Sói và Gia vị: Spring Log
Hasekura Isuna Ayakura Jū
  • Bạn phải đăng nhập để sử dụng bookmark
Tùy chỉnh

Volume 21: Spring Log IV [Đã Hoàn Thành]

Sói Và Những Thanh Sắc Rừng Già

0 Bình luận - Độ dài: 10,968 từ - Cập nhật:

Chiếc xe ngựa lững thững lăn bánh trên con đường ven sông.

Rừng bắt đầu thưa thớt, và lối đi dần trở nên bằng phẳng hơn. Vài ngày sau khi rời khỏi làng suối nước nóng Nyohhira, nơi được xem như ở tận cùng thế giới, Holo và Lawrence cuối cùng cũng bắt đầu thoáng thấy bóng dáng của chốn nhân gian. Thế nhưng đôi lúc, họ lại bị nuốt chửng vào những dãy núi vươn sát mép sông, có khi lại phải rẽ sâu vào rừng.

Hiện đang là mùa thu, và họ đang lội qua một biển lá rụng ngập đến mắt cá chân. Tiếng lá khô xào xạc dưới chân thật dễ chịu, và mùi đất mùn tỏa ra khiến tinh thần thêm sảng khoái. Vấn đề duy nhất là lớp lá dày ấy thường che khuất đường đi thật sự, đôi khi tạo ra ảo ảnh của những con đường vốn không hề tồn tại.

Cặp đôi đã suýt lạc hướng nhiều lần vì những lối mòn giả như thế, dù họ vốn đã quen thuộc với khu rừng này. Quả thật, đã có lần họ bị lạc thật sự, tiến quá sâu vào một cánh rừng xa lạ. Đến khi nhận ra, thì đã ở một nơi chẳng hề có trên bản đồ, nghĩ lại vẫn còn thấy rùng mình.

Lawrence nắm dây cương khi ngồi trên ghế đánh xe. Dù là một cựu thương nhân, anh chẳng phải tay tiều phu rành rẽ lối đi trong rừng.

Nếu bị lạc một mình, anh sẽ sớm bỏ mạng, trở thành mồi cho thú dữ, hoặc tệ hơn là giá thể cho nấm mọc.

“Đồ ngốc, không phải đường đó đâu.”

May thay, anh có một người đồng hành đáng tin cậy đang ngồi cạnh, đôi khi sẽ chỉ anh nên rẽ hướng nào.

Đó là một cô gái với mái tóc màu lanh, màu sắc rất hợp với rừng thu. Cô đang chải bộ lông cùng màu trên đùi, nhưng cô không phải là cô gái bình thường như vẻ ngoài. Trên đầu cô là đôi tai sói, và bộ lông cô ôm trong tay chính là chiếc đuôi của mình.

Người ngồi bên Lawrence là Holo, hiện thân của sói trú ngụ trong lúa mì, một tồn tại đã sống hàng trăm năm và là bạn đời quý giá của anh.

“Nghĩ lại hồi xưa đi một mình thật khiến người ta rùng mình,” Lawrence nói khi giật cương quay ngựa trở lại đúng hướng.

Holo thở dài đầy phiền phức.

“Bởi vì tài sản duy nhất của anh là vận may đó.”

Đường viền chiếc đuôi mềm mịn được chải chuốt kỹ lưỡng của Holo lấp lánh ánh vàng trong nắng thu. Và vì cô luôn dùng tinh dầu hoa hồng để chăm sóc nó, bộ lông ấy đẹp chẳng kém gì vật trang trí trong biệt thự của quý tộc.

“Phải đấy. Bởi nhờ may mắn mà anh mới gặp được em trên đường mà.”

Lawrence buông lời ấy thật thản nhiên khiến Holo bất ngờ. Đôi mắt cô lập tức mở lớn, nhưng rồi lại cúi xuống chải đuôi và khúc khích cười. Dẫu vậy, đôi tai cứ phe phẩy kia lại cho thấy cô không thản nhiên như vẻ ngoài.

Cô ranh mãnh, giữ nhiều điều cho riêng mình, và thường bộc lộ trí tuệ, sự hiểu biết sâu rộng về thế giới—nhưng cũng biết vui mừng vì những điều giản dị như thế này.

Chính điều đó khiến Lawrence nghĩ rằng anh sẽ không bao giờ chán khi ở bên cô.

“Lẽ ra chúng ta nên đi thuyền thì hơn.”

Thỉnh thoảng từ con đường quanh co, họ có thể thấy dòng sông. Nó chảy ngược lên đến tận làng suối nước nóng Nyohhira, nên có khá nhiều thuyền qua lại. Nếu chịu bỏ tiền, họ có thể chất cả xe lên thuyền, ngồi ngắm trời xanh và mơ màng suốt hai ngày là tới biển.

Lý do không chọn đi thuyền đơn giản là vì tiết kiệm.

Và lý do khác là vì Lawrence cảm thấy sẽ thật uổng phí nếu đi nhanh như vậy.

Đây là chuyến hành trình riêng tư đầu tiên với Holo sau bao năm, và anh muốn từ tốn tận hưởng nó.

“Nhưng mà… lưng anh đau quá…”

Lawrence đứng dậy, tay vẫn cầm dây cương, rồi vươn lưng giãn gân.

Một phần là vì lâu rồi anh không ngồi xe ngựa, nhưng cũng không thể phủ nhận rằng tuổi tác là nguyên nhân.

“Anh bắt con ngựa làm việc quá sức rồi đấy. Hãy tin vào nó nhiều hơn đi,” Holo trách khi thấy anh căng người, bẻ cổ, rồi lại ngồi xuống ghế.

“Anh điều khiển mạnh tay vậy sao?”

“Có. Y hệt hồi em mới ngồi cạnh anh vậy.”

Holo liếc anh một cái với nụ cười tinh quái.

Mười năm trước, khi mới gặp Holo, Lawrence chưa quen gần gũi với phụ nữ nên mỗi lần bị cô trêu là mặt lại đỏ bừng.

“Nhưng chắc chuyện đó giờ cũng chẳng khác bao nhiêu đâu. Anh đang siết chặt dây túi tiền đến mức không để lọt một xu nào rồi.”

Anh vừa cười vừa nói, và Holo liền giẫm lên chân anh.

“Đồ ngốc.”

Cô húc đầu vào vai anh, càng khiến anh cười khoái chí.

“Thật đấy, em phải làm gì với anh mới được đây…”

Holo vừa lẩm bẩm vừa định tiếp tục chải đuôi, thì đôi tai cô bỗng vểnh lên.

“Gì vậy?”

Lawrence vừa hỏi thì Holo đã nhẹ nhàng nhảy khỏi ghế đánh xe.

Anh dõi theo cô khi cô bước qua lớp lá khô, rồi mất hút sau một chiếc rễ cây khổng lồ trồi lên khỏi mặt đất. Ngay khi anh tưởng nàng thiếu nữ yêu dấu của mình chạy đi hái hoa đâu đó, cô đã quay lại.

Hai tay cô ôm đầy những cây nấm to như dù mở, che khuất gần hết mặt.

“Khu rừng này thoáng và nhiều gió. Nấm ở đây dễ hái lắm.”

Cô đã như vậy suốt chuyến đi, và thùng xe lúc này đã chất đầy đồ ăn hái được. Lawrence không kìm được nụ cười khi thấy cô nghiêng người sắp xếp lại các loại nấm vào bao, đuôi vẫy vẫy đầy hứng khởi.

Bầu trời thật trong xanh, còn thời tiết thì mát mẻ.

Anh chân thành nghĩ rằng có lẽ trên đời lúc này, chỉ có họ là đang tận hưởng một chuyến đi dễ chịu đến vậy.

“Vui thật đấy.”

Lời nói bật ra khỏi miệng anh trước khi kịp kìm lại.

Khi Holo xong việc cất đồ ăn, tai và đuôi cô lập tức vểnh lên một cách trách móc. Nhưng ngay khi quay lại, vẻ căng thẳng ấy liền tan biến, bộ lông lại mềm mại, thả lỏng như thường.

“Mm-hmm.”

Cô trở lại ngồi bên Lawrence trên ghế xe, mỉm cười đầy mãn nguyện.

Lúc mới rời Nyohhira, anh thậm chí còn không nhóm nổi một đống lửa, lại còn dẫn cả hai bị lạc, khiến cả hai đều hoài nghi liệu chuyến đi này có ổn không, nhưng xem ra họ vẫn có thể tiếp tục du hành trong vui vẻ.

Lawrence vừa hít một hơi thật sâu, tận hưởng khoảnh khắc yên bình, thì chiếc đuôi của Holo khẽ chạm vào anh và chui vào lớp chăn phủ trên đùi. Không gì ấm áp bằng bộ lông được chăm sóc cẩn thận ấy.

Là một thương nhân, Lawrence đã ước một điều rẻ tiền, rằng giá mà khoảnh khắc này kéo dài mãi mãi. Có lẽ chính điều đó đã dẫn đến chuyện xảy ra sau đó.

Holo cất giọng chậm rãi.

“Này, anh yêu.”

“Hmm?”

“Em muốn ghi lại những ký ức này, để không bao giờ quên được sự dễ chịu của chuyến đi này.”

Cô mỉm cười, tựa đầu vào vai Lawrence.

“Nhưng em hết mực rồi… Khi nào thì em mới có được một mẻ mực mới đây nhỉ?”

Mỗi khi cô cười ngây thơ thế này, thì thường là đang có ý đồ gì đó.

Holo ngọt ngào với anh như thế chỉ để moi được thứ gì đó mà thôi.

Cũng giống như không có chuyến đi nào chỉ toàn điều tốt đẹp, thì cũng không có chuyến đi nào mà không tốn chi phí.

~~~

Holo đang cố thuyết phục Lawrence mua thêm văn phòng phẩm cho cô, bởi kể từ khi họ bắt đầu chuyến hành trình này, cô đã chìm đắm trong tâm trạng phấn chấn và tranh thủ hết quãng thời gian rảnh rỗi để viết, rồi lại viết tiếp.

Dù Holo có thể còn sống hàng trăm năm nữa, nhưng Lawrence thì không. Chính anh đã đề nghị cô nên ghi lại từng ngày một, vì tuổi thọ của họ khác biệt quá lớn. Nếu mỗi ngày đều viết, đến khi quay lại đọc, cô sẽ quên mất mình đã viết gì ở những trang đầu. Như vậy, cô có thể mãi mãi tận hưởng những tháng ngày hạnh phúc này.

Lawrence cũng không thật sự chắc liệu như thế có thực sự tốt không, nhưng ít nhất thì Holo rất thích ý tưởng đó. Thậm chí có thể nói cô đã trở nên ám ảnh. Cuối cùng, anh vẫn vui lòng bỏ tiền ra cho giấy, bút, và lọ mực quý giá—thứ vốn không hề rẻ. Dù gì thì tiền cũng đâu thể mang theo xuống mồ.

Suy nghĩ như vậy cũng đủ làm anh hài lòng, nhưng chung quy Lawrence vẫn là một thương nhân.

Vì thế, anh không khỏi rùng mình khi thấy cô đã dùng hết sạch văn phòng phẩm chỉ trong vài ngày ngắn ngủi kể từ khi khởi hành.

“Hay là em bóc vỏ cây mà viết bằng móng đi?”

Holo vốn là một con sói khổng lồ, nên chỉ cần vung vuốt là có thể thu hoạch được bao nhiêu vỏ cây tùy ý.

“Đồ ngốc, vỏ cây chẳng giữ được lâu đâu.”

“Thì... anh thấy nếu không ra tới biển rồi đi dọc theo bờ đến cảng Atiph, thì chắc chẳng có chỗ nào mua được đâu.”

“Ở đó chẳng phải có đầy cừu với bò đi lang thang sao?”

Cách cô nói nghe như đang định xé xác chúng bằng vuốt, lột da làm giấy da, và tranh thủ kiếm thêm ít thịt vậy.

“Vừa có mực viết vừa có thịt ăn, một công đôi việc. Vẫn sẽ không có mực... À mà, cũng thế cả thôi.”

“Anh nói trước là không biết làm giấy da đâu đấy.”

“Thật vô dụng mà.”

Lawrence suýt nữa đã bật ra câu, Ai là người dùng phí hết sạch trước hả? nhưng rồi anh nuốt xuống. Holo viết nhiều đến thế, chiếc đuôi lúc nào cũng phe phẩy trong không trung, là bởi quá nhiều chuyện vui đã xảy ra.

Trên xe chất đầy bao tải gai lớn đựng hàng hóa. Ngoài những thứ cô thu nhặt được suốt đường đi, còn có một bao phát ra tiếng vo ve, chỉ cần ai chú ý sẽ nghe thấy. Trước đó cũng từng có chuyện xảy ra khi một vài sinh vật trong bao thoát ra khỏi kẽ hở, bay vòng vòng quanh Holo và Lawrence.

Trong bao đó là một tổ ong khổng lồ mà Lawrence đã lấy được sau khi lãnh đủ vết đốt ở đủ nơi trên cơ thể.

“Chà... Thôi thì dù có hơi lệch đường, ta cũng ghé qua một chỗ vậy.”

“Ồ?”

Lawrence mở bản đồ ra và đề xuất, lập tức thu hút sự chú ý của Holo.

“Ngay chỗ rẽ này, hình như có một quán trọ... Ừ, đúng rồi. Những người trên đường tới Nyohhira hay ghé qua đó, nên có thể họ có sẵn giấy mực đó.”

Khách quý ghé thăm suối nước nóng Nyohhira thường là quý tộc, hoàng gia, hoặc các tổng giám mục từ các giáo phận, viện trưởng các tu viện lớn có cả cánh rừng là tài sản... Những người như vậy thì công việc chủ yếu là viết, nên chẳng lạ nếu ở trọ cũng có đủ đồ nghề cho họ.

“Vậy thì ta đi đường đó thôi. Nếu ở đó còn có cả món hầm nóng hổi thì họ sẽ đáng được ngợi khen biết bao đấy.”

Lawrence đã tưởng Holo nhặt nhạnh thực phẩm trên đường là vì áy náy chuyện cô dùng hết giấy mực, nhưng khi thấy cô liếm môi vì tưởng tượng tới món hầm, anh mới hiểu ra là cô chỉ đang chiều theo cái bụng mà thôi.

Dù sao đi nữa, miễn là cô vui, vậy là đủ rồi.

“Được rồi, đi xem thử nào.”

“Ừm.”

Lawrence liếc nhìn Holo ở bên cạnh. Cô gật đầu hài lòng, và anh thở dài cam chịu, kéo dây cương chuyển hướng xe ngựa từ đường chính về phía bắc.

~~~

Quán trọ không cách quá xa.

Có vẻ nơi này từng là điểm tụ tập của các tiều phu, vì thế gần đó vẫn còn chất đống vài khúc gỗ lớn, phủ đầy rêu và mục nát. Trên biển hiệu quán trọ, hình một chiếc rìu hiện lên rõ ràng.

Bản thân quán trọ còn bị dây thường xuân và rêu bao phủ nhiều hơn cả đống gỗ kia.

“Ừm. Đây là một quán trọ tốt đấy,” Holo vừa ngửi mùi vừa nhận xét. Quán trọ nằm sâu trong rừng, bản thân tòa nhà cũng rất cổ kính, khiến ấn tượng đầu tiên của họ chẳng khác nào đang vô tình bắt gặp nơi cư ngụ của tinh linh rừng.

Tuy nhiên, những xà gỗ và cột chống hiên nhà đều được làm từ gỗ mới cưa, khu vườn có hàng rào thì trồng đầy rau, và vài con dê lẫn lợn đang ung dung gặm cỏ dưới nắng. Rõ ràng nơi đây được chăm chút cẩn thận.

Thế nhưng, thứ Holo đang say mê lại là mùi bánh mì thoang thoảng bay ra từ ống khói của quán trọ.

“Chúng ta nghỉ lại đây đêm nay chứ?”

“Nếu họ còn phòng trống.”

Lawrence đáp nước đôi như vậy không phải vì anh muốn tiết kiệm tiền trọ bằng cách ngủ trong nhà kho.

Anh đã để ý thấy trong chuồng ngựa có ba con tuấn mã trông vô cùng quý phái, lại còn có mấy người ngồi uống rượu phía trong, trông chẳng khác gì những kỵ sĩ hộ vệ.

Rất có thể trong trọ đang có nhân vật có địa vị đáng kể.

“Thôi thì ít ra anh cũng sẽ hỏi xem có chỗ nào có mái che để ngủ không.”

“Để em giả bệnh nhé?”

“Họ có thể để em ngồi sưởi lửa, nhưng đừng mong được ăn thịt uống rượu gì hết.”

“Ooooh…”

Lawrence mỉm cười bất lực khi thấy Holo thực sự lo lắng về việc không có thịt hay rượu, vẻ mặt vô cùng nghiêm túc. Sau khi dắt xe vào chỗ đỗ, anh mở cánh cửa quán trọ.

“Xin thất lễ, tôi vào đây.”

Chắc mọi người đang chuẩn bị bữa tối, vì ngay khi bước vào, anh đã ngửi thấy mùi bánh mì nướng thơm lừng. Mùi tỏi hòa quyện với mỡ béo kích thích vị giác anh dữ dội.

Holo theo sau anh, bụng kêu lên u oán.

“Ồ, chẳng mấy khi có khách như các vị ghé qua đây. Đằng ấy là một thương nhân lưu động chăng?”

Người trông có vẻ là chủ quán trọ đứng dậy khỏi bàn, nơi ông đang trò chuyện rôm rả. Trong râu ông có lốm đốm sợi bạc, trông đúng kiểu người sống trong rừng.

“À không, tôi—”

Lawrence vừa định giới thiệu thì có người ngồi cùng bàn với chủ quán lên tiếng.

“Chà, chẳng phải là ngài Lawrence đấy sao!”

Lawrence nhìn sang và nhận ra đó là một viện trưởng tu viện, người từng nhiều lần ghé tắm ở nhà tắm của anh.

“Thật là bất ngờ, thưa cha viện trưởng. Hẳn là do sự dẫn lối của Chúa rồi.”

“Đúng là trùng hợp. Ồ, và phu nhân của ngài nữa.”

Khi thấy Holo, ông ta gật đầu chào. Holo cũng yểu điệu đáp lại—cô luôn hóa thân thành diễn viên lành nghề trong những tình huống thế này.

“Thưa ngài, đây là ông chủ nhà tắm Sói và Gia Vị ở Nyohhira.”

“Ôi trời, chẳng lẽ ngài có ý định mở thêm một nhà tắm ở vùng này sao?”

Mọi người cùng phá lên cười trước câu đùa của chủ quán, rồi sau cái bắt tay với Lawrence, ông mời họ ngồi xuống.

Một người trông có địa vị cao đang ngồi tại đó vẫn chưa lên tiếng.

“À, ngài Lawrence, đây là lãnh chúa Beavery, cai quản vùng đất kế bên. Thưa ngài Beavery, đây là ngài Lawrence, chủ nhà tắm nổi tiếng tại Nyohhira.”

“Ồ, nhà tắm à. Ta có nghe nói rồi. Nhà tắm của những nụ cười bất tận, có phải chăng?”

Tuy là lãnh chúa, nhưng ông không có tùy tùng đi kèm và chìa tay ra rất tự nhiên. Lawrence giới thiệu mình, bắt tay ông ta, rồi giới thiệu cả Holo và cùng nhau ngồi xuống. Beavery xem chừng không phải kiểu người hay phô trương địa vị.

“Nhưng mà ngài Lawrence, giờ này chẳng phải đang là mùa chuẩn bị cho mùa đông sao? Hay là ngài đang đi lấy hàng?”

Câu hỏi đột ngột, nhưng Lawrence chẳng có gì cần giấu về Col và Myuri. Anh bình thản cho biết rằng họ đang trên đường đến gặp hai người đó, khiến vị viện trưởng gật đầu đầy thấu hiểu.

“Ra vậy. Chà, dạo gần đây chúng tôi nghe nói về hành tung của cậu Col suốt. Nghe cứ như chuyện của một anh hùng chiến trận, chắc ngài cũng lo lắm.”

Col đã rời Nyohhira để quyết tâm cải tổ Giáo hội vốn đã quá đỗi mục nát. Cô con gái độc nhất của họ, Myuri, đã đi theo cậu, và theo lời đồn thì hai người đang làm nên nhiều điều lớn lao.

“Cha viện trưởng, cha đang trên đường đến Nyohhira ạ?”

“Đúng vậy. Nhờ ảnh hưởng của ngài Col mà mùa xuân và hè vừa qua thật rối ren. Nay mọi chuyện tạm lắng xuống, ta mới có cơ hội nghỉ ngơi đôi chút.”

Hiện tại, các nhà thờ và tu viện đang phải rà soát lại tài sản của mình dưới sức ép từ Col và Myuri. Ai nấy đều bận rộn thu xếp giấy tờ và tài sản để tránh bị lôi ra làm dê tế thần.

“Trời ạ… Con thành thật xin lỗi vì Col gây ra nhiều phiền toái như vậy.”

“Ôi không, cậu ấy chẳng gây phiền gì đâu. Đây là cơ hội tuyệt vời mà. Để bắt đầu một cuộc cải cách kỹ lưỡng mà không có cớ thì khó lắm.”

Lawrence, người cũng đang bị lôi kéo vào công cuộc cải cách đó bởi nhóm giáo sĩ quen biết qua nhà tắm, chỉ còn biết gượng cười mà chẳng nói gì.

Trong lúc đang trò chuyện linh tinh, Holo chợt khẽ kéo tay áo anh.

Cô ra hiệu đã đến lúc vào đề, hỏi thứ họ đến đây để tìm.

“À đúng rồi, nếu có thể tôi xin hỏi một điều,” Lawrence mở lời. “Chẳng hay ở đây có dư dả đồ văn phòng phẩm nào không?”

Không chỉ cha viện trưởng mà cả ông chủ quán trọ đang mang rượu ra cũng nhìn Lawrence ngơ ngác.

“Văn phòng phẩm?”

“Chúng tôi ghi chép lại những điều gặp được trên đường làm tư liệu, nhưng giấy mực đã hết. Nếu ở đây có dư thì không biết chúng tôi có thể mượn tạm được không?”

Khi Lawrence nói xong, viện trưởng và chủ quán trọ nhìn nhau, rồi cả hai cùng quay sang anh với nụ cười ái ngại.

“Chúng tôi vừa mới bàn về chuyện này tức thì.”

“Vâng?”

Viện trưởng hắng giọng.

“Nhờ những gì cậu Col đã làm, hiện tại kho văn khố khắp nơi đều đang bị lục tung. Và cậu Col còn đang soạn bản dịch Kinh Thánh sang ngôn ngữ phổ thông nữa, đúng chứ? Vì vậy mà bút lông, mực, giấy... cứ về hàng là bán sạch veo.”

Thông thường thì chỉ có số ít người biết đọc viết, nên nhu cầu bút mực vốn rất thấp.

“Tôi cũng đã dò hỏi ở những thị trấn từng ghé qua, nhưng chúng hiếm vô cùng, mà còn bị đẩy giá lên cao. Còn ngài Beavery đây,”—viện trưởng chỉ sang vị lãnh chúa—“ngài ấy đã gom mua khá nhiều từ năm ngoái, nên chúng tôi vừa mới thương lượng xem có thể chia sẻ chút ít không.”

Chữ lãnh chúa thường gợi hình ảnh một người râu quai nón, gương mặt nghiêm nghị. Mặc dù Beavery có bộ râu rất ra dáng, nhưng ánh mắt ông lại ôn hòa, thậm chí có phần lơ đãng.

Ngay từ cách chìa tay bắt tay khi nãy cũng cho thấy ông là người điềm tĩnh.

“Tôi chỉ mua lại chúng từ một anh hát rong từng lưu lại làng mình năm ngoái thôi. Anh ta bảo rằng đã gặp và cưới một vũ nữ ở Nyohhira rồi về quê. Người ấy nói giờ cần tới cày hơn là cần bút.”

Làm hát rong hay vũ nữ không phải công việc có thể duy trì mãi. Lawrence từng thắc mắc những người như thế sẽ sống sao sau khi giải nghệ, và giờ thì anh đã biết được một ví dụ.

Thế nhưng, vì viện trưởng đã ngỏ lời trước nên Lawrence cũng đành gác hy vọng. Anh đang định bảo Holo đợi tới khi họ tới được Atiph, thì vị viện trưởng chợt nói.

“Nhưng, ngài Beavery, chẳng phải đây chính là ý Chúa khi để ngài Lawrence tìm đến đây xin giấy mực hay sao?”

“Sao ạ?”

Lawrence vừa hỏi lại, thì Beavery, viện trưởng và chủ quán trọ đều đồng loạt nhìn anh mỉm cười.

Chủ quán lên tiếng trước.

“Ngài Beavery đang cần người giúp một việc. Nơi này vốn là chốn lui tới của nhiều bậc học giả thông thái mà.”

“Tiếc là tôi không thuộc hạng đó, nhưng tôi tin ngài Lawrence sẽ phù hợp thôi.”

Sau lời của viện trưởng, Beavery ngồi thẳng lưng và nhìn thẳng vào Lawrence. Đây là một cử chỉ điển hình của người có địa vị.

“Ta, Beavery, đã thành tâm cầu nguyện tới Chúa tại vùng đất từng bị cho là tà giáo này. Và thật đúng là vận may khi gặp được ngài Lawrence, thương nhân danh tiếng từng âm thầm hỗ trợ Công ty Debau.”

Lawrence hoàn toàn bối rối, không hiểu mọi chuyện rốt cuộc đang dẫn đến đâu, nhưng Holo bên cạnh lại đang ung dung nhấm nháp ly rượu, nghĩa là tình hình không có gì đáng ngại.

Lawrence khẽ hắng giọng, ngồi thẳng lưng, đáp lời:

“Không biết tôi có thể giúp gì cho ngài, thưa lãnh chúa?”

Beavery đáp nhẹ nhàng. “Ngài có thể cứu vùng đất của ta khỏi cơn nguy khốn này không? Nhờ con mắt thương nhân tinh tường của ngài?”

Vị lãnh chúa râu rậm, ánh mắt lơ mơ ấy khẩn cầu rồi quay sang vị viện trưởng ngồi bên. “Ta muốn tặng ngài Lawrence một ít giấy mực để cảm tạ. Ngài có phiền không?”

“Ồ, tất nhiên là không. Tôi tin rằng đó cũng là ý Chúa mà.”

Beavery gật đầu, quay lại phía Lawrence.

“Thế đấy, đó là điều ta mong muốn. Ngài nghĩ sao?”

Đây là lời thỉnh cầu tha thiết từ một vị lãnh chúa vùng lân cận. Và xét thấy giấy mực đang khan hiếm ở khắp nơi, cũng chẳng có gì đảm bảo là họ sẽ mua được ngay cả khi tới tận Atiph.

Trong đầu Lawrence, những hồi chuông cảnh báo của một thương nhân reo vang dữ dội, tự hỏi mình sẽ bị nhờ vả chuyện gì. Nhưng anh cũng cảm thấy áp lực vô hình từ Holo đang đè lên. Nếu nói không lúc này, anh sẽ phải chuẩn bị tâm lý không được nằm ôm chiếc đuôi của cô trong một thời gian dài.

“Được thôi. Tôi sẽ cố hết sức giúp ngài.”

“Ôi, tuyệt vời quá!”

Beavery bật dậy, dùng cả hai tay nắm lấy tay Lawrence.

Vị viện trưởng cất lời cầu nguyện khi thấy cảnh tượng ấy, còn chủ quán trọ thì rót đầy ly để nâng cốc chúc mừng.

Lawrence nở một nụ cười cảnh giác, đúng kiểu thương nhân, nhưng trong lòng anh vẫn còn vướng bận.

Một vị lãnh chúa hay lui tới quán trọ vùng rừng núi thế này rốt cuộc đang tìm kiếm điều gì?

Dù có phần lo lắng, nhưng anh cũng thấy hứng thú.

Họ cần tri thức thương nghiệp của anh, vậy anh sẽ vận dụng tất cả những kinh nghiệm mình từng có.

“Ta muốn mời ngài đến lãnh địa của tôi ngay bây giờ. Ta sẽ chiêu đãi ngài những sản vật phong phú của vùng—” Beavery niềm nở nói đến đó thì khựng lại, quay sang chủ quán trọ. “Có làm phiền việc buôn bán của ông không vậy, chủ quán?”

Beavery có vẻ rất nghiêm túc, nhưng cả chủ quán lẫn vị viện trưởng đều phá lên cười rồi lắc đầu.

Xem ra Beavery là kiểu lãnh chúa được lòng dân. Ngay cả Holo, người luôn nghiêm khắc trong đánh giá, cũng có vẻ rất vui vẻ khi ngồi bên Lawrence.

“Vậy thì chúng ta đi thôi, trước khi mặt trời lặn. Dinh thự của ta không xa lắm đâu.”

Khi Beavery nói thế, Lawrence cúi đầu đáp lễ.

~~~

Lãnh địa của Beavery quả thật không cách quán trọ là bao. Trên đường đi, Lawrence nghe kể rằng quán trọ kia vốn là xưởng đốn gỗ cũ, từng thuộc sở hữu của gia tộc vị lãnh chúa này.

Rừng thưa dần, và khi họ ra tới một khoảng đất trống nằm giữa hai khu rừng, một ngôi làng nhỏ hiện ra trước mắt.

Dân làng đi ngang Beavery cùng người cận vệ duy nhất của ông liền chào hỏi rất tự nhiên.

Ngôi làng ấy toát lên vẻ mộc mạc, không có bò hay ngựa, chỉ có vài con la thồ hàng đi lại chậm rãi, nhưng rõ ràng đây là một ngôi làng yên bình, được cai quản tốt.

“Ngài Lawrence, ta có một vấn đề nghiêm trọng muốn nhờ ngài giúp đỡ. Trưởng làng đang đau đầu vì chuyện đó rồi.”

Đó là điều Beavery đưa ra khi họ đi trên con đường nhỏ giữa hai cánh đồng lúa mì đã gặt xong.

“Một chuyện cần đến kiến thức thương mại của tôi ư?”

“Rất cần là đằng khác.”

Beavery nở nụ cười thân thiện với một người nông dân đang đi về sau ngày làm đồng, rồi tiếp tục nói:

“Thật ra, cả ta và dân làng đều chẳng ai biết gì về buôn bán, nên hoàn toàn không biết phải làm sao…”

“Nhưng tôi thấy làng này có vẻ yên ổn mà. Không có dấu hiệu gì cho thấy đang gặp vấn đề cả.”

Thông thường, chỉ cần đặt chân đến một ngôi làng, là có thể nhận ra ngay rằng người dân có đang ngập trong nợ nần do rơi vào tay lũ thương nhân gian trá, hay đang phải oằn mình chịu thuế khóa từ một lãnh chúa tàn bạo hay không.

“May thay, vấn đề không ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống thường nhật của người dân… chính vì vậy mà chúng ta vẫn chưa thật sự xem trọng nó.” Beavery thở dài. “Ngay cả những ngôi làng xa xôi thế này, khi làn sóng của thế giới—hay nên gọi là những đợt sóng lớn—ập đến, con người cũng bị cuốn trôi. Bản thân ta cũng bắt đầu cảm thấy hoang mang trong cách nghĩ của mình.”

“Ý ngài là sao?”

Lawrence hỏi, và Beavery đáp với đôi mắt mang đầy ưu tư, như thể sắp thổ lộ nỗi xấu hổ của gia tộc mình.

“Là chuyện nên làm gì với khu rừng đã nuôi sống vùng đất và người dân nơi đây.”

“Rừng à?”

Có gì đó ánh lên trong đôi mắt của Holo, lúc này đã ngà ngà sau khi dùng rượu tại quán trọ.

“Đúng vậy. Như cha viện trưởng đã nói, thế giới đang cuồn cuộn chuyển mình, và chúng ta cũng bị kéo theo. Nói ngắn gọn thì—”

Dinh thự đơn sơ của vị lãnh chúa đã hiện ra ở cuối con đường dẫn vào rừng.

“Chúng tôi đang tranh cãi xem làm sao mới có thể khai thác khu rừng này sao cho sinh lợi nhất,” vị lãnh chúa chất phác nói, khuôn mặt thể hiện rõ vẻ cùng quẫn.

~~~

Bữa tối mà Beavery chiêu đãi họ đêm đó được bày kín bàn với thỏ rừng, chim cút, gà gô, và ngỗng trời.

Không phải là những loại thịt lớn thường dùng để ướp muối như bò hay heo, mà là sản vật tươi ngon từ rừng núi, những thứ mà chỉ cần tưởng tượng ăn được ở thị trấn thôi cũng đủ khiến mấy đồng vàng bay khỏi túi Lawrence.

Holo dĩ nhiên là vui sướng vô cùng, nhưng Lawrence thì lại càng cảm thấy áp lực đè nặng thêm.

Những điều Beavery nói trong bữa ăn hoàn toàn không phải là chuyện có thể giải quyết đơn giản.

“Phù… Lâu lắm rồi em mới được ăn thịt ngon như thế này…”

Holo nằm dài trên giường, tay đặt lên bụng, đuôi phe phẩy qua lại đầy thỏa mãn.

“Chỉ cần nếm thịt cũng đủ biết—cánh rừng sau dinh thự này thật sự rất tuyệt vời. Vậy mà lại có kẻ muốn đốn sạch cây để lấy gỗ… Thật là ngu xuẩn. Ý của tên râu xồm kia về việc giữ rừng nguyên vẹn cũng đáng ghi nhận đấy.”

Lawrence đang ngồi ở mép giường, quay sang nhìn Holo vừa mới ợ khẽ một tiếng, rồi lại nhìn về phía ánh nến, thở dài.

“Em nói cũng có lý, nhưng…”

“Gì? Anh đứng về phía lũ ngốc à?”

Giọng Holo có phần gay gắt, bởi vì đây là chuyện liên quan đến tương lai của cả cánh rừng.

Dù không phải là lãnh địa của cô, nhưng nghĩ đến việc khu rừng trù phú kia bị phá hoại cũng khiến cô không thể nào chịu nổi.

“Anh hiểu cảm giác của dân làng khi họ nói muốn đốn cây lấy gỗ đem bán chứ.”

“…Hmm?”

Holo mở một bên mắt, nhìn sang Lawrence.

“Chiến tranh với dân dị giáo vừa kết thúc, thương mại bùng nổ, và nhiều thứ bắt đầu leo thang giá. Đó cũng là lý do vì sao dạo này bọn anh cứ lo lắng mãi về chuyện thiếu tiền lẻ ở Nyohhira.”

Lawrence vẫn còn nhớ như in cảnh mấy ông bà chủ nhà tắm vây quanh mình ngay khi nghe tin anh và Holo chuẩn bị lên đường, ai cũng nhờ vả đổi giúp chút tiền lẻ.

“Trong số đó, gỗ đang rất được chuộng vì cần dùng làm thuyền, xe ngựa, thùng chứa và đủ thứ khác nên giá mới tăng vọt. Nhân lúc này đốn ít cây kiếm chút lời cũng không phải là chuyện ngu ngốc.”

Holo quay người nằm nghiêng, chống tay lên đầu, đập đuôi xuống giường một cách khó chịu.

“Ngốc. Làm vậy khác nào phá hoại cánh rừng tuyệt đẹp này. Anh quên mất hương vị của mấy món thịt khi nãy rồi à?”

“Anh hiểu ý em chứ. Không khí thanh bình ở ngôi làng này, chắc cũng nhờ vào sự trù phú của cánh rừng.”

“Ừm. Anh hiểu là tốt rồi.”

Holo có vẻ đắc ý như thể vừa được khen; có lẽ cô đang hơi say.

“Beavery là một vị lãnh chúa tử tế và biết điều. Ông ta để dân làng tự do hái nấm, lấy mật ong, thậm chí là lúa mạch dại trong rừng. Nhờ vậy mà dù có năm mất mùa, họ cũng không bao giờ phải lo chết đói.”

“Ừ. Thế cũng tốt…”

Holo nói, đôi mắt đã lim dim. Có lẽ vì cô đã ăn uống quá no, cộng thêm sự mệt nhọc sau chuyến đi dài ngày đầu tiên sau một thời gian.

“Nhưng nói gì thì nói, dân làng vẫn cần bạc để sống. Họ phải có tiền mới mua được những thứ mà làng không tự làm ra được.”

“Ừm… Nhưng chặt cây đem bán ư? Thật là một ý tưởng ngốc nghếch…”

Đầu Holo rơi khỏi bàn tay đang chống.

Cô sắp sửa cuộn mình lại ngủ luôn, nên Lawrence thở dài rồi đứng dậy, bắt đầu cởi áo khoác của cô.

“Ư ư… Em mặc thế này ngủ cũng được…”

“Không được. Em sẽ làm hỏng vải mất.”

“Đồ ngốc…”

Holo lười nhác đáp lại. Anh thấy ngạc nhiên khi đôi lúc cô cư xử như thế này, vậy mà lại luôn tự nhận mình là sói thông thái, từng được thờ phụng như thần linh.

Sau khi cởi áo cho cô, anh tháo luôn túi lúa mạch đeo quanh cổ, đặt bên gối.

Tới lúc đó thì cô đã say giấc, khe khẽ ngáy.

“Thật là, đúng là phiền toái.” Lawrence thở dài, gấp áo lại, rồi bước tới bên cửa sổ.

Gió thu đêm lạnh phả vào da thịt, rừng sâu vẫn chìm trong bóng tối dù ánh trăng sáng vằng vặc.

“Cây bị đốn thì rồi cũng mọc lại… nên nhân lúc giá cao mà bán đi, cũng là hợp lý nhỉ?”

Chắc chắn không ít người trong làng đang nghĩ như thế.

Tuy nhiên, Beavery, người đã quản lý vùng đất này suốt bao đời, lại lo sợ rằng nếu đốn sạch rừng để kiếm lời ngắn hạn thì sau này họ sẽ không còn dựa vào phúc lành từ rừng được nữa.

Cho dù đó là một kiểu niềm tin mang màu sắc tôn giáo, thì cũng không hoàn toàn vô lý.

Nấm rừng nếu bị hái tận gốc để thỏa lòng tham, chỉ vài năm là hết. Cây bị đốn sẽ khiến dòng khí lưu thay đổi, dòng nước cũng thay đổi, thực vật biến chuyển, và cả môi trường sống của chim chóc lẫn ong bướm cũng biến mất.

Và sẽ mất hơn cả một thế hệ thì cây cối mới có thể phục hồi.

Cuối cùng, việc do dự có nên chọn con đường tắt này hay không hoàn toàn có lý.

Nhưng nếu trong lúc còn lưỡng lự mà giá gỗ tụt xuống, rồi đột nhiên gặp hạn hán, hỏa hoạn hay thiên tai nào đó buộc phải cần đến một khoản tiền lớn thì sao?

Lúc đó chắc hẳn sẽ có người bắt đầu cãi cọ, bảo rằng đúng ra nên bán gỗ từ sớm.

Vị lãnh chúa ấy, Beavery chỉ mong muốn giảm bớt gánh nặng cho dân làng, đồng thời vẫn giữ được cánh rừng tươi tốt cho tương lai và dành ra một khoản dự trữ cho lãnh địa.

Vậy thì họ nên làm gì đây?

Lawrence vẫn đang nhìn ra cánh rừng đêm mờ mịt, nhưng rồi cuối cùng cũng thở dài, đóng cửa sổ lại.

Đây không phải là vấn đề có thể tháo gỡ chỉ bằng vài suy nghĩ đơn giản.

Anh sẽ phải lắng nghe ý kiến của dân làng, và tùy tình hình mà có khi phải gặp cả trưởng làng hoặc các vị bô lão để thương lượng.

Rốt cuộc, đây còn hơn cả chuyện buôn bán đơn thuần, mà nó là một vấn đề về quản lý công: hiểu được nguyện vọng của dân rồi tìm ra điểm dung hòa làm hài lòng tất cả.

Mà người có thể giúp nhiều nhất trong những lúc thế này, chính là Hiền giả Sói Holo.

Lawrence vừa nghĩ đến đó, vừa khoanh tay thở dài.

Holo đang cuộn tròn, ôm chặt lấy chăn, khẽ khàng ngáy.

“Bảo sao người ta gọi em là Hiền giả Sói.”

Nhìn khuôn mặt say ngủ yên bình của cô dưới lớp chăn, khóe môi anh cong lên mỉm cười.

Anh cúi xuống đặt một nụ hôn lên má cô, rồi thổi tắt nến, chui vào chăn.

Tạm thời, mọi chuyện sẽ được anh để lại cho ngày mai.

Chỉ trong chốc lát, giấc ngủ đã ùa đến với anh.

~~~

Không hẳn là vì muốn cảm ơn món thịt ngon đã được chiêu đãi tối qua hay gì đó cao cả đến thế. Mà chính là nỗi phẫn nộ trước việc khu rừng trù phú này có thể bị tàn phá đã khiến Holo hăng hái hành động.

“Này, Holo… đợi anh với!”

Cả Lawrence lẫn Holo, hiếm hoi thay, đều dậy sớm để đến xem khu rừng tận mắt, nhưng trên đường đi, Lawrence than phiền vì tốc độ đi quá nhanh của Holo.

“Gì đấy? Đêm qua anh uống nhiều quá hả?”

Thì ra, trong việc băng rừng lội suối, cách bước đi còn quan trọng hơn cả sức mạnh hay thể lực.

Dáng đi của Holo quả thật như sói thật sự, nhẹ nhàng mà lao vun vút trên mặt đất. Với một người như Lawrence, giờ đây đã quen với cuộc sống của ông chủ nhà tắm, thì tốc độ đó thật khó mà đuổi kịp.

“Nhưng mà em… khụ khụ… sao lại sốt sắng đến thế?”

Lawrence thở không ra hơi, nên uống một ngụm nước mát từ túi da, còn Holo thì ngoái đầu lại, đôi mắt đỏ ánh lên sắc lạnh.

“Em không sốt sắng gì cả. Chỉ là em thấy những kẻ định phá hủy khu rừng thế này đúng là ngu không cứu được thôi!”

Nói vậy thì rõ ràng là đang tức giận còn gì. Nhưng nếu có chỉ ra thì cũng vô ích. Lawrence thở dài, lấy tấm bảng gỗ đang kẹp dưới tay ra.

Trên đó có phủ một lớp sáp dùng để viết bằng bút gỗ nhọn.

Trên bề mặt là ghi chép tỉ mỉ về cảm nghĩ của dân làng đối với khu rừng này.

“Dù sao thì, rừng của Beavery đúng là rộng thật. Đây là, ờm… nơi họ thu hoạch ngũ cốc dại thì phải.”

Ngay cả yến mạch hay lúa mì cũng có thể tìm thấy trong rừng. Tuy không ngon bằng giống trồng bài bản, nhưng lại rất hữu ích trong việc ủ bia hoặc làm thức ăn cho súc vật thồ hàng.

“Ừm. Khu này được khai phá vừa đủ nên nắng chiếu tốt, lại nằm trên đồi nên thoát nước tốt. Em mà xua được lũ nai lợn đi thì cũng đảm bảo coi sóc được nông nghiệp nơi đây suốt ngàn năm luôn đấy.”

Vì Holo là hiện thân của sói trú ngụ trong lúa mì, nên lời đó quả thực đáng tin.

“Một số người nghĩ rằng đốn cây ở đây thì cũng không ảnh hưởng nhiều lắm.”

Lawrence nghĩ, nếu mở rộng mảnh đất này ra, dân làng có thể tăng diện tích canh tác.

“Hmph, chúng thật là ngu ngốc.” Holo quay phắt người lại, nhìn khu đất trống giữa rừng như thể dùng đuôi xua tan ý nghĩ đó đi. “Cứ thử chặt hết cây quanh đây xem. Gió mùa đến mang theo mấy ngày thời tiết xấu là sẽ quật ngã hết đám lúa mới nhú. Lúc đó, thứ duy nhất còn mọc được là mấy giống thấp tè ụ và mập ú vô ích, mà chúng thì chẳng đẻ ra được hạt thóc nào ra hồn cả thôi. Vài năm sau, ở đây sẽ chỉ còn đầy cỏ gai vừa không luộc được cũng chẳng xào ăn nổi.”

Holo từng sống hàng thế kỷ trong những cánh đồng lúa mì nơi thôn làng, mà trước đó còn là vị thần của vùng Yoitsu, sâu trong núi hơn cả Nyohhira. Nên chắc chắn cô đã chứng kiến những thay đổi của rừng suốt một quãng thời gian mà Lawrence không thể nào hình dung nổi.

“Anh hiểu rồi. Hồi xưa, có lần đến một làng nọ buôn bán, họ cũng than phiền vì bỗng dưng không còn được rừng ban phúc như trước. Hóa ra là vì vậy.”

“Ừ. Với họ, phúc lành từ rừng là điều hiển nhiên, nên cũng không trách được khi họ nghĩ nó sẽ tồn tại mãi. Nhưng rừng thì mỏng manh hơn cái cân tiểu ly mà anh hay dùng ấy.”

Holo ngồi xổm xuống, nhặt một cọng rơm rơi trên đất rồi nghịch nghịch như đứa trẻ.

“Đi đâu tiếp đây?”

“Phía đông… Hử?”

Lawrence đang đọc tiếp ghi chép từ dân làng thì bất ngờ bật tiếng kinh ngạc.

“Gì thế?”

“À…” Lawrence quay tấm bảng lại cho Holo xem. “Là cảnh báo có ong đấy.”

Trên người anh vẫn còn vết đỏ vì bị ong đốt khi đi lấy tổ hôm trước.

Anh đang bôi thuốc mỡ làm từ mỡ lợn lên đó, còn Holo thì bôi giúp ở những chỗ anh không với tới, nên đương nhiên cô biết rõ Lawrence đau cỡ nào.

Nhưng đứng trước anh lại là một con sói ham ăn.

“Ý anh là nên nhân cơ hội này chứ gì?”

“Không! Anh không định lấy tổ nào nữa đâu!”

Nếu không phản đối dứt khoát ngay từ đầu thì kiểu gì cũng bị cô dụ dỗ dần dần đến lúc lại phải trèo cây lấy tổ cho xem.

Holo phá lên cười khúc khích, ngoạm cọng rơm trong tay rồi chỉ về hướng đông.

“Thế thì đi thôi.”

Nhìn dáng vẻ phấn chấn của Holo, không hiểu sao Lawrence lại cảm thấy mệt mỏi khi rảo bước theo sau cô.

~~~

Holo may mắn thay đã bước đi cẩn trọng trên con đường mòn xuống dốc thoai thoải. Cô báo cho anh biết những cái hố bị lá rụng che khuất khiến mặt đất trông có vẻ ổn định, xác định hướng gió, rồi tìm đường vòng dễ đi hơn cho cả hai.

Càng đi sâu vào rừng, không khí càng nặng nề và ẩm ướt hơn.

Ở đây có rất nhiều cây thường xanh khiến ánh mặt trời bị che khuất.

Tiếng động thỉnh thoảng vang lên và tiếng cành cây gãy có lẽ là từ lũ chim mà anh không nhìn thấy, hoặc từ sóc và chuột chỉ vừa kịp lẩn khuất vào tán lá.

Rất nhiều quả sồi và các loại hạt khác rải rác dưới chân họ, nếu thả một con lợn ra đây thì chắc chắn nó sẽ béo ú trong chớp mắt.

“Càng đi sâu vào trong thì khu rừng này lại càng tuyệt hơn,” Holo thở dài đầy thán phục, Lawrence cũng gật đầu đồng tình. “Thế này thì bảo sao dân làng chẳng mấy ai chăm làm ruộng,” cô nói thêm.

“Hmm… Nhưng anh thấy ruộng ở làng đâu đến nỗi tệ nhỉ? Có đúng vậy thật không?”

“Họ chẳng bận tâm đâu. Vì chỉ cần đi vào rừng là tìm được bao nhiêu thức ăn tùy thích, nên như vậy cũng là điều tất yếu thôi. Mà chính vì thế, em lại càng không hiểu tại sao họ lại tranh cãi chuyện xử lý khu rừng. Mất nơi này rồi thì biết bao người sẽ lâm vào cảnh khốn cùng.”

Holo vừa nói vừa dõi theo một con sóc đang chạy trên cành cây, và Lawrence đáp lại:

“Là vì không phải ai cũng được hưởng ân huệ của rừng như nhau.”

“Hmm?”

Holo, lúc này đã đổi từ cọng rơm sang cành cây, gõ vào rễ cây như thể đang chán chường, rồi quay đầu nhìn Lawrence.

Anh cúi xuống và tìm thấy vài loại thảo mộc có thể dùng để hạ sốt, và vì Beavery đã cho phép họ lấy bất cứ gì từ rừng, nên anh không ngần ngại thu nhặt.

“Những thứ như thảo dược, nấm hay hạt thì ai cũng dùng được. Nhưng hoạt động của con người thì lại phức tạp lắm.”

Holo không nói gì, nhưng ánh mắt cô ra hiệu bảo anh nói tiếp.

Lawrence bước bên cạnh cô và lên tiếng:

“Phúc lành của khu rừng tuy nhiều, nhưng không phải cái gì cũng đổi thành tiền được.”

“Mật ong, chẳng hạn?”

“Ừ. Anh nghĩ đó là ví dụ dễ thấy nhất trong các loại thực phẩm. Có thể bán rượu bia hay rượu táo tùy vào nguyên liệu, nhưng nếu nước ở khu này không tốt thì người ta còn chẳng buồn xem xét. Mà nơi đây thì lại xa xôi hẻo lánh, vận chuyển thì tốn thời gian lẫn chi phí. Mấy thứ lỏng thì nặng, nên phí chuyên chở mới là phần đắt nhất. Mà nếu hương vị không thật sự xuất sắc thì ra chợ cũng chẳng bán được.”

Holo ra vẻ trầm ngâm, có lẽ vì đang nhớ lại chuyến hành thương của mình với Lawrence.

“Cũng có thể đưa cừu và lợn từ thành đến cho chúng gặm cỏ, nhưng cuối cùng thì khoảng cách vẫn là vấn đề lớn nhất.”

Đúng lúc anh vừa nói xong, một chuyện xảy ra.

Holo bỗng vươn cổ ra và nhìn sâu vào trong rừng.

“Gì thế?”

“…Mùi than củi.”

Anh thoáng lo sợ đó là cháy rừng, nhưng thấy Holo không tỏ vẻ hoảng hốt gì, nên anh cũng hiểu ra ngay nguyên nhân.

“Là dấu vết còn sót lại của việc đốt gỗ làm than.”

Có một ụ đất nhỏ nằm gần đó.

Để làm than, người ta thường chồng củi lên mặt đất cùng lá ướt, rồi đốt cháy. Sau đó phủ đất lên, chỉ chừa lại một lỗ thông khí hoặc ống dẫn ở giữa. Rồi chỉ cần để qua một hai ngày là được.

“Than ai cũng cần, nhưng có những người cần nó hơn cả.”

“…Thợ mổ thịt chăng?”

Lawrence không kìm được mà bật cười khúc khích, liền bị Holo lườm cho một cái sắc lẹm.

“Xin lỗi, xin lỗi. Thịt nướng chầm chậm trên than ngon lắm đó.”

Holo quay đi, ra vẻ giận dỗi, rồi lấy cây gậy cào cào đống than sót lại.

“Những người dùng than nhiều nhất là thợ rèn.”

“À… Những kẻ lúc nào cũng đốt lửa trong rừng và phát ra tiếng kim loại phải không?”

“Loại đó chắc là mấy lò rèn lớn hơn. Nhưng đại khái là thế.”

“Thế… có phải họ là người yêu cầu chặt cây không?”

Ánh mắt Holo hướng về tấm bảng gỗ anh đang cầm.

“Cũng có khi. Nhất là khi nhiên liệu giờ đắt đỏ, thì đồ sắt tăng giá là điều dễ hiểu. Với khu rừng màu mỡ thế này, họ có thể coi đây là cơ hội làm giàu.”

“Tham lam thật.”

“‘Đừng bỏ lỡ cơ hội, người ta vẫn nói thế mà.”

Holo hừ một tiếng rồi thở dài.

“Nói chung, như em nói lúc trước, thật khó để biến toàn bộ phúc lành mà dân làng nhận được từ khu rừng này thành tiền. Nhưng cũng không có nghĩa là những phúc lành đó có thể chia đều cho tất cả mọi người.”

Những người kiếm được nhiều nhất sẽ là tiều phu, những kẻ trực tiếp chặt cây, và các phu khuân vác chở gỗ. Tiếp theo sẽ là nhóm đốt than và thợ rèn. Dĩ nhiên, không phải tất cả số tiền đó sẽ vào túi họ. Họ vẫn phải nộp thuế cho Beavery, và số tiền đó sẽ vào quỹ làng.

Nhưng rồi từ đó sẽ nảy sinh ra lòng tự tôn của những kẻ đã kiếm nhiều tiền cho làng, và một trật tự phân chia đẳng cấp rõ rệt sẽ xuất hiện.

Dù không trực tiếp kiếm tiền, nhưng thợ săn, người đi hái lượm là những cá nhân mang lại sự đa dạng quý báu cho bữa ăn của dân làng, và cả những người đổ mồ hôi ngoài đồng ruộng, hẳn sẽ chẳng lấy gì làm vui vẻ trước tình hình đó. Điều mà Beavery lo lắng hơn cả việc rừng bị tàn phá, chính là sự bất ổn trong lòng dân.

“Chắc chắn phải có cách dễ kiếm tiền hơn.”

“Ừm.” Holo nhắm mắt lại, như thể đang lắng nghe thứ gì đó xung quanh, rồi nói. “Đúng vậy. Còn da thú thì sao?”

Holo là hiện thân của sói, mà thỉnh thoảng ở chợ cũng có thấy các sạp hàng bày bán da sói. Đây là một đề tài khá nhạy cảm, nhưng vì chính Holo là người nêu ra, nên anh buộc phải trả lời.

“Da thú là một trong số ít thứ có thể đổi lấy tiền, nhưng… hầu hết thợ săn lại đồng tình với việc chặt cây.”

Holo cau mày.

“Họ nghĩ đốn cây xong thì dễ đuổi theo con mồi hơn.”

“…”

Holo tròn mắt vì kinh ngạc, rồi đánh bốp một cái vào thân cây bằng cây gậy cô cầm.

“Con người đúng là lũ ngốc.”

“Nhưng bọn thuộc thợ thuộc da thì lại phản đối chặt cây, nên thành ra hai bên lại cân bằng nhau.”

“…Hửm?”

Holo có vẻ bối rối. Có lẽ cô không hiểu vì sao thợ thuộc da lại phản đối.

Càng có nhiều con mồi bị săn, thì càng nhiều da cần được xử lý, đáng lý phải vui mới phải. 

Lawrence liền giải thích cách thế giới con người hoạt động cho cô.

“Người ta cần phải thuộc da với lông đúng chứ? Nên vì thế họ cần một chỗ ở sâu trong rừng. Vì vậy nên… À, đúng rồi. Chắc cẩn thận ong là nói đến chuyện đó.”

Khi anh nhìn vào những cái cây quanh mình, anh nhận ra điều gì đó.

“Ôi chao. Có lẽ không phải loại ong em mong muốn rồi.”

Blè… Có phải loại bâu vào bò không?”

Cô đang nhắc đến ruồi trâu hút máu. Có vẻ như lũ côn trùng là thứ duy nhất không nằm trong sự kiểm soát của loài sói, những kẻ được mệnh danh là vua của rừng già.

Holo nhăn mặt tỏ vẻ ghê tởm.

“Không, là loại bu kín lấy cây ấy.”

“Vậy… không phải sao? Loại ong hút nhựa ấy à? Loại đó ở đâu chẳng có.”

Tổ ong mà họ lấy được trước đó cũng là tổ chứa mật thu từ những cây tiết nhựa.

Nhưng côn trùng thì có đủ cách dùng cây.

“Là loại làm tổ bên trong thân cây. Em chưa thấy mấy cái hạt kỳ quặc mọc trên cây bao giờ à?”

Holo nhìn anh trân trân một lúc, rồi gật đầu lơ đãng.

“Ừ… đôi lúc em có thấy. Loại mọc thẳng ra từ cành cây đúng không? Nhưng gọi mấy cái đó là ‘hạt’ thì… Chúng giống mấy cái u sần sùi kỳ quặc trên thân cây hơn. Ăn không được đâu.”

Cô thè lưỡi ra rồi nhăn mặt, có lẽ là vì từng ăn thử một cái.

“Mấy thứ đó mọc ra là vì lũ ong đẻ trứng vào trong. Có thể gọi là cái nôi cũng được.”

Holo, vốn luôn ghê sợ lũ côn trùng sống ký sinh và ăn thịt loài khác đến mức từng khóc thét, giờ tái mặt khi nghe điều đó. Nhưng vì cô cũng từng khen trứng ong là món ngon, nên có vẻ sự tò mò đã lấn át sự kinh tởm.

“Rồi sao? Thế thì có liên quan gì đến da thú?”

“Liên quan nhiều đấy. Thợ thuộc da cắt mấy cái u đó ra, ngâm vào nước rồi đun sôi, rồi dùng chất lỏng thu được để thuộc da.”

“Ohhh. Ra là vậy… Có cả đống da thú mà không có gì để thuộc thì cũng chẳng ích gì.”

“Chính xác. Và da thú là một trong số ít món hàng có thể đổi lấy tiền mặt ngay. Nó là yếu tố lớn nhất giúp giữ được khu rừng này.”

Holo gật đầu, nhìn anh như thể cuối cùng cũng đã tìm được ánh sáng, nhưng rồi cô như chợt nhận ra điều gì đó.

“Nhưng mà này, giữa da thú với gỗ, cái nào sẽ sinh lời nhiều hơn?”

Anh chẳng mong gì hơn từ một sói thông thái—không, là từ người vợ của một thương nhân từng trải.

“Chắc chắn là gỗ rồi, không nghi ngờ gì cả.”

Holo thở hắt ra, thất vọng, rồi ném cây gậy đi.

Sau đó, cô khoanh tay lại, đảo mắt nhìn quanh như thể cô chính là kẻ thống trị khu rừng. Ngay cả cô cũng hiểu rằng lời hứa hẹn về món lời lớn luôn có sức nặng hơn.

“Nhưng như anh đã nói sáng nay, bọn anh cần trí khôn của em.”

Họ đã vào rừng với hy vọng sẽ tìm được một thứ gì đó có giá trị tương đương gỗ để giúp phe thợ thuộc da bảo vệ khu rừng, nhưng kết quả không được như mong đợi.

Cũng giống như việc Lawrence nắm rõ các ngóc ngách của thương trường, thì dân làng ở đây cũng đã sống cùng khu rừng này từ khi sinh ra. Sẽ là ngạo mạn nếu nghĩ rằng chỉ riêng anh có thể nhận ra điều mà họ chưa từng thấy.

“Hmm… Anh có thể nói về những lợi ích của việc giữ nguyên khu rừng, và những tai hại sẽ xảy ra nếu chặt cây…”

“Hoặc là ta có thể lột một lớp lông của em ra.”

Khi Lawrence nói vậy, Holo bĩu môi, tai và đuôi cô ve vẩy khó chịu.

“Dạng người hiện tại của em thì làm gì có lớp nào để mà lột.”

“Vậy chắc nói đúng hơn là ta nên khoác thêm cho em một lớp lông khác?”

Holo thực chất là một con sói khổng lồ. Nếu dân làng thấy bóng dáng to lớn của cô và nghe tiếng tru dưới trăng, thì vị vua của khu rừng tăm tối có lẽ sẽ khiến họ sợ đến mức chẳng dám động đến một nhành cây.

Nếu họ sợ sự giận dữ của cô, thì cũng có thể họ sẽ ngần ngại không dám phá rừng.

“…Nhưng nếu họ gửi một cô bé yếu ớt hay ai đó vào rừng thì sao? Ta đâu thể lúc nào cũng có mặt ở khu rừng này được.”

Với những người còn nhớ về các tập tục cũ trước khi giáo lý của Giáo hội được lan truyền, thì khi đối mặt với cơn thịnh nộ của không chỉ vua rừng mà cả các linh hồn trú ngụ trong núi non, suối nguồn, họ sẽ biết phải làm gì. Lawrence đã có thể tưởng tượng ra cảnh Holo trong hình dạng sói đang bối rối trước một cô bé khóc nức nở bị đem làm vật hiến tế. Hình ảnh đó khá buồn cười, nhưng anh không tài nào cười nổi.

Hơn nữa, nếu dân làng sợ hãi khu rừng đến mức chẳng dám bước vào, thì lại càng rắc rối hơn. Giữ khu rừng bằng cách khiến không ai dám nhận lấy ân huệ từ nó thì thật là ngược đời.

“Hùng biện là sở trường của anh kia mà?”

Anh chẳng muốn nghe điều đó từ Holo, kẻ vẫn hay dùng đủ mọi chiêu trò để xin đồ ăn, và có vẻ nét mặt anh đã nói lên tất cả.

Holo tiến lại gần, cố tình giẫm lên chân anh một cái, rồi đi vài bước ra xa và khoanh tay lại.

“Là sở trường của anh, đúng không?”

“Đúng vậy,” anh thở dài rên rỉ đáp lại.

“Mmmm… Cuối cùng thì vẫn chỉ là chuyện tiền bạc… Em không thể tin nổi một khu rừng trù phú thế này lại chẳng có gì đáng giá…”

Dân làng ở lãnh địa của Beavery hẳn cũng đã nghe tin đồn, nhưng nếu có ai đi về phía nam dọc theo con sông, họ sẽ dễ dàng tận mắt thấy tình hình thực tế. Khắp nơi, thương mại đang bùng nổ, và tất cả gỗ mà con người cần để vận hành công việc đang được chuyển theo đường sông. Không nghĩ đến chuyện tham gia và kiếm chút lợi mới là điều kỳ lạ.

Bản thân Lawrence nghĩ rằng phá một phần nhỏ của khu rừng để kiếm chút tiền cũng chẳng sao.

Lý do anh không nói điều đó ra là vì Holo.

Cô rất nóng tính khi nói đến rừng rậm, và lý do chính khiến anh nhận lời giúp Beavery ngay từ đầu là để đổi lấy chút mực và giấy để cô tiếp tục viết lại hành trình của cả hai.

Dĩ nhiên, nàng Holo tinh ranh ấy vẫn chưa quên điều đó.

Gió thổi qua những đại thụ, và sau một lúc ngẩng đầu nhìn tán cây lay động phía trên, Holo lên tiếng.

“Em cũng đâu thể chống lại những dòng chảy lớn. Nếu thế giới loài người khao khát những đồng xu lấp lánh, thì em cũng không thể chống lại họ.”

“Holo?”

“Mà để viết lách cũng cần bạc và vàng, đúng không? Thế thì em cũng đâu có lý do gì để ngăn cản dân làng kiếm tiền. Họ có thứ họ muốn, cũng như em vậy.”

Dĩ nhiên, dân làng đâu có định bán gỗ để mua sắm xa xỉ. Họ chỉ không muốn bỏ lỡ cơ hội đổi lấy những đồng tiền quý giá.

Nếu tích góp được tiền, họ sẽ có phương án rời làng đi mua lương thực ở nơi khác khi mất mùa, hay mua dụng cụ kim loại cần thiết cho việc làm rừng và canh tác.

Có thể họ còn có thể xây một cối xay nước mới bên con suối gần đó. Tiền sẽ cải thiện trực tiếp cuộc sống của họ, khiến họ khá giả hơn.

Như trong Kinh Thánh nói rằng con người không thể chỉ sống bằng cơm bánh, thì dân làng cũng không thể chỉ dựa vào ân huệ của đất mà sống.

Holo đứng lặng lẽ bên tàn tích của đống than, như thể chính cô cũng đã bị thiêu thành tro tàn.

“Em cứ tưởng mình đã từ bỏ việc bảo vệ những khu rừng như thế này từ rất, rất lâu rồi,” Holo cười nhạt rồi tiến lại bên Lawrence.

Thay vì giẫm lên chân anh như thường lệ, lần này cô nhẹ nhàng nắm lấy tay anh.

“Giống như anh đã thấy khó khăn khi nhóm lửa và giờ thì cầm cương quá chặt trong lần đầu lên đường sau bao năm, thì em cũng vậy, em đã ngâm mình quá lâu trong bồn tắm, đến mức quên mất cách thế giới này vận hành ra sao rồi.”

Đôi khi, người ta chỉ còn biết giả vờ quay đi, làm ngơ trước một thế giới không như mong đợi.

Cả Lawrence, người đã bước đi trên thương trường, và Holo, người buộc phải đứng yên chứng kiến thời thế đổi thay, đều thấu hiểu điều đó.

Lawrence siết chặt bàn tay nhỏ bé của Holo, cúi người xuống và đặt một nụ hôn nhẹ lên gốc tai sói của cô.

“Ít ra thì Beavery là một lãnh chúa tử tế. Có lẽ ngài ấy sẽ không làm gì quá đáng với mảnh đất này đâu.”

“…Ừm.”

Holo khẽ gật đầu, rồi như một con mèo nhỏ thích được vuốt ve, cô rúc mặt vào lồng ngực anh.

Lời nguyện cầu của Holo và lãnh chúa Beavery, những người mong mỏi bình yên cho khu rừng, rốt cuộc đã không thành hiện thực.

Beavery là một người có lòng nhân hậu—nếu Lawrence xin lỗi một cách chỉn chu và mang tổ ong khổng lồ hôm nọ đến làm quà tạ lỗi, thì có thể ông vẫn sẽ chia sẻ ít mực và giấy.

Và khi dòng suy nghĩ của anh đi đến đó, ý tưởng lóe lên trong đầu anh.

“Phải rồi. Nếu ta lấy mực và giấy từ chỗ ngài Beavery, rồi đem bán giúp ngài ấy với giá cao, thì có khi sẽ giúp được phần nào đó.”

Dù sao thì, ở một thị trấn quê xa xôi thế này, số người biết đọc biết viết chẳng nhiều.

Nếu cứ để số giấy mực đó mục nát trong kho, thì chí ít cũng nên tính đến chuyện biến chúng thành tiền.

Để bù đắp cho việc thất bại trong yêu cầu mà mình đã dễ dàng nhận lấy, có lẽ tốt nhất là Lawrence nên biến chúng thành bạc.

Khi anh giải thích điều đó, Holo mỉm cười chua chát.

“Dù có ngã nhào thì anh cũng chẳng bao giờ đứng dậy tay không nhỉ.”

“Anh dù gì vẫn là thương nhân mà,” anh nói nửa đùa, và Holo bật cười, rồi thở dài.

“Thế thì, trước hết ta phải đi xin lỗi cái đã, đúng không? Tối nay chắc không có món thịt ngon rồi.”

“Em có thể ghi lại ký ức về chuyến đi của tụi mình lên vỏ cây, như trên cái bảng này ấy? Đợi có mực và giấy rồi ta viết tiếp.”

“Ừm. Hay dùng than kia được không?”

Khi Holo nói vậy, Lawrence quay lại nhìn đống than tàn.

“Chỉ than thôi thì sẽ bị nhòe ngay mất. Anh từng thấy người ta dùng nó thay mực bằng cách trộn với keo, nhưng muốn làm keo thì phải đun xương và gân động vật rất lâu. Rồi lại cần cả gỗ rừng nữa… đại loại thế.”

“Thế thì vô ích còn gì!”

Lawrence không nhịn được cười khi nghe tiếng hét cố tình của Holo.

“Nhưng mà, anh yêu à,” cô nói tiếp. “Vậy mực mà em vẫn dùng từ trước đến giờ được làm từ gì?”

“Hử? À, người ta đun mấy cái núm sần giống hạt trên cây, gọi là ngũ bội tử. Mấy thứ đó cũng dùng để thuộc da nữa… Hả?”

“Ồ?”

Cả Holo lẫn Lawrence cùng nhìn nhau.

“Anh yêu,” Holo gọi, và trên gương mặt Lawrence là nụ cười khẽ căng ra.

“…Mấy kiến thức đó có thể ở trong đầu anh, nhưng không phải lúc nào cũng lôi ra dùng được đâu.”

“Giống cái túi tiền của anh vậy.”

Muốn cãi lại rằng chúng khác nhau, nhưng khi nhìn đôi mắt Holo lấp lánh đầy mong đợi và cái đuôi ve vẩy liên hồi, anh chỉ có thể cười.

“Có lẽ dân làng cũng chưa từng nghĩ đến khả năng này.”

Người duy nhất biết đọc và viết ở đây có khi chỉ là lãnh chúa Beavery. Hoặc thậm chí chính ông ta cũng không biết. Chuyện này ở nơi xa thị trấn thì cũng chẳng lạ gì, nếu ý tưởng chưa từng xuất hiện trong đầu họ.

“Hồi đó người ta còn nói giá mực tăng là do Col với Myuri, đúng không?”

“Ừ. Và muốn có nhiều ngũ bội tử thì phải cần một khu rừng rậm rạp.”

“Anh yêu.” Holo nở nụ cười tươi rói.

Thế giới đôi lúc cũng có những điều như vậy.

“Ý tưởng này vừa giúp bảo vệ khu rừng, lại vừa hữu ích cho dân làng. Nếu họ sản xuất được nhiều mực đắt tiền, thì có thể kiếm được nhiều tiền hơn và lâu dài hơn so với việc chặt cây lấy gỗ, mà chặt xong thì coi như vô dụng luôn.”

“Và có mực cho em viết nữa!”

Lawrence rời khu rừng cùng Holo, kể lại mọi chuyện cho Beavery nghe, cùng cách làm mực và giá trị thị trường của nó. Mực là một món hàng tuyệt vời khi chỉ cần một lượng nhỏ là đã bán được giá cao; khác với rượu, mực vẫn mang lại lợi nhuận kể cả khi vận chuyển đến nơi xa, và ngay cả trẻ con cũng có thể hái và sơ chế ngũ bội tử. Nhờ vậy, sẽ khó mà phân biệt được ai là người góp công và không góp công kiếm tiền, giúp họ tránh được sự bất hòa trong làng.

“Không hổ danh ngài Lawrence lừng lẫy!”

Beavery tán dương anh hết lời, rồi tiếp đãi họ một bữa tối hoành tráng khác.

Holo lập tức ghi lại món họ ăn hôm đó bằng lọ mực được Beavery tặng. Khi Lawrence nhìn trộm vào bản viết tay của cô lúc cô đã gục đầu ngủ vì uống quá nhiều rượu, anh thấy tên mình kèm dòng chữ, Tên ngốc đôi lúc cũng có ích.

“Từ tên ngốc thì khỏi cần viết cũng được mà.”

Lawrence mỉm cười khổ sở, bế Holo đang gật gù ngủ trên ghế, đưa cô về giường.

Sau khi đặt cô công chúa vĩnh cửu vào giường, anh quay lại với những xấp giấy ngập ánh trăng.

Những trang giấy đó sẽ tiếp tục được lấp đầy bởi những dòng chữ trong tương lai.

Sẽ có những câu chuyện ly kỳ, và cả những câu chuyện bình dị.

“Nhưng tất cả sẽ đều là những kỷ niệm đẹp,” Lawrence lẩm bẩm, tay đặt lên khung cửa sổ.

Anh nhẹ nhàng khép nó lại, như thể khép một quyển sách.

Đó chỉ là một chương trong hành trình dài, rất dài của họ.

Bình luận (0)
Báo cáo bình luận không phù hợp ở đây

0 Bình luận