Tử Hàng dùng bạo lực đã được cường hóa, tay không chộp lấy cổ tay Minamoto Chisei, tung ra “Triền Uyển” trong cầm nã thủ.
Thông thường, cú triền uyển này đủ để làm trật khớp hoặc nứt xương cổ tay đối thủ.
Nhưng lần này, cậu chộp trúng một bàn tay có thể đập vỡ cả thanh đồng!
Cổ tay Minamoto Chisei nổ lách tách, khe xương đột ngột khép chặt.
Sở Tử Hàng không thể lay chuyển nổi.
Bởi vì xương cốt của Hoàng đế hoàn toàn khác loài người.
Minamoto Chisei, giống rồng, có hơn 1.000 khối xương, và khi cần, chúng có thể khép chặt lại thành một thể thống nhất tuyệt đối.
Chiêu Tai-atari mới chỉ thi triển được một nửa, Minamoto Chisei vẫn không thể đoạt lấy thanh kiếm dài của Sở Tử Hàng.
Hắn lập tức vung tay quét ngang, nện thẳng vào ngực Sở Tử Hàng.
Nếu không phải đang trong trạng thái Bộc Huyết, cú đánh ấy chắc chắn đã khiến xương cốt vỡ nát trên diện rộng.
Dù vậy, Sở Tử Hàng vẫn nếm trọn cảm giác giống hệt cái mà Caesar từng trải qua, như thể trái tim bị một cây chuỳ đập thẳng vào.
Trong khoảnh khắc, linh hồn anh dường như bị hất văng khỏi thân xác.
Chút lạc quan cuối cùng cũng tan biến.
Hai người tạo thành thế phòng thủ.
Mồ hôi tuôn ra như vỡ đập, từ trong ra ngoài đều ướt sũng, toàn thân như vừa bị nhấn chìm trong nước.
Hóa ra… Hoàng đế là một tồn tại như thế.
Dù là huyết thống cấp A như Caesar hay Sở Tử Hàng, khi đối đầu với hắn cũng phải căng thần kinh đến mức như dây đàn thép.
Chỉ cần lơi lỏng một nhịp, kết cục chỉ có một chữ:
Chết.
Minamoto Chisei ngậm một điếu Mevius dịu, châm lửa, thong thả phả ra một làn khói xanh.
Một mình hắn đối đầu hai người, vậy mà lại tỏ ra ung dung hơn hẳn.
Kumokiri buông thõng bên người, như thể vừa vận động xong, đang nghỉ ngơi ngắn ngủi.
Khi cổ tay xoay nhẹ, toàn thân xương cốt từ cổ tay tới gan bàn chân vang lên tiếng răng rắc liên hồi.
Bộ khung xương ấy càng lúc càng gần với rồng, đang tự điều chỉnh.
Các khe xương khép lại, lớp cơ và gân không mang tính nhân loại bao phủ bên ngoài, cuộn trào như dòng nước chảy.
Hắn đã hoàn toàn vượt lên trên loài người.
Sakurai Akira hay Sakurai Kogure từng không tiếc hủy hoại cơ thể để cưỡng ép tiến hóa, mong tiến gần hơn tới rồng, giành lấy sức mạnh lớn hơn.
Nhưng bọn họ thậm chí còn không thể so sánh với Minamoto Chisei ở trạng thái bình thường.
Đây chính là thiên phú và đặc quyền của Hoàng đế.
Minamoto Chisei sinh ra đã ở trên cao.
Sở Tử Hàng lặng lẽ điều chỉnh cấp độ Bộc Huyết, từ lần 2 thẳng lên lần 3, đó là cực hạn.
Anh chỉ từng thử lần 4 một lần duy nhất, trong trận chiến với Long Vương Fenrir.
Sau khi bước qua lần 4, anh chẳng khác gì Sakurai Akira khi long hoá, một con quái vật chỉ biết giết chóc theo bản năng khát máu.
Bộc Huyết của Caesar vẫn dừng ở lần 1.
Anh nhắm mắt lại, tập trung lắng nghe.
Trong trạng thái này, thính giác của anh còn nhạy bén hơn cả thị giác.
Ngọn nến trước bệ thờ khẽ rung lên, ánh lửa hắt sáng khuôn mặt của ba người.
Trên đầu Caesar và Sở Tử Hàng đều trùm tất lụa đen, trông chẳng khác nào hai tên cướp ngân hàng ngu ngốc.
Nhưng trước khi chân tướng bị lật mở, giấu mặt vẫn là lựa chọn an toàn nhất.
Caesar còn đặc biệt dùng băng nhám đen quấn khẩu Desert Eagle, dán kín cả huy hiệu Azraep trên cán súng.
Thanh kiếm dài trong tay Sở Tử Hàng là phiên bản “Vô Danh” do bộ phận trang bị chế tạo, đặc điểm lớn nhất của nó là… không có đặc điểm.
Chỉ là một thanh thép trơn tru, mộc mạc đến tột cùng.
Đám thần kinh của bộ trang bị có thẩm mỹ phân cực nặng nề:
Hoặc là quân dụng đơn giản nhưng chết người, hoặc là phong cách anime quái dị.
Bọn họ từng đề xuất cho Caesar một chiếc khiên tròn liền khối, sơn đỏ xanh, nhà thiết kế còn hớn hở khen hiệu năng hoàn mỹ, ý tưởng độc đáo, một tay cầm khiên, một tay cầm Desert Eagle bắn, xác suất trúng đạn giảm tới 76%…
Caesar chỉ đáp:
“Thôi đi, tôi cũng đọc truyện tranh. Người các cậu nói đến gọi là Captain America.”
Mồ hôi theo lớp lót áo choàng nhỏ xuống nền đất từng giọt.
Minamoto Chisei rít thuốc, ánh mắt lạnh lùng nhìn chằm chằm vào họ.
“Các người vẫn còn sống, rất tốt.”
Hắn nói.
Caesar và Sở Tử Hàng liếc nhau thật nhanh, không ai mở miệng.
Không rõ Minamoto Chisei đã nhận ra thân phận họ hay chỉ đang dò xét, lúc này lên tiếng chỉ là tự chui đầu vào rọ.
“Cải trang của các người kém lắm,” Minamoto Chisei lạnh nhạt nói, “không bàn những thứ khác, thứ thực sự bán đứng các người là mùi xì gà Cohiba Siglo, hàng thượng phẩm. Lại gặp nhau rồi, Caesar Gattuso.”
“Hiểu rồi,” Caesar cười, xé toạc chiếc tất trên mặt,
“Ở cái đất nước đàn ông toàn hút thuốc đàn bà này, thi thoảng xuất hiện một gã hút xì gà đích thực thì đúng là quá nổi bật.”
Nụ cười của anh có chút bất lực.
Anh thật sự không ngờ lại mắc lỗi ở chi tiết nhỏ nhặt như vậy.
Sau mỗi tuần kết thúc buổi làm ở Takamagahara, các trai bao đều được chia tiền, có tiền là anh nhờ phục vụ mua Macallan và Cohiba.
Chuyện hưởng thụ, anh chưa bao giờ chịu thiệt.
“Buông vũ khí chịu trói,” Minamoto Chisei chậm rãi tiến lên, “hay chờ tôi đánh ngã các người? Nếu động thủ, tôi không đảm bảo được an toàn tính mạng.”
“Hình như anh chưa bao giờ đảm bảo an toàn cho bọn tôi,” Caesar cười nhạt.
“Tuần trước tôi còn phải bơi từ đáy rãnh Nhật Bản lên. Lẽ ra anh là hậu thuẫn, vậy mà anh ném cả ba chúng tôi xuống đáy biển sâu 8.000m. Giờ chúng tôi còn xem được mấy bức bích họa kia, anh đang tính đúc chúng tôi vào cột bê tông rồi dìm xuống biển, đúng không?”
Anh rút khẩu Desert Eagle thứ hai, hai nòng súng chĩa thẳng vào Minamoto Chisei.
“Mặc kệ anh là Hoàng đế hay quái vật gì, phạm sai lầm thì phải trả giá. Gia huấn nhà tôi nói rằng:
Nếu trên đời có kẻ phạm sai mà không bị trừng phạt, vậy thì ai còn tin Thượng Đế nữa?”
“Đúng,” Minamoto Chisei nói chậm rãi từng chữ,
“tôi đã phạm rất nhiều sai lầm. Tôi cũng từng nghĩ, sớm muộn gì mình sẽ bị trừng phạt vì chúng… nhưng rất tiếc, lúc này tôi buộc phải tiếp tục sai lầm.”
“Niềm tin hay lập trường, chúng ta không thể thuyết phục nhau. Vậy thì chỉ còn cách cuối cùng.”
Cuộc đàm phán sụp đổ chỉ trong vài câu.
Nền tảng của niềm tin từ lâu đã không còn, không ai tin ai.
Minamoto Chisei xoay cổ tay, lưỡi Kumokiri phản chiếu ánh lạnh không ngừng.
Hắn từng bước áp sát, không ngừng rút ngắn khoảng cách.
Chỉ cần vượt qua giới hạn an toàn, hắn sẽ bùng nổ tốc độ, thắng bại có thể phân định chỉ trong một khoảnh khắc.
—-
Lộ Minh Phi lảo đảo bước ra khỏi thang máy.
Vừa rồi đúng là họa trung hữu phúc.
Thang máy rơi thẳng không hề bị cản, như muốn kéo cậu xuống địa ngục.
Nhưng rồi phanh hỏng đột nhiên khôi phục, thang máy gào lên chói tai khi giảm tốc.
Lộ Minh Phi vừa trải nghiệm cảm giác chim bay, ngay sau đó là lực quá tải, cả người bị đập dẹp vào thùng hồ sơ, như bánh kếp bị ép phẳng trên chảo sắt.
Khi thang máy dừng lại, cậu rất muốn ca ngợi một vị thần hay đấng sáng thế nào đó đã kéo mình một phen.
Nhưng nghĩ lại, cậu chẳng có tín ngưỡng, mồm miệng bậy bạ, mỗi ngày tạo đủ thứ khẩu nghiệp, chắc Chúa với Phật cũng chẳng buồn cứu.
Cậu rút một thanh sắt từ thùng, từ từ cạy cửa thang máy.
Thang vừa khéo dừng ở tầng 14.
Đây chính là sảnh tổng đài mà cậu từng tham quan, không có đám cán bộ chấp hành đầy sát khí, mà toàn là những cô gái trẻ xinh xắn, kính áp tròng, nơ bướm, đồng phục, giày cao gót, thiên đường đúng nghĩa.
Lúc trước chính Lộ Minh Phi đã đề nghị tấn công nơi này trước, để cho Bát Gia Jaki nếm mùi “hoa khôi bị phản công”.
Nhưng giờ thì… tất cả đã loạn.
Các cô gái hoảng loạn chạy tán loạn, giày cao gót văng khắp nơi, thậm chí có “chị đại” cầm rìu cứu hỏa điên cuồng đập cửa lối thoát hiểm.
Quỷ tha ma bắt!
Đây rõ ràng là địa ngục của mấy bà điên, thiên đường cái quái gì!
Lúc này Lộ Minh Phi mới nhớ ra, động đất vẫn chưa kết thúc, và lối thoát tầng này… hình như đã bị khóa chết.
Một gã mặc đồng phục màu vàng bất ngờ xuất hiện trước mặt cậu, giọng đều đều:
“Ricardo M. Lu?”
Lộ Minh Phi theo phản xạ đáp một tiếng, nhưng ngay khoảnh khắc sau đã kịp nhận ra, chết tiệt!
Cậu vẫn đang ở trong Tập đoàn Genji!
Ở cái nơi này mà bị gọi trúng tên thật, chẳng khác nào tự khai mình bị lộ thân phận!
Cậu vội định rút ra khẩu súng sau lưng, nhưng không ngờ khóa nòng bị mắc kẹt vào dây thắt lưng, kéo hai lần đều không ra, ngược lại dây lưng bị giật lỏng, suýt nữa thì… tụt quần.
“Bưu kiện của ngài.”
Đối phương nhét một chiếc hộp nhỏ vào tay cậu, tiện thể đưa thêm cây bút, “Phiền ngài ký nhận tại đây.”
Lúc này Lộ Minh Phi mới nhìn rõ, trên đồng phục của đối phương in ba chữ DHL.
Tên thần kinh xuất hiện như phép thuật này… hóa ra là nhân viên giao hàng!
Gương mặt Lộ Minh Phi trông như vừa thấy ma.
Cậu kiểm tra đi kiểm tra lại tên trên kiện hàng, Ricardo M. Lu, địa chỉ đúng là tầng 14, Tập đoàn Genji.
Nhưng vấn đề là… cậu có phải nhân viên ở đây đâu?
Cậu bị thang máy rơi loạn mà lạc xuống tầng này đấy chứ!
“Làm sao anh biết tôi ở đây?”
Lộ Minh Phi nhìn chằm chằm anh giao hàng, tay vẫn đặt sau lưng, nắm chặt cán súng.
“À, người gửi có gọi điện dặn trước,” chàng trai DHL nói rất thành thật.
“Nói rằng ngài sẽ đến nhận hàng ở khu vực thang máy tầng 14. Ban đầu tôi tưởng là đùa. Mấy bưu kiện khác đều giao ở quầy lễ tân các tầng, đứng chờ trước cửa thang máy thế này trông cứ như… tiếp đầu mối vậy.”
“Loạn thế này rồi mà anh vẫn còn tâm trạng đi giao hàng à?”
Lộ Minh Phi vẫn không hoàn toàn tin.
“Tôi cũng muốn tìm chỗ trốn lắm, nhưng lối thoát hiểm không mở được,” chàng trai đáp, thể hiện trọn vẹn tinh thần tuân lệnh, chấp hành kiểu mẫu của người Nhật.
“Thôi thì cứ làm đúng quy trình, chờ cứu hộ vậy. Ngài mới là người bình tĩnh thật đấy, tình hình thế này mà vẫn đúng hẹn tới nhận bưu kiện. Nếu ai cũng như ngài thì đã không loạn cả lên rồi.”
Được người ta khen tận miệng như thế, Lộ Minh Phi cũng ngại không dám thể hiện bộ dạng chạy bán sống bán chết của mình.
Cậu cố làm ra vẻ điềm tĩnh, ký nhận lên phiếu.
Nhân viên giao hàng đối chiếu chữ ký:
“Vậy là xong rồi. Công việc của tôi hoàn tất. Tôi đi tìm chỗ an toàn trốn đây. Cảm ơn ngài đã sử dụng dịch vụ. DHL, xuất sắc. Giao trọn vẹn.”
Tên ngốc này còn ngân nga đúng nguyên câu quảng cáo, cúi gập người thật sâu.
Lộ Minh Phi cũng cúi chào đáp lễ.
Sau đó… anh chàng giao hàng biến mất.
Đám con gái chạy “ào ào” tới, lại “ào ào” chạy đi.
Lộ Minh Phi bị mấy thân hình khi thì đầy đặn khi thì thon thả đâm sầm vào người, choáng đến mức hoa mắt chóng mặt.
“Mẹ cái thằng Lộ Minh Trạch, mày đúng là biết chơi thật đấy!”
Lộ Minh Phi tìm được một chỗ trống trong trung tâm tổng đài, ngồi phịch xuống, tiện tay chộp lấy thanh sô-cô-la bị cô gái nào đó gặm dở, cắn một miếng, rồi mò trong hộp bút ra cây kéo, nghiến răng xé bưu kiện.
Ngay cả học viện cũng không liên lạc được với họ, vậy mà lại có người ung dung viết phiếu gửi, trong một thời điểm không thể tưởng tượng, gửi đến một địa điểm không thể tưởng tượng, nhưng cuối cùng lại vừa khéo rơi đúng vào tay cậu.
Chuyện kiểu này trong thế giới thực vốn không nên tồn tại.
Nhưng nếu là ác ma… thì có lẽ được.
Bọn họ, có khi thật sự giống như thần, muốn gì làm nấy.
Bên trong bưu kiện là một chiếc iPhone màu đen.
Mỗi lần Apple ra máy mới, Lộ Minh Phi đều nhận được một bưu kiện vô danh, bên trong là chiếc iPhone đời mới nhất, món quà của Lộ Minh Trạch.
Từ chiếc iPhone đầu tiên cho đến nay, thằng nhóc đó luôn kịp thời gửi tới tay cậu thứ đồ công nghệ thời thượng nhất.
Nếu Lộ Minh Phi vô tình làm hỏng hoặc làm mất máy, vài ngày sau chắc chắn sẽ có một chiếc mới tinh được gửi tới, từ danh bạ đến hình nền đều giống hệt chiếc cũ.
Chiếc iPhone trước đó bị cậu mang lên tàu Trieste rồi ngấm nước hỏng hoàn toàn, không ngờ chính sách bảo hành đổi mới nâng cấp trọn đời của Lộ Minh Trạch ở Nhật Bản vẫn còn hiệu lực.
Màn hình khởi động vẫn là quả táo quen thuộc.
Chỉ có một tin WeChat chưa đọc, số người gửi không hiển thị.
Trong tin nhắn là một bức ảnh:
Một đoàn tàu cổ màu xanh biển chạy dọc theo con sông cuồn cuộn, phía xa là núi tuyết trùng điệp chìm trong mây trắng.
Lộ Minh Phi chưa từng đến nơi đó, nhưng cậu biết rất rõ:
Con tàu ấy tên là VistaDome, dòng sông là Urubamba, dãy núi là Andes.
Tất cả đều thuộc về Nam Mỹ xa xôi, chuyến tàu ngắm cảnh xa hoa chạy từ thị trấn Cusco đến Machu Picchu.
Lộ Minh Trạch từng nói đó là kế hoạch nghỉ dưỡng của nó.
Bức ảnh rõ ràng là chụp qua cửa sổ toa tàu.
Trong ánh phản chiếu trên kính, lờ mờ thấy tiểu ác ma đang ôm một đại mỹ nhân hoàn toàn không tương xứng với tuổi tác của nó, tóc đỏ yêu kiều, váy xanh biển dài tới gối, tất đen, đôi chân dài miên man… chuẩn siêu mẫu cấp S.
Chính xác mà nói, là nó đang ngồi trên đùi cô ấy.
Vì… nó thấp hơn người đẹp.
“Con cụ,” Lộ Minh Phi nghiến răng gõ WeChat,
“Đây là mẹ nuôi mới nhận của cậu à?”
“Ghen tị lắm đúng không?”
Lộ Minh Trạch trả lời ngay lập tức.
“Ở Nhật có mỹ nhân cấp này không? Hay chỉ toàn mấy bà béo chân vòng kiềng thôi? Oa ha ha ha ha!”
“Vậy là cậu đang ở Nam Mỹ thật à?”
“Tất nhiên rồi! Em đây đang ở Machu Picchu cho lạc đà alpaca ăn. Alpaca là bạn tốt của loài người, vì ăn rất ngon.”
“Thằng cầm thú! Anh mày đang mắc kẹt ở Nhật, nước sôi lửa bỏng đây này! Có chiêu cứu mạng gì thì gửi ngay cho anh! Nhưng nói trước cho rõ, anh đây đếch giao dịch với cu em, anh còn muốn giữ lại nửa cái mạng, sống đến ngày hoàn thành 4 hiện đại hoá đấy!”
“Dễ nói thôi! Anh trai có lý tưởng cao đẹp vì nước vì dân thế này, em làm sao dám không cố gắng? Ngày mai em xây xong luôn 4 hiện đại hóa cho anh nhé! Mà xây xong rồi thì… anh đi chết được chưa?”
“Cút con mẹ mày đi! Nói chuyện nghiêm túc!”
“Chuyện nghiêm túc cũng có đấy. Em thấy cô gái này tâm hồn đồng điệu với em, vòng một cũng khá hoành tráng, đúng kiểu bạn đời định mệnh. Em đang cân nhắc cầu hôn cô ấy đây. Anh trai có đến địa ngục dự đám cưới em không?”
“NÓI! CHUYỆN! NGHIÊM! TÚC!”
“Lâu ngày không gặp trêu nhau tí cho vui mà… nói chuyện chính sự chán chết cha. Thôi được rồi. Tình hình của anh rất tệ. Caesar và Sở Tử Hàng đã nhìn thấy thứ không nên thấy trong tầng bích họa. Vì bắt các anh, toàn bộ Tập đoàn Genji đã bị phong tỏa. Tất cả lối thoát hiểm đều do Kaguya-hime kiểm soát, người thường đừng mơ mở được, phá hoại bằng bạo lực cũng rất khó. Cho nên em đã lưu chìa khóa điện tử vào chiếc điện thoại này rồi. Anh có thể quẹt mở bất kỳ cánh cửa nào trong tòa nhà.”
“Cậu tốt với tôi vậy sao?”
Lộ Minh Phi không dám tin.
“Đi nhanh đi anh trai. Động đất thật sự còn chưa bắt đầu đâu, thứ anh vừa cảm nhận chỉ là màn dạo đầu thôi. Người có lòng nhân ái như anh chắc không muốn nhìn mấy cô gái vô tội chết trong trận động đất chứ?”
Lộ Minh Phi bật dậy, chen qua đám cô gái mồ hôi nhễ nhại lao tới cửa an toàn.
Quả nhiên trong điện thoại xuất hiện thêm một ứng dụng tên “Chìa khóa điện tử”.
Vừa mở ra, màn hình hiện lên những hoa văn phức tạp không ngừng biến đổi.
Cậu quét điện thoại trước máy đọc.
“Bíp.”
Đèn đỏ chuyển sang xanh, cửa an toàn ầm ầm mở ra.
Các cô gái nhìn Lộ Minh Phi bằng ánh mắt nhìn anh hùng.
Trong mắt họ, chuyện này đơn giản lắm:
Hệ thống kiểm soát cửa của tòa nhà gặp trục trặc, cấp trên đặc biệt phái tới một cán bộ trẻ tuổi, anh tuấn (à mà “anh tuấn” là khái niệm khá mơ hồ, tạm không bàn) của Cục Chấp hành, tự tay mở cửa!
Anh ta đã cứu cả tầng này!
Trước khi vào lối thoát hiểm, các cô gái lần lượt hôn lên má Lộ Minh Phi.
Cả đời cậu chưa từng gặp vận đào hoa kiểu này, bị hàng trăm khuôn mặt xinh đẹp vây quanh, vui đến mức đần mặt ra.
Tầng này nhanh chóng được sơ tán.
Lộ Minh Phi trà trộn theo dòng người xuống dưới.
Khi chạy tới tầng ba, phía dưới truyền lên tiếng ồn ào náo loạn.
Lộ Minh Phi thò đầu nhìn xuống, sắc mặt lập tức thay đổi.
Dòng người bị chặn lại ở tầng trệt.
Cục Chấp hành đã khống chế cửa ra.
Các cán bộ lớn tiếng quát ngăn các cô gái, có người gọi điện xin chỉ thị cấp trên, số khác đang kiểm tra thẻ ra vào, trên thẻ có in ảnh chân dung.
Nhìn thế này thì dù cửa tầng trệt có mở, cũng phải xác minh thân phận mới được thả người.
Trong tình huống này, cho dù Lộ Minh Phi có gương mặt đại trà đến mấy cũng không thể lẫn qua.
Người từ tầng 14 xuống toàn là nữ, còn cậu, “cán bộ trẻ tuổi anh tuấn” mà lẫn trong đó, không bị lôi ra kiểm tra đi kiểm tra lại mới là lạ.
“Ngoài chìa khóa điện tử ra còn bảo bối nào khác không? Em Trạch ơi, mau lấy ra đi! Cửa có người của Cục Chấp hành!”
“Thử mở bản đồ xem, biết đâu còn lối khác. Em nâng cấp điện thoại cho anh rồi đó nha, hê hê hê hê.”
Lộ Minh Phi mở bản đồ trong điện thoại.
Giao diện quả nhiên khác hẳn bình thường.
Sơ đồ cấu trúc Tập đoàn Genji hiện lên trên màn hình.
Toàn bộ tòa nhà trong suốt, được vẽ bằng các đường xanh đậm và xanh nhạt.
Dù là tầng 22 đặt máy chủ Kaguya-hime, hay tầng bí mật lưu trữ bích họa, tất cả đều hiển hiện rõ ràng.
Những điểm sáng màu đỏ nhấp nháy khắp tòa nhà, mỗi tầng ít thì vài điểm, nhiều thì mấy chục.
Dày đặc nhất chính là khu vực lối đi mà Lộ Minh Phi đang đứng.
Cậu lập tức hiểu ra:
Mỗi điểm sáng là một người.
Từ tầng 20 trở lên là khu văn phòng cao tầng của gia tộc, hai chi nhánh Kanto, Kansai, Cục Chấp hành, Sở Nghiên cứu Ganryu, Sở Kiến Tạp Maruyama, đám liều mạng này chẳng vội sơ tán chút nào.
Trong phòng điều khiển tầng 22, các kỹ thuật viên vẫn bình tĩnh làm việc.
Dưới tầng 20 là khu văn phòng thường.
Nhân viên các công ty trực thuộc Bát Gia Jaki tăng ca ban đêm chạy loạn như ong vỡ tổ, rõ ràng nỗi sợ đã áp đảo kỷ luật.
Ngoài ra còn có một số điểm sáng màu vàng rực, tập trung ở khu vực trung tâm tòa nhà.
Lộ Minh Phi chưa hiểu chúng đại diện cho thứ gì.
Cậu phải tìm con đường ít người nhất.
Không thể phân biệt điểm đỏ nào là nhân viên thường, điểm nào là cán bộ Cục Chấp hành.
Gặp phải cán bộ, bị yêu cầu kiểm tra thẻ là toi đời.
Nhưng mỗi tầng đều có người, tòa nhà chọc trời này chẳng khác nào một thành phố.
Lộ Minh Phi lo lắng lướt màn hình tìm đường, trong khi người của Cục Chấp hành đang đi ngược dòng lên trên.
Bỗng cậu phát hiện:
Tỏng tòa nhà có một tầng gần như không có ai.
Tầng đó không có số, mà được đánh dấu bằng một chữ cái Hy Lạp — “ξ”.
Chữ này đọc là xi, trong toán học thường dùng để chỉ một biến ngẫu nhiên, thứ gì đó không xác định.
Một đường đỏ mảnh xuất hiện trong sơ đồ, nối từ vị trí của Lộ Minh Phi đến tầng “ξ”.
Chương trình đã bị Lộ Minh Trạch chỉnh sửa này đang chỉ dẫn lối thoát mạng cho cậu.
Người của Cục Chấp hành đã ở rất gần.
Lộ Minh Phi không còn lựa chọn nào khác.
Cậu lặng lẽ rời khỏi dòng người, rẽ vào một nhánh phụ rồi chạy nước rút.
Sau khi vòng vèo qua những cầu thang ngoằn ngoèo, cậu tìm thấy một cánh cửa an toàn…
Một cánh cửa bạc trắng, không có bất kỳ ký hiệu nào.
Cậu áp điện thoại vào máy đọc thẻ.
“Xác thực thành công. Cho phép vào tầng Xi.
Chào mừng trở lại, chuyên viên Cục Chấp hành Ricardo M. Lu.”
Giọng nữ máy móc vang lên, cánh cửa bạc ầm ầm mở ra.
Hilbert Jean Anjou nâng ly Hennessy Richard màu hổ phách, nghiêng đầu nhìn cơn bão đang gào thét ngoài khung cửa sổ.
Những con rắn điện uốn lượn trong tầng mây đen kịt, bầu trời như bị xé toạc.
Tokyo run rẩy như một gã khổng lồ sợ hãi thiên phạt, từng đợt sóng chấn động dồn dập tràn tới.
Ngồi đối diện ông là một quản lý của Mitsui Fudosan.
Trên gương mặt người đàn ông ấy hiện rõ vẻ bất an.
Dù loại địa chấn này chưa đủ sức làm sập tòa cao ốc kiên cố của Mitsui, nhưng lẽ ra họ đã nên tìm nơi trú ẩn.
Thế nhưng Anjou lại thản nhiên thưởng thức đêm bão tố và động đất đan xen ấy, khiến vị quản lý cũng không tiện mở lời tiễn khách.
Dẫu sao thì đây cũng là vị khách đã chi ra hàng triệu yên để ủy thác.
Tiền trao, hàng giao, chỉ cần kiên nhẫn thêm vài phút nữa là ông ta sẽ nhận đủ 2 triệu yên còn lại.
“Ở Tokyo, động đất cỡ này nhiều không?”
Anjou hỏi, giọng nhàn nhạt.
“À… cũng thường thôi ạ.”
Vị quản lý nở nụ cười xã giao.
“Nhìn thì đáng sợ thật, nhưng nhà cửa ở Tokyo đều có cấp chống chấn rất cao. Chỉ mấy căn nhà cũ kỹ, bỏ hoang lâu năm mới dễ gặp vấn đề.”
Đã là khách đến Mitsui Fudosan với ý định mua bất động sản ở Tokyo, thì chẳng có người quản lý địa ốc nào lại đi nói rằng:
Ở đây bão với sóng thần là chuyện cơm bữa, lâu lâu lại rung chuyển vài lần, nếu ông định sống ở đây thì nhớ mua bảo hiểm nhân thọ, tiện thể ký luôn giấy hiến xác…
Dù sao thì mấy năm gần đây Tokyo quả thật động đất hơi nhiều, đến mức chính ông ta cũng bắt đầu cân nhắc đổi sang một thành phố an toàn hơn để làm việc.
“Nghe nói khu đất đó toàn là nhà cũ?”
Anjou hỏi tiếp.
“Đúng vậy, đúng vậy! Đều là nhà xây trước Thế chiến II, phần lớn đã bỏ trống. Đất tốt như thế mà để hoang thì quá lãng phí. Đó là khu học viện, từng tấc đất đều quý như vàng. Nếu ngài mua mảnh đất ấy, chắc chắn sẽ tiến hành khai thác quy mô lớn, chỉ cần dỡ bỏ mấy căn nhà cũ là xong. Quyền sở hữu rất rõ ràng, chính quyền thành phố cũng sẽ hết sức ủng hộ việc giải tỏa.”
Ông ta thao thao bất tuyệt tô vẽ giá trị khu đất.
“Thật ra, loại đất nằm giữa khu trung tâm mà chưa từng thương mại hóa thế này hiếm lắm rồi. Không có sự chỉ dẫn của ngài, đến cả chúng tôi cũng không tìm ra.”
“Mỗi thành phố,” Anjou chậm rãi nói, “đều có những nơi chôn giấu bí mật. Giống như mộ phần vậy, tốt nhất là đừng tùy tiện đào bới.”
Ông lấy từ cặp tay ra một phong bì đựng 2 triệu yên tiền mặt.
“Giờ thì có thể cho tôi xem tờ chứng nhận rồi chứ?”
Vị quản lý nhận tiền, hai tay cung kính đặt phong bì giấy dầu trước mặt Anjou.
“Thật xin lỗi vì đã làm ngài mất nhiều thời gian. Tờ chứng nhận này được cất trong két bảo hiểm của ngân hàng Mitsubishi, lại là tài sản có giá trị cực lớn. Với mối quan hệ của Mitsui, chúng tôi cũng phải rất vất vả mới tiếp cận được. Nhưng tôi phải nói thật, chủ nhân mảnh đất ấy không hề có ý định bán. Nếu ngài thực sự muốn mua, chúng tôi sẽ phải đến tận nơi thuyết phục. Giá… e là không dưới 1,2 tỷ USD, chưa kể 3% phí môi giới của chúng tôi…”
Anjou rút tờ chứng nhận mỏng tang ra liếc qua.
Giấy dày làm từ vỏ cây dâu, đã ngả vàng, giòn mục theo năm tháng.
Trên đó dùng mực vẽ ranh giới khu đất, ghi tên người sở hữu.
Thời gian ký lập là năm Chiêu Hòa thứ 14, khoảng 70 năm trước.
“Ranh giới đất được xác định theo các mốc cũ,” vị quản lý giải thích, vừa nói vừa vẽ lên bản đồ Tokyo.
“Giờ mấy mốc ấy đều đã bị tháo dỡ. Khu đất nằm phía sau Đại học Tokyo, là một con phố dài và hẹp. Hồi đó trên phố có một ngôi đền, tên là Kokuten Jinja, nay đã cải thành nhà thờ. Tôi đã cho người tới xem chiều nay, chỉ là một giáo đường nhỏ, cũ kỹ, chắc chắn sẽ không ảnh hưởng gì đến việc giải tỏa của ngài.”
Anjou cho tờ chứng nhận trở lại phong bì, đẩy trả về phía đối diện.
“Tờ chứng nhận trị giá 1,2 tỷ USD này không nên để lại chỗ tôi. Cất lại vào két của ngân hàng Mitsubishi đi. Giao dịch của chúng ta kết thúc ở đây.”
“Ngài… ngài không hứng thú với mảnh đất đó sao?”
Vị quản lý sững sờ.
Ông ta đã nghĩ rằng bước tiếp theo sẽ là thương lượng mua bán, và khoản hoa hồng lớn hơn nữa đang chờ đợi.
“Không.”
Anjou nói.
“Tôi đã nói rồi, mỗi thành phố đều có những nơi như mộ phần. Tôi chẳng hứng thú gì với việc mua mộ cả.”
“Tôi chỉ muốn biết… mộ nằm ở đâu.”
“Chủ nhân của ngôi mộ ấy, hay nói cách khác, người đứng tên mảnh đất đó, là một người bạn cũ của tôi. Tôi phải đi xem thử… ông ta đã chết chưa.”
Anjou uống cạn ly rượu, đặt xuống bàn.
“Đêm nay là một đêm rất thích hợp để thăm bạn cũ, một đêm bão tố, động đất chồng chéo.”
“Thưa ngài! Động đất thế này tốt nhất nên tránh hiểm họa! Huống chi… huống chi ngài còn uống rượu nữa!”
Vị quản lý hoảng hốt.
“Đêm như thế này,” Anjou liếc nhìn thành phố chìm trong mưa dữ, tòa nhà lại rung lên, “chắc cũng chẳng ai đi kiểm tra nồng độ cồn đâu. Vả lại… thời gian của tôi không còn nhiều.”
—-
Caesar liên tục siết cò.
Sáu viên đạn rời nòng trong vòng 0,2 giây, quỹ đạo đan chéo thành hai hình quạt lửa.
Sáu luồng hỏa diễm từ họng súng lơ lửng giữa không trung, trước mặt anh như bỗng mở ra hai chiếc quạt gấp bằng lửa.
Minamoto Chisei đột ngột “sụp xuống”!
Anh lướt qua ngay bên dưới quạt lửa!
Ánh thép lạnh của Kumokiri bùng lên từ dưới lên trên, nhắm thẳng cằm Caesar.
Sở Tử Hàng đỡ bằng kiếm.
Hai khẩu súng của Caesar bật khỏi tay, rơi xuống đất.
Anh rút Dictator.
Kỵ binh trảm tay của Caesar.
Thập tam liên trảm của Sở Tử Hàng.
Tennen Rishin-ryu · Gyaku-kesa-giri của Minamoto Chisei.
Trong khoảnh khắc đủ cho người thường chớp mắt, ba món binh khí đã va chạm nhau không biết bao nhiêu lần.
Từng chùm, từng chùm tia lửa nổ tung giữa ánh đao kiếm chằng chịt.
Ba người đổi vị trí với tốc độ cao, lưỡi đao trong cơn vung chém dồn dập hóa thành những bóng mờ liên tiếp.
Caesar vận dụng đoản đao thuật của sát thủ, một loại kỹ pháp được sáng tạo riêng để đối phó kỵ binh.
Môn đao này vốn được sát thủ học được từ những tư liệu cổ truyền lại từ đế quốc Quý Sương, sinh ra trên chiến trường nơi bộ binh yếu thế hoàn toàn trước thương dài và đại kiếm của kỵ sĩ.
Trong tay họ là những đoản đao chỉ dài hơn một thước, nhỏ gọn nhưng sắc bén, dùng để nghênh chiến với binh khí vượt trội về tầm với.
Tinh túy của môn đao ấy không nằm ở sức mạnh, mà ở né nghiêng thân.
Không đối kháng chính diện.
Sát thủ lách người khỏi trục xung phong của chiến mã, để thân thể nghiêng lệch trong khoảnh khắc ngắn ngủi như một nhịp thở.
Ngay trong giây phút nghiêng người ấy, đoản đao vung lên theo quỹ đạo ngắn và thấp, cắt thẳng vào động mạch cổ hoặc gân trước của chiến mã, khiến nó lập tức mất sức và ngã quỵ.
Dựa vào kỹ xảo “tấc tay”, cự ly cực gần, xuất đao nhanh gọn, lực phát sinh từ hông và vai, sát thủ lao thẳng vào đội hình kỵ binh.
Thân ảnh họ xé gió xuyên qua làn vó ngựa, với tốc độ kinh người liên tiếp chặt đứt sinh mạch của từng con ngựa, phá vỡ thế xung phong như mũi tên xé toạc làn sóng thép.
Khi đội hình kỵ binh rối loạn, sát thủ mới áp sát mục tiêu cuối cùng.
Một nhát đao kết liễu tướng chỉ huy, để lại trong lịch sử ám sát cổ đại những trang bi tráng nhất.
Sở Tử Hàng và Minamoto Chisei cũng đều tung ra kiếm pháp sở trường của mình.
Minamoto Chisei là người đầu tiên trong Tennen Rishin-ryu đạt được danh hiệu “menkyo kaiden”.
Lưu phái này đề cao bộ pháp và dáng kiếm chuẩn xác, nhìn thì mỹ lệ nhưng tuyệt đối không nhằm phô diễn.
Mỗi bước chân đều là để chiếm lĩnh vị trí sinh tử, mỗi nhát chém đều hướng tới kết liễu đối phương.
Kumokiri trong lúc chém liền đảo lưỡi, vẽ nên một đường cong quỷ dị mà không một kiếm pháp nào tương đồng.
Tinh túy của “Gyaku-kesa-giri” nằm ở chữ nghịch.
Trên thân Kumokiri dường như quấn lấy một dải lụa vô hình.
Minamoto Chisei đang từng lớp, từng lớp quấn dải lụa ấy quanh lưỡi kiếm, cổ tay chuyển động linh hoạt mà uyển chuyển.
Khác với “Kesa-giri” trứ danh, càng đánh càng nhanh, như lụa bị kéo căng đến cực hạn, thì Gyaku-kesa-giri lại giống như đang dần chậm lại, thư giãn hơn… nhưng sức mạnh bám trên kiếm thì tăng lên gấp bội.
Cuộc đối trảm kết thúc trong chưa đầy 10 giây.
Bắt đầu và chấm dứt đều đột ngột đến cực đoan, từ cực động sang cực tĩnh, hoàn toàn không có quá độ.
Ba người đồng loạt tách ra, vẫn giữ tư thế phòng thủ, tựa như ba pho tượng.
Nếu có người đứng xem, hẳn sẽ sinh ra ảo giác rằng… họ vốn chưa từng động đậy.
Một giọt máu trượt dọc theo thân kiếm yêu dị của Kumokiri, rơi xuống nền đất.
Caesar cúi đầu nhìn ngực mình.
Trên chiếc sơ mi trắng như tuyết, một vệt đỏ đang chậm rãi lan ra.
Anh bị thương bởi chiêu cuối của Gyaku-kesa-giri.
Một nhát bung ra dứt khoát, tựa như cả một bức tường ập thẳng tới trước mặt.
Sát khí đậm đặc đến mức khiến người ta nghẹt thở.
Minamoto Chisei không hề nương tay.
Bị Caesar và Sở Tử Hàng giáp công, hắn cũng không có tư cách nương tay.
Caesar và Sở Tử Hàng càng không.
Ống tay áo của Minamoto Chisei chậm rãi rách toạc, nhát dao của Caesar suýt nữa đã chém đút động mạch cổ tay hắn.
“Cả hai đều dùng kiếm Nhật,” Caesar thấp giọng nói, “nhưng kiếm thuật của hắn hoàn toàn khác cậu. Tôi không thể dự đoán được hướng tấn công.”
“Tennen Rishin-ryu, kiếm phái thực chiến trỗi dậy vào cuối thời Edo, lấy sát phạt làm cốt lõi.”
Sở Tử Hàng hít sâu một hơi.
“Hắn là Hoàng đế do Bát Gia Jaki dốc sức bồi dưỡng, hẳn là theo các kiếm đạo đại sư tu luyện cổ lưu dám vứt bỏ mọi thứ không giết được người. Tôi thì không có thầy kiếm cấp cao như vậy.”
“Thế cậu theo phái nào?”
“Không phái. Tôi học ở lớp kiếm đạo trong trường cấp 2. Học phí 3.600, tổng cộng 36 buổi học. Tôi chỉ từng học đúng 36 buổi đó, thời gian còn lại đều là tự luyện.”
Sở Tử Hàng giơ kiếm lên quá đỉnh đầu, bày ra thế ‘Seigan’ tiêu chuẩn của kiếm đạo Nhật Bản.
“Chết tiệt!” Caesar trố mắt.
“Tôi luôn nghĩ kiếm Nhật của cậu rất chính thống! Tôi còn tưởng nghiên cứu thấu cậu là hiểu được kiếm Nhật rồi!”
“Xin lỗi đã khiến anh hiểu lầm,” Sở Tử Hàng bình thản nói.
“Nhưng tôi chưa từng nói mình học kiếm Nhật. Tôi chỉ là… dùng kiếm Nhật mà thôi.”
“Cậu xin lỗi hơi muộn đấy.”
Caesar dở khóc dở cười, ánh mắt vẫn ghim chặt lên Kumokiri.
“Tôi tưởng mình rất hiểu kiếm Nhật. Đến khi thật sự quyết đấu với đại sư kiếm Nhật, mới phát hiện… hóa ra người bồi luyện cho tôi chỉ là hàng trung học.”
Minamoto Chisei lặng lẽ đứng trước bệ thờ.
Kumokiri ánh lên sắc xanh lạnh, đặt ngang trước ngực.
Những ngón tay hắn chậm rãi lướt dọc theo thân kiếm, rồi nhẹ nhàng giữ lấy mũi kiếm.
Đó không phải tư thế mở đầu của bất kỳ lưu phái kiếm thuật nào.
Toàn thân hắn đầy sơ hở, nhưng Sở Tử Hàng và Caesar không ai dám tấn công.
Động tác ấy giống như một vị tư tế đang chuẩn bị cho nghi lễ.
Lặng lẽ lau chùi kiếm dài, mang theo lòng thành kính… rồi chém xuống đầu tế phẩm.
Caesar và Sở Tử Hàng chính là những tế phẩm bị áp giải lên tế đàn.
Sát khí buốt lạnh lan tràn khắp đại sảnh.
Tế phẩm ắt phải chết.
Thời gian… không còn nhiều.
Minamoto Chisei thầm kinh hãi.
Đây là lần đầu tiên có người thực sự đe dọa đến tính mạng anh.
Hắn là Hoàng đế.
Hoàng đế sinh ra đã đứng trên chúng sinh.
Dù là những oni long hóa như Sakurai Akira hay Sakurai Kogure, trong mắt anh cũng chỉ là “con mồi nguy hiểm”.
Nhưng Sở Tử Hàng và Caesar thì không.
Họ giống anh, đều là thợ săn.
Ba người vừa nhảy xong một điệu vũ giẫm lên lưỡi kiếm.
Minamoto Chisei hơi chiếm ưu thế, nhưng không có nắm chắc tất thắng.
Kỹ thuật tinh luyện huyết thống của Hội Sư Tâm đã gắng gượng chống đỡ được hoàng huyết cao quý.
Minamoto Chisei hóa kiếm thành tường.
Caesar và Sở Tử Hàng cảm giác mình đang chiến đấu với một bức tường, mọi đòn công kích đều bị phản chấn trở lại.
Nhưng bản thân Minamoto Chisei cũng cảm thấy Gyaku-kesa-giri bị ép chặt.
Liên thủ công kích của Sở Tử Hàng và Caesar như mưa bão dồn dập.
Trong cơn mưa bão ấy, anh chỉ có thể phòng thủ.
Nếu muốn phá vỡ thế liên thủ đó, anh buộc phải dùng đến “cấm thuật” nguy hiểm để trọng thương một người.
Giống như nhát vừa rồi dành cho Caesar.
Anh chỉ còn 5 phút.
“Tôi rất mừng vì các cậu vẫn còn sống. Đây là lời thật lòng.”
Minamoto Chisei nói bằng giọng lạnh lẽo.
“Gia tộc tôi đã nợ các cậu quá nhiều. Nếu không gặp nhau trong hoàn cảnh này, có lẽ chúng ta đã có thể trở thành bạn. Dù không thành bạn, thì cũng tốt hơn là trở thành kẻ địch như bây giờ.”
Anh dừng lại giây lát.
“…Xin lỗi.”
“Người Nhật các anh xin lỗi lúc nào cũng quá nhiều, mà lúc nào cũng quá muộn. Những lời vô dụng như thế sau này bớt nói đi.”
Giọng Caesar trầm xuống, lạnh lẽo như thép.
“Makoto, cô gái chúng tôi gặp trong tiệm truyện tranh đồ chơi ấy đã chết rồi. Chết dưới tay gia tộc của anh. Trong cuộc chiến các anh khơi mào, sẽ còn rất nhiều người như Makoto phải chết. Còn anh, kẻ đứng trên cao với danh xưng Hoàng đế, thậm chí còn chẳng nghe thấy tiếng họ kêu gào. Chết tiệt! Tôi từng nghĩ trên đời này chỉ có một gia tộc khốn nạn là nhà Gattuso thôi, không ngờ ở Nhật lại có hẳn 8 gia tộc khốn nạn như vậy!”
Minamoto Chisei khẽ khựng lại.
Trên gương mặt như bị băng phong của hắn xuất hiện một vết nứt rất nhỏ.
“Phải rồi…”
Hắn thì thầm.
“Xin lỗi kiểu này, dù có đưa vào kế hoạch trăm năm, thì nói ra vẫn luôn quá muộn. Đã vậy… tại sao còn phải nói?”
Hắn chậm rãi giơ kiếm quá đỉnh đầu, đồng thời hạ thấp thân người.
Đây là lần đầu tiên hắn thực sự dựng thế kiếm.
Hắn… đã nghiêm túc.
Caesar và Sở Tử Hàng liếc nhìn nhau trong tích tắc.
Sở Tử Hàng khẽ lắc đầu.
Hắn không hề đùa.
Kiếm thuật Nhật của hắn quả thực học từ lớp kiếm đạo trong trường cấp 2.
Quà tốt nghiệp là một thanh lightsaber trong Star Wars, trong chuôi nhét hai viên pin AA, bấm nút thì phát sáng và… phát nhạc chủ đề.
Họ chưa từng nghiên cứu cái gọi là “ý nghĩa cốt lõi” của kiếm thuật Nhật Bản, nên hoàn toàn không hiểu được huyền cơ trong tư thế của Minamoto Chisei lúc này.
Dù có từng học ở võ đường chính thống cũng vô dụng.
Hoàng đế được giáo dục theo chuẩn mực khắc nghiệt và cổ xưa nhất của Nhật Bản.
Minamoto Chisei đã học tất cả các kiếm pháp còn tồn tại ở Nhật, bao gồm cả cổ lưu sát nhân kiếm.
Những thứ ấy, học trò kiếm đạo bình thường không thể hiểu nổi.
Sau Minh Trị Duy Tân, kiếm thuật cũng như trà đạo, trở thành một phần văn hóa truyền thống.
Kiếm tre ra đời để học trò đánh nhau cho vui, người tốt nghiệp võ đường có khi chỉ đến lúc chụp ảnh kỷ niệm mới cầm kiếm thật trong tay.
Nhưng trước Minh Trị Duy Tân , kiếm chính là sinh mệnh của võ sĩ.
Một đời võ sĩ là một đời đẫm máu.
Võ sĩ làm việc cho công khanh thế gia luôn sẵn sàng ra chiến trường vì chủ mà chết.
Võ sĩ mở võ đường luôn chờ có kẻ đến thách đấu và chém mình tại chỗ.
Lãng nhân thì mang ánh mắt như sói, lang thang ngoài phố, chỉ cần lời nói trái tai là vung kiếm giết người.
Đó là thời đại của kẻ giết người.
Không phải sinh mệnh võ sĩ mong manh như cánh anh đào, mà là mạng người rẻ như giấy.
Võ sĩ đeo kiếm tức là có quyền giết người, không cần chịu chế tài pháp luật.
Bởi vậy, những kiếm thuật âm trầm, tàn khốc, độc ác nhất đã được sáng tạo ra hoàn toàn khác với kiếm đạo hiện đại tao nhã, thể diện.
Ở thời đại ấy, kiếm thuật chỉ để giết người.
Kẻ sống sót mới là kẻ thể diện.
Để giết người, có thể như sói, như chuột, thậm chí như ác quỷ.
Đó chính là cổ lưu sát nhân kiếm.
Minamoto Chisei khom lưng, chậm rãi xoay quanh Caesar và Sở Tử Hàng.
Mũi Kumokiri run nhẹ, theo từng nhịp hô hấp phát ra tiếng gió khe khẽ… chẳng khác nào ác quỷ sắp vồ mồi.
Cả Caesar lẫn Sở Tử Hàng đều có ảo giác như bị sát khí đông cứng.
Kiếm chưa xuất, mà hàn ý từ lưỡi kiếm đã xuyên thẳng tim phổi.
“LÙI LẠI!”
Sở Tử Hàng đột ngột gầm lên.
Sát khí của Minamoto Chisei càng lúc càng mạnh, âm thầm nghiền nát cả ý chí chiến đấu của Sơ Tử Hàng vốn sinh ra đã là phôi giết chóc.
Dù không nhìn thấu chiêu thức, nhưng sau từng ấy năm dùng kiếm Nhật, anh đã ngửi thấy mùi máu trong từng động tác.
Nếu mùi máu ở phòng bích họa giống như lò mổ gia súc, thì kiếm của Minamoto Chisei… chính là U Minh!
Tiếng gầm ấy chính là tín hiệu khai chiến.
Sở Tử Hàng gào lên tức là tinh thần đã lung lay, đây là thời cơ tốt nhất để hạ sát!
Shingyoto-ryu · Yonban Hasso!
Khí tức phóng tận.
Minamoto Chisei đạp mạnh xuống đất, thân ảnh hóa thành hư ảnh.
Kumokiri thu trước ngực, 4 hướng công kích ẩn trong cùng một động tác!
Cái gọi là Bát Tướng, Xích Diễm, Tu La, La Sát, U Minh, Huyết Hải, Cô Tuyệt, Phá Tướng và Vô Tướng… không phải 8 cảnh tượng huyễn hoặc, mà là 8 trạng thái tâm lý cực hạn của kẻ đã đứng trước ranh giới sinh tử.
Sợ đau đớn, sợ đối địch, sợ giết người, sợ cái chết, sợ máu, sợ bị bỏ rơi, sợ mất bản ngã và sợ hư vô.
Khi tu tập Shingyoto-ryu · Yonban Hasso, môn sinh buộc phải lần lượt đối diện với 8 nỗi sợ sâu nhất của chính mình.
Sư phụ chỉ “phụ trợ”, không truyền cách chém, mà ép người học tự bước vào địa ngục trong tâm.
Ví như khi quán tưởng Xích Diễm,
một thanh sắt nung đỏ sẽ được áp sát sau lưng.
Không phải để hành hạ thân xác, mà để buộc tâm không được lùi, tạo ảo giác như đang bị thiêu sống.
Chỉ cần ý chí dao động, kiếm sẽ loạn.
Chỉ cần còn do dự, thân sẽ chết.
Chỉ khi vượt qua đủ 8 tầng ảo cảnh, nhát kiếm hung tàn của Yonban Hasso mới có thể được khống chế.
Kiếm xuất, sát khí tụ nơi mũi kiếm.
Dù phía trước là lò lửa cũng không chần chừ, dù dưới chân là đinh sắt cũng sẵn sàng giẫm xuống.
Đây không phải kiếm pháp dành cho kẻ muốn thắng.
Đây là kiếm của kẻ đã chấp nhận chết trước khi chém.
Cổ lưu sát nhân kiếm không cần phẫn nộ, không cần hận thù, chỉ cần một quyết tâm duy nhất, vứt bỏ tất cả, kể cả chính mình.
Minamoto Chisei đã chuẩn bị chịu trọn một đòn của Caesar, để trước tiên đánh gục Sở Tử Hàng, kẻ nguy hiểm hơn trong cận chiến.
Nhát kiếm này một khi xuất ra, kết cục không thể kiểm soát, Sở ử Hàng có thể chết, cũng có thể trọng thương.
Nhưng sát nhân kiếm là vậy:
Nắm kiếm trong tay, tức là bước vào địa ngục!
Caesar và Sở Tử Hàng đồng thời xông lên.
Lúc này tiến công chẳng khác nào lao vào lưỡi kiếm đối phương, nhưng đã lâm vào tuyệt địa không thể né tránh, không tấn công tức là chờ bị đồ sát!
Đúng lúc ấy, thế giới bỗng nghiêng hẳn.
Cú đạp đất dốc toàn lực của Minamoto Chisei đạp vào khoảng không.
Hắn mất thăng bằng, đâm sầm vào ngực Caesar!
Yonban Hasso… hoàn toàn trượt đích!
Caesar mừng như điên, thuận thế húc gối thật mạnh vào tim đối phương!
Anh vừa định giật lấy Kumokiri, thì một bóng đen khổng lồ từ trên trời giáng xuống.
—-
Khi cánh cửa kim loại màu bạc phía sau lặng lẽ khép lại, Lộ Minh Phi mới giật mình nhận ra có điều gì đó không ổn.
Cậu từng dùng chìa khóa điện tử mở qua không ít cánh cửa trong tòa cao ốc này.
Mỗi lần cũng chỉ là một tiếng “bíp” khô khốc, cửa liền mở ra.
Nhưng lần này thì khác.
Cánh cửa ấy nhận ra cậu.
Nó chào đón cậu “trở về”, chào mừng một người mang tên Ricardo M. Lu, chuyên viên của Cục Chấp Hành, quay lại tầng “ξ”.
“ξ”, ký hiệu của điều không xác định.
Cậu đã quay về một nơi không xác định.
Nỗi sợ mơ hồ nổ tung trong đầu như một quả bom.
Một nơi không xác định… giống như trên cỗ máy dệt định mệnh, nơi những sợi chỉ bỗng rẽ nhánh, và một đầu sợi xa lạ, vô nghĩa nào đó đã bất thình lình móc nối vào cuộc đời cậu.
Lộ Minh Phi không muốn ở lại đây dù chỉ một giây.
Cậu quay người, đẩy cửa.
Cánh cửa đã khép kín tuyệt đối, không một kẽ hở.
Quét lại chìa khóa điện tử, chỉ có tiếng “ù ù” báo lỗi.
Chiếc chìa khóa Lộ Minh Trạch đưa cho cậu… ở tầng này chỉ cho phép đi vào, không cho phép quay ra.
Hành lang vắng lặng như tờ.
Từ xa thoảng đến mùi hăngnhàn nhạt.
Nơi này khiến người ta liên tưởng tới một bệnh viện, nhưng không phải bệnh viện bình thường, mà giống lâu đài Người Đẹp Ngủ Trong Rừng:
Thời gian bị đông cứng, mọi thứ bị phong ấn bởi một thế lực tà dị nào đó.
Cậu không mở được bất kỳ cánh cửa nào dọc hành lang.
Chìa khóa điện tử trong điện thoại hoàn toàn vô hiệu ở tầng này.
Ánh sáng trắng bệch rọi ra từ các ô cửa sổ, nhưng không hề có tiếng người.
Sóng xung kích đã nhiều lần quét qua các tầng khác, để lại những vết nứt rõ ràng trên tường, chỉ riêng tầng này thì không.
Có thể thấy tường ở đây kiên cố đến mức nào.
Không có cửa sổ thông ra bên ngoài.
Mọi cánh cửa đều được đúc bằng kim loại đen cứng lạnh.
Trên tường dán dày đặc những biển cảnh báo:
“Khu vực nguy hiểm”, “Cấm vào”.
Càng đi sâu, tim cậu càng đập loạn.
Cuối cùng, Lộ Minh Phi không kìm được, bắt đầu chạy trong hành lang trống rỗng.
Nhưng càng chạy càng mất phương hướng, đến lúc dừng lại thì ngay cả lối vào ban đầu cũng không còn tìm thấy nữa.
Hành lang tầng này uốn lượn chằng chịt như mạng nhện, tựa một mê cung không lối thoát.
Càng sợ, cậu chạy càng nhanh.
Tiếng bước chân phía sau cũng đuổi theo càng gấp.
Đó là tiếng bước chân của chính cậu, dội lại, chồng chéo trong không gian kín, nghe như thể phía sau có một đoàn u hồn đang rượt đuổi.
Nhưng khi cậu dừng lại…
Âm thanh ấy không hoàn toàn biến mất.
Bên tai dường như vang lên tiếng hô hấp mỏng manh, kéo dài, không rõ là của ai.
Cậu trốn sau một giá thuốc, thở hồng hộc, run rẩy nhắn tin cho Lộ Minh Trạch:
“Cậu cài cho tôi cái phần mềm rách nào vậy hả?! Tôi đang bị nhốt trong một chỗ cảm giác sắp có ma!”
Tin nhắn trả lời đến rất nhanh:
“Chỗ có ma cũng chưa chắc đã là chỗ xấu mà. Lan Nhược Tự cũng có ma, Ninh Thái Thần còn gặp được Nhiếp Tiểu Thiện ở đó kìa.”
“Khốn kiếp! Đó là vì hắn có Yến Xích Hà! Không thì sớm đã bị ma ăn sạch rồi!”
“Bệ hạ! Thần chính là Yến Xích Hà của người đây! Yên tâm! Ổn thỏa cả! Anh cũng biết trong Tập đoàn Genji có rất nhiều khu vực ẩn mà, khu ẩn thì phải dùng một bộ chìa khóa khác. Giờ mở điện thoại ra xem lại đi. Hê hê.”
Lộ Minh Phi bật sáng màn hình.
Biểu tượng “Chìa khóa điện tử” đã đổi sang màu xanh lam u ám, tên cũng thay đổi.
Tên mới là, Chìa Khóa Lan Nhược Tự.
Mở ứng dụng, một mũi tên xanh nhạt hiện lên, khẽ rung theo từng bước chân cậu, như đang dò tìm phương hướng.
Nói thật, cái ứng dụng chết tiệt này chẳng giống dẫn đường chút nào, nó giống la bàn phong thủy của thầy địa lý đi tìm huyệt mộ hơn.
Đi theo thứ này, có khi chỉ dẫn thẳng vào… nghĩa địa.
Nhưng lúc này, cậu chỉ có thể tin Lộ Minh Trạch.
Tên đó tuy hay trêu chọc người khác, nhưng chuyện lớn thì chưa từng đẩy cậu vào chỗ chết.
Con đường phía trước ngày càng phức tạp.
Cảm giác như cậu đang tiến vào khu trung tâm của tầng này.
Trên đường đi, cậu liên tiếp gặp nhiều cửa an ninh, và Chìa Khóa Lan Nhược Tự mở được tất cả.
Càng vào sâu, hành lang lại càng rộng.
Cuối cùng, thông đạo rộng đến 7-8m, 4 phía gia cố bằng thép không gỉ, phía trước là một vùng ánh sáng trắng rực rỡ.
Đến đây, mũi tên dẫn đường biến mất, có lẽ tín hiệu đã bị che chắn.
Lộ Minh Phi bước trên nền thép, từng bước cẩn trọng đến cực điểm.
Tiếng bước chân phía sau hoàn toàn biến mất.
Có lẽ là vì không gian nơi này quá trống trải…
Nhưng cũng có thể là, đến cả âm thanh cũng không dám theo vào đây.
Cuối thông đạo là một cánh cửa kim loại màu trắng, dạng cửa kín khí bo tròn.
Ánh sáng trắng xuyên qua ô kính nhỏ trên cửa.
Ô kính đặt khá cao, dù kiễng chân, Lộ Minh Phi cũng chỉ nhìn thấy nửa trên của căn phòng bên trong:
Bốn bức tường trắng, dây ống chằng chịt, cùng những thiết bị cỡ lớn.
Cậu lấy hết can đảm, đẩy cửa.
Chất lỏng đỏ sẫm tràn qua mép cửa, ào ạt chảy ra, làm ướt cả giày cậu.
Mùi máu tanh nồng nặc xộc thẳng vào mặt khiến cậu nôn thốc nôn tháo.
Chân mềm nhũn, cậu ngã phịch xuống đất.
Sàn phòng đỏ như máu.
Trần nhà trắng.
Tường thì đỏ trắng đan xen.
Trong căn phòng này, ban đầu có ít nhất 20 người, bác sĩ, y tá.
Giờ đây, tất cả đều đã chết.
Máu của họ tích lại trên sàn dày đến vài cm, nhờ cửa kín khí mà không tràn ra ngoài.
Thứ tạo nên thảm án này vẫn còn ở trong phòng.
Không cần nghi ngờ, đó là một tử thị.
Cơ thể long hóa của nó vạm vỡ như vận động viên bóng bầu dục, chiếc đuôi dài như trăn kéo lê trong vũng máu.
Lộ Minh Phi từng thấy ảnh tử thị trong lớp học, nhưng chưa bao giờ là hình thái nửa người nửa rắn thế này.
Ngược lại, họ từng thấy những tồn tại tương tự ở Takamagahara, những hỗn huyết chủng cổ đại, nhưng tất cả đều đã bị chế thành xác ướp biết cử động.
Theo lý mà nói, loại cổ chủng này đã tuyệt diệt từ lâu.
Thế nhưng kẻ trước mắt rõ ràng mới còn sống không lâu:
Vảy bóng mịn, cơ bắp đầy đặn, hoàn toàn không giống những Thi Thủ khô quắt.
Có thể suy đoán cảnh tượng lúc đó:
Tử thị dùng móng vuốt sắc bén xé toạc động mạch của bác sĩ và y tá.
Trong căn phòng kín, không ai có thể trốn thoát.
Sau đó, tử thị cũng bị giết.
Thi thể nó bị treo trên một bức tường kim loại hình tròn.
Một thanh kiếm dào xuyên thẳng qua tường kim loại, đóng chết nó tại chỗ.
Bức tường ấy có tay nắm và khóa mật mã, trông như cửa hầm ngân khố.
Có lẽ sau khi tàn sát xong, tử thị đã nhào tới đó, định nhìn vào bên trong… và bị người bên trong chém chết qua cánh cửa.
Dùng kiếm, xuyên qua cửa hầm toàn kim loại, giết chết một tử thị.
Đó là uy lực kinh khủng đến mức nào?
Lần này thì làm quá rồi!
Chương trình của Lộ Minh Trạch đã dẫn cậu thẳng vào một hiện trường giết người chết chóc, mà còn chẳng biết sau cánh cửa kia rốt cuộc đang nhốt thứ sinh vật tàn bạo nào!
Lộ Minh Phi loạng choạng bò dậy, quay đầu chạy trối chết.
Bỗng nhiên, cánh cửa an ninh ở cuối thông đạo nổ vang một tiếng long trời.
Tim Lộ Minh Phi chìm hẳn xuống đáy.
Đó là cửa sập đóng mở theo phương thẳng đứng, âm thanh vừa rồi chính là hạ cửa!
Cậu bị nhốt cứng trong đường hầm này rồi!
Những quạt hút công suất lớn tự động khởi động, tiếng gầm rền vang dội khắp thông đạo.
Nếu cứ tiếp tục hút khí như thế này, chỉ 10 phút thôi, áp suất trong này sẽ giảm đến mức con người không thể thở nổi!
Lúc này Lộ Minh Phi mới hiểu:
Tiếng thở quái dị mà cậu nghe thấy trước đó, thực ra chính là quạt hút đang vận hành ngắt quãng.
Không trách thông đạo này lại được gia cố toàn bộ bằng kim loại, đây là để ngăn thứ quái vật sau cánh cửa kho báu trốn thoát.
Dù nó có phá được cửa kho, cũng vẫn sẽ bị nhốt trong thông đạo này.
Khi không khí bị rút cạn, nó sẽ bất tỉnh vì tụt áp.
Biện pháp giam cầm kín kẽ đến mức đáng sợ…
Chẳng lẽ Bát Gia Jaki đã bắt được vị thần kia, rồi giam cầm nó ở đây?
Màn hình điện thoại bỗng sáng lên.
Chiếc chìa khóa điện tử cuối cùng hiện ra, hoa văn rực rỡ không ngừng biến đổi.
Kèm theo đó là một tin nhắn của Lộ Minh Trạch:
“Đã đến tận đây rồi, sao không mở luôn cánh cửa Lan Nhược Tự?”
Lộ Minh Phi hiểu ra.
Chìa Khóa Lan Nhược Tự chưa từng định dẫn cậu trốn thoát, mục tiêu của nó ngay từ đầu đã là trung tâm của ‘bệnh viện’ này.
Đây hẳn là bí mật cấp tối cao của Bát Gia Jaki.
Thứ mà Caesar và Sở Tử Hàng tìm mãi không ra,
lại để Lộ Minh Phi vô tình chạm tới.
Cậu thật sự muốn nhường “vinh dự khủng khiếp” này cho hai vị tiền bối, nhưng không còn kịp nữa rồi.
Nếu không mở cánh cửa đó ngay, chỉ vài phút nữa cậu sẽ ngất đi, và có thể sẽ chết.
Lộ Minh Trạch… chơi ác thật sự.
Cậu kéo lê hai chân cứng đờ, lội qua nền nhà ngập máu, dùng bàn tay run rẩy đặt điện thoại vào khe thẻ bên cạnh cửa kho.
Cánh cửa lập tức kết nối với thiết bị.
Một quá trình giải mã khổng lồ bắt đầu.
Lộ Minh Phi nhìn quanh.
Trong phòng chất đầy thiết bị cấp cứu, từ bình oxy đơn giản, đến xe lọc máu, máy hồi sức tim, bơm cao áp, máy chụp mạch X-quang, thậm chí cả máy gia tốc tuyến tính trị giá hàng triệu đô.
Nhìn vậy thì… bên trong cánh cửa kho lại là một bệnh nhân nguy kịch?
Một bệnh nhân nặng, dùng một nhát kiếm xuyên cửa kho giết chết tử thị?
Nghĩ đến thôi cũng thấy… buồn cười một cách quái đản.
Giải mã hoàn tất.
Cánh cửa kho bắt đầu xả khí nitơ áp suất cao từ các van.
Lộ Minh Phi lùi lại mấy bước, chân tay rã rời, ánh mắt đờ đẫn.
Đèn phía trên cửa chuyển từ đỏ sang xanh.
Mười hai chốt an toàn đồng loạt bật ra với tiếng “cạch” nhẹ.
Cánh cửa hợp kim dày 20cm từ từ mở ra.
Thứ đập vào mặt cậu… không phải mùi máu, mà là hương bạch đàn thanh khiết.
Một cô gái khỏa thân đứng sau cánh cửa.
Cô vừa nhìn Lộ Minh Phi, vừa dùng chiếc khăn lớn lau mái tóc dài còn ướt.
Tóc cô màu đỏ sẫm.
Trên đời này… chỉ có một màu tóc khiến Lộ Minh Phi khắc cốt ghi tâm đến vậy.
Mọi nỗi sợ và hoảng loạn đều tan biến.
Cậu đứng trong luồng gió giàu oxy và hương bạch đàn, trong mắt chỉ còn mái tóc đỏ sẫm ấy và đôi mắt đỏ sẫm kia.
Cậu bất giác muốn nói:
“Lâu rồi không gặp.”
Dù biết rõ người trước mặt không phải là cô ấy,
nhưng ánh mắt kia giống đến kinh người.
Như chim đỏ bay giữa bầu trời xanh trong vắt.
—-
Cổng torii bị đập nát tan trên mặt đất.
Mảnh gỗ anh đào ngàn năm bắn tung 4 phía.
Máu chảy trên nền nghiêng như thủy triều đỏ thẫm.
Những chân nến đổ ngã châm lửa vào rèm.
Tượng Phật trong bệ thờ liên tiếp đổ sập.
Khi lớp sa mỏng bị xé toạc, bản thể thật sự của chúng mới lộ ra, khuôn mặt giống người, nhưng thân hình khổng lồ lại tựa rắn cổ.
Từ xưa đến nay, mọi tiêu bản “nhân ngư” bị con người bắt được đều được Bát Gia Jaki cất giữ trong nhà kho bí mật này.
Rèm cháy rơi xuống, châm lửa cho những tiêu bản thi thủ.
Trong khoảnh khắc, chúng bừng sáng chói lòa.
Từ thời cổ đại, mỡ nhân ngư chính là nguyên liệu tốt nhất để làm nến.
Những cây nến cổ bằng dầu nhân ngư trong hoàng lăng cháy suốt ngàn năm không tắt.
Ngay khoảnh khắc Kumokiri sắp xuyên qua Sở Tử Hàng, chấn động dữ dội ập đến.
Toà nhà rung lắc mạnh.
Vết nứt lan khắp kết cấu bê tông cốt thép.
Thép bị xé toạc, ống nước vỡ tung.
Hơi nước và gió lạnh tràn ngập, nhưng không thể dập tắt ngọn lửa thi thủ.
Caesar, Sở Tử Hàng và Minamoto Chisei giao chiến dữ dội.
Chiêu thức lúc này đã hoàn toàn vô nghĩa.
Họ ôm ghì lấy nhau, lăn lộn, dùng toàn bộ sức lực đánh vào mặt đối phương, dùng khuỷu tay khóa cổ, dùng đầu gối nện vào bụng dưới.
Họ là tinh anh của tinh anh, là đế vương, là người thừa kế của các gia tộc.
Nhưng giờ đây, ngay cả một cú đấm đẹp mắt cũng không tung ra nổi.
Thứ duy nhất có thể dựa vào chỉ còn sự tàn nhẫn và khả năng chịu đau.
Khuỷu tay Minamoto Chisei xé rách khóe mắt Caesar.
Móng tay Caesar suýt moi toạc khí quản đối phương.
Sở Tử Hàng liên tiếp đá mạnh vào xương sườn Minamoto Chisei.
Đây là trận chiến nguyên thủy nhất.
Không khác gì dã thú cắn xé nhau.
Không ai bận tâm liệu có phải dùng cả răng hay không.
Cơn phẫn nộ đã đốt cháy toàn bộ ý chí chiến đấu trong máu họ.
Trong tay không có vũ khí, nhưng sự hung tợn trong tim còn vượt xa khi cầm vũ khí.
Thứ từng giống như tình bạn, hóa ra chỉ là ảo giác.
Từ đầu đến cuối, bọn họ vốn là kẻ địch.
Ngay từ khoảnh khắc gặp nhau, mỗi người đã đứng về một phía.
Dù có che chung một chiếc ô, sánh vai trong mưa bao lâu đi nữa, thì giữa những kẻ thù, sớm muộn cũng sẽ có ngày rút đao vung kiếm!
Mỡ từ các tiêu bản nhân ngư tan chảy, chảy tràn trên nền nhà, dính đầy lên người Caesar.
Nhưng anh không hề nghĩ đến việc đứng dậy né tránh.
Anh lao thẳng lên lưng Minamoto Chisei, dùng cả tay lẫn chân khóa chặt thân thể đối phương, lấy chính cơ thể mình làm xiềng xích, trói chết hắn.
“Tránh ra!”
Caesar gầm lên.
Sở Tử Hàng lập tức lăn người tránh đi.
Caesar dùng sức từ hông giật mạnh người ra sau, kéo theo Minamoto Chisei lăn thẳng về phía vách tường.
Minamoto Chisei hoàn toàn không có kinh nghiệm đấu vật, bị Caesar đẩy mạnh, đập sầm vào tường.
Với thể chất và xương cốt của hắn, cơn choáng chỉ kéo dài trong chớp mắt, nhưng Caesar đã kịp thời khóa chặt cổ họng hắn.
Những cú đấm nặng như mưa bão dội thẳng vào mặt Minamoto Chisei.
Ngọn lửa bám trên người Caesar lan sang cơ thể đối phương.
Áo khoác đen của Cục Chấp Hành làm từ vật liệu chống cháy, nhưng ngọn lửa đã bắt đầu vượt khỏi tầm kiểm soát.
“Xin lỗi thì có ích gì chứ?”
Caesar gầm lên, giọng khàn đặc vì phẫn nộ.
“Xin lỗi toàn là thứ nói sau khi chuyện đã xong, mà nói sau thì luôn luôn quá muộn! Đàn ông làm sai không sao cả! Quan trọng là dám gánh lấy hậu quả! Đứt tay thì chặt tay! Gãy chân thì chặt chân! Nếu có kẻ làm sai mà vẫn thoát được trừng phạt, thì còn ai ca tụng Vinh! Quang Của! Chúa! Nữa?!”
Mỗi chữ vang lên, lại kèm theo một cú đấm nặng nề.
Minamoto Chisei đội mưa đòn vẫn cố gượng dậy, nhưng Caesar dùng thẳng đầu mình húc mạnh, ép hắn ngã ngược trở lại.
Những đòn đánh liên tiếp vào đầu khiến cả hai đều bị chấn động não.
Cơn đau dữ dội khiến choáng váng thêm trầm trọng, tầm nhìn của họ mờ nhòe, mất thăng bằng trên nền đất nghiêng, như hai kẻ say rượu đang liều mạng bóp chặt cổ họng nhau.
Sở Tử Hàng đập vỡ tủ cứu hỏa ở góc tường, xách bình chữa cháy lao trở lại, nhắm thẳng vào hai người phun mạnh.
Bọt trắng phủ kín toàn thân, nhưng Caesar và Minamoto Chisei vẫn không chịu buông tay.
Đồng tử vàng của họ bừng bừng cháy rực, hàm răng nghiến chặt đến bật máu.
Sở Tử Hàng chợt nhớ đến cơn thịnh nộ của Caesar trong đêm hôm ấy.
Sự phẫn nộ của gia tộc Gattuso, quả nhiên đúng như truyền thuyết, tựa thiên phạt.
Một khi đã bị châm ngòi, nếu không thiêu rụi kẻ thù, tuyệt đối không dừng lại.
Sở Tử Hàng lao tới, dùng sợi dây tím quấn quanh bệ thờ trói chặt Minamoto Chisei, rồi nắm lấy cổ tay Caesar:
“Đủ rồi! Đây không phải lúc trút hận cá nhân!”
“Tránh ra!”
Caesar quật mạnh cánh tay, hất văng Sở Tử Hàng.
Minamoto Chisei bị trói dùng sức từ eo bật dậy, tung một cú đá bay trúng sau gáy Sở Tử Hàng.
Sở Tử Hàng đã đánh giá thấp Hoàng đế.
Một khi thoát khỏi cơn choáng, Minamoto Chisei lập tức hồi phục toàn bộ năng lực chiến đấu.
Caesar lao tới dồn lực tung quyền, cú đấm nặng nề đánh thẳng vào bụng dưới Minamoto Chisei.
Trong tay anh là Desert Eagle, họng súng ép sát, đẩy đối phương lùi lại.
Minamoto Chisei bị dồn đến trước bức bình phong, toàn thân nhuốm máu.
Caesar giữ tư thế ra quyền, bắn liền 7 phát, tất cả đều trúng vào bụng dưới.
Minamoto Chisei và Caesar nhìn nhau một cái.
Rồi Minamoto Chisei chậm rãi cúi đầu, bất lực ngã xuống vũng máu.
“Caesar!”
Sở Tử Hàng kinh hãi thốt lên.
“Đừng có la.”
Caesar lảo đảo lùi lại.
“Là băng đạn gây mê Frigg thôi.”
Băng đạn trượt ra khỏi báng súng, làn khói trắng mỏng manh bay lên từ nòng.
Sở Tử Hàng lao tới kiểm tra vết thương, lúc này mới phát hiện:
Da Minamoto Chisei chỉ bị bỏng nhẹ do lửa đầu nòng, vết thương ở bụng không lớn, đúng là đạn gây mê Frigg.
Bất ngờ, Minamoto Chisei mở to mắt!
Sở Tử Hàng giật mình, lập tức đưa kiếm khóa ngang cổ họng đối phương.
Nhưng Minamoto Chisei không phản kích.
Xương cốt hắn phát ra tiếng lách tách rất nhỏ.
Khi Sở Tử Hàng chạm vào cổ tay, anh nhận ra, xương của Minamoto Chisei đã mềm ra.
Bảy phát đạn gây mê Frigg vẫn không đủ để khiến Hoàng đế mất ý thức, nhưng cuối cùng cũng đã giải trừ trạng thái “Long Cốt” cường hóa đáng sợ kia.
“Cậu sợ tôi sẽ mất kiểm soát, giết chết hắn sao?”
Caesar châm một điếu xì gà ngay dưới bức màn lửa đang bốc cháy.
Đây rõ ràng không phải lúc để hút xì gà, nhưng anh vừa đánh bại kẻ được mệnh danh là hỗn huyết chủng mạnh nhất thế giới, thế là đủ lý do để ăn mừng.
“Tôi sợ chuyện của Makoto sẽ khiến anh tự trách mình quá mức.”
Sở Tử Hàng vừa nói vừa kiểm tra đồng tử của Minamoto Chisei để xác nhận trạng thái.
Minamoto Chisei lạnh lùng nhìn lại anh, thần trí hoàn toàn tỉnh táo.
“Nếu người nổ súng là hắn, tôi đã dùng đạn thật.”
Giọng Caesar lạnh như băng.
Anh ngồi xổm xuống trước mặt Minamoto Chisei, nhìn thẳng vào mắt đối phương:
“Không ngờ kết cục lại thế này, đúng không? Huyết thống không phải là tất cả. Ngay cả hoàng đế ngồi cao trên ngai vàng cũng có ngày bị người ta kéo xuống. Đúng chứ, ngài siêu hỗn huyết”
“Trước đây anh từng nói, có những việc là định mệnh, con người là gì thì phải xem trong mạch máu chảy thứ gì.”
Sở Tử Hàng nói.
“Tôi từng nghe nói ở Trung Quốc có cái gọi là ‘đồng đội ngu như lợn’… giờ thì tôi tin rồi.”
Caesar cười khổ, dựa lưng vào tấm bình phong, thở hổn hển.
Sự chú ý của Minamoto Chisei không đặt lên Caesar.
Khi mặt đất nghiêng đi, những thi thể của các cán bộ Cục Chấp Hành lăn ra từ phía sau bình phong.
Minamoto Chisei lặng lẽ nhìn những khuôn mặt tái nhợt ấy, trong mắt thoáng qua một nỗi bi thương u uẩn.
Caesar rít mạnh một hơi xì gà.
Anh cũng nhận ra ánh nhìn đó, không hề là giả vờ.
Dù hoàn toàn không tin tưởng kẻ mang dòng máu rồng này, nhưng ánh mắt của Minamoto Chisei vẫn đủ để làm cơn giận trong anh nguội đi đôi chút.
“Cái chết của họ không liên quan đến tôi. Khi tôi đến thì nơi này đã ngập trong máu rồi.”
Caesar nói, mắt nhìn bức bích họa đang cong queo trong biển lửa.
“Ngọn lửa này e là không kiểm soát nổi nữa, dù thế nào cũng phải rời khỏi đây trước đã.”
Sở Tử Hàng nói.
“Không biết dư chấn còn kéo dài bao lâu.”
“Trước hết giải trừ phong tỏa. Chuyện còn lại ra khỏi cái ổ quỷ này rồi hãy nói.”
Caesar chĩa súng vào giữa trán Minamoto Chisei.
“Tôi không có quyền giải phong tỏa. Quyền kiểm soát hệ thống vẫn nằm trong tay Tachibana Masamune. Muốn mở khóa phải dùng điện thoại của ngài ấy, hoặc đến phòng máy chủ của Kaguya-hime.”
Mắt Caesar sáng lên:
“Dẫn chúng tôi đến phòng máy chủ của Kaguya-hime!”
“Cậu không vào được đâu. Phòng máy chủ bị phong tỏa 1 ngày, người trong không ra được, người ngoài cũng không vào được. Tôi không có quyền truy cập, mật khẩu và chìa khóa đều nằm trong tay ngài Tachibana.”
“Vậy rốt cuộc anh có phải là gia trưởng của Bát Gia Jaki không hả?”
Cơn giận của Caesar bùng lên lần nữa, nhưng lần này khác hẳn, tức đến mức chỉ muốn đập tường.
“Hay anh chỉ là kẻ đi ngang qua mua nước tương?”
“Nói vậy… cũng không sai.”
Minamoto Chisei đáp.
“Anh đang đùa tôi à?”
Caesar túm cổ áo hắn gầm lên.
“Tiếp tục ở đây thì tôi cũng chết cháy. Lúc này đùa cậu khác gì tự đùa mình. Tôi tiếp nhận vị trí gia trưởng chưa lâu, rất nhiều quyền hạn vẫn chưa bàn giao. Phòng máy chủ của Kaguya-hime, tôi chưa từng bước vào.”
“Vậy còn cách nào thoát khỏi chỗ quái quỷ này không? Nói mau!”
Caesar quát.
“Ở lại đây không lâu nữa, siêu hỗn huyết trăm năm có một như anh sẽ phải chôn cùng tôi và Sở Tử Hàng đấy! Không thấy tiếc sao?”
Sở Tử Hàng chợt nhận ra, từ khi Caesar biết trên đời này tồn tại những kẻ có huyết thống vượt xa mình, phong cách nói chuyện của anh đã thay đổi hẳn, mang theo một vẻ buông xuôi, côn đồ đến cực đoan.
“Giếng thang máy.”
Minamoto Chisei chỉ nói ba chữ.
Caesar và Sở Tử Hàng nhìn nhau, rồi kéo Minamoto Chisei lao về phía giếng thang máy.
Con đường anh đi vào cũng chính là con đường thoát ra.
Với người thường, giếng thang máy của tòa nhà cao tầng là không thể leo trèo, nhưng với bọn họ thì chưa chắc.
Sở Tử Hàng thò đầu nhìn xuống.
Khung thép xuyên suốt từ trên xuống dưới, không gian sâu thẳm này khiến anh nhớ đến Nibelungen trong tàu điện ngầm Bắc Kinh, nhìn mãi không thấy đáy.
Caesar tháo trói tay chân Minamoto Chiíei:
“Tự mà leo. Nếu định giở trò…”
Ngay trước mặt Minamoto Chisei, Caesar thay băng đạn thật.
Những đầu đạn màu đồng ánh xanh khắc hoa văn hình thập tự.
Đạn xuyên giáp lõi thủy ngân, loại đạn đặc chế của Học viện Cassell để đối phó với long tộc.
Với chủng loại dưới tam đại chủng, đây là vũ khí chí mạng.
Nó xuyên qua vảy rồng, khi va chạm với long cốt sẽ tách ra theo rãnh chữ thập, thủy ngân lỏng bên trong là kịch độc đối với rồng.
Caesar đã nắm khá rõ năng lực của Minamoto Chisei:
Tốc độ và sức mạnh đều thuộc hàng đỉnh cấp, Ngôn Linh chưa rõ, nhưng độ bền thân thể vẫn kém long tộc rất xa.
Đặc biệt sau khi bị giải trừ “trạng thái long cốt” co rút khớp xương, thể chất của hắn không khác Caesar hay Sở Tử Hàng là bao.
Với loại đạn này, chỉ cần một phát là đủ lấy mạng.
Minamoto Chisei liếc nhìn đồng hồ, đã quá 5 phút, nhưng người của Cục Chấp Hành vẫn chưa xông vào phòng bích họa, phong tỏa cũng chưa được giải trừ.
Tachibana Masamune vốn luôn đúng giờ… chẳng lẽ đã xảy ra biến cố khác?
Anh cúi đầu nhìn xuống.
Tachibana Masamune lẽ ra phải đang chờ anh ở một dầm ngang nào đó phía dưới.
Sợi dây cao thế bị đứt cũng đã tắt sáng, giếng thang máy chìm trong bóng tối hoàn toàn.
Một bàn tay màu đồng cổ lặng lẽ thò ra từ trong bóng đen, men theo mặt đất, chạm đến cổ chân của Sở Tử Hàng.
0 Bình luận