Vol 3: Triều Dâng Dưới Vầng Trăng Đen – Phần Thượng

Chương 11: Bóng tối Greenland

Chương 11: Bóng tối Greenland

Mây đen trĩu nặng, mặt biển cuộn lên những con sóng bất an. 

Con tàu màu đen xé toạc làn nước tối, để lại sau lưng một vệt sóng trắng xóa.

“Các anh lại ngụy trang nó thành tàu cá à?!” 

Caesar phải lớn tiếng gào lên mới át được tiếng gầm rú của động cơ tuabin khí.

“Không, là tàu nghiên cứu khoa học!” 

Minamoto Chisei cũng hét toáng lên, “Chúng ta đang khảo sát tuyến đường di cư của loài cá biển quý hiếm! Giờ đã ở vùng biển quốc tế, nhưng nơi này vẫn thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Nhật Bản. Chúng ta đã xin quyền khống chế tuyến hàng hải trong 12 tiếng, trong khoảng thời gian đó sẽ không có tàu bè nào qua lại!”

Chi nhánh Nhật đã ngụy trang “Maniakh” thành một chiếc tàu cá, mũi tàu sơn chữ trắng “Manimaru”, phía đuôi còn treo cả lưới kéo như thật. 

Tàu rời cảng số 4 Tokyo được chừng 3 tiếng. 

Dù dự báo thời tiết báo đêm nay sẽ có gió cấp 8 kèm sóng cao 2m, hoàn toàn không thích hợp ra khơi nhưng cơ hội phong tỏa tuyến hàng hải chỉ có đúng đêm nay, họ buộc phải mạo hiểm. 

Không thể nào tiến hành lặn tìm “phôi rồng” giữa lúc tàu thuyền tấp nập qua lại được.

Họ rời cảng khi mặt trời đỏ rực dần chìm xuống biển, gió thổi dữ dội, thuyền cá tấp nập quay về tránh bão. 

Khi tàu sượt qua nhau, các thủy thủ trên thuyền cá vẫy tay chào, khiến Lộ Minh Phi bỗng dâng lên một cảm giác bi tráng, như thể “gió xao xác bờ Dịch Thủy, tráng sĩ một đi không trở lại”. 

Trái lại, Caesar lại thong dong mặc bộ đồng phục trắng của thuyền trưởng, dựa vào lan can vẫy tay đáp lễ, thậm chí còn nhảy sang một chiếc thuyền khác mua hẳn một con cua hoàng đế tươi rói, trông chẳng khác nào anh đang đưa cả đoàn người mẫu đi nghỉ dưỡng ở vịnh Genoa.

Đèn pha quét sáng cả một góc trời đêm. 

Mây đen cuồn cuộn, xa xa còn vọng tiếng sấm. 

Có vẻ đêm nay không chỉ có gió lớn mà còn cả bão tố. 

Lộ Minh Phi thấy sống lưng lạnh buốt. 

Dẫu kỹ thuật của Manniakh tiên tiến đến đâu thì rốt cuộc nó cũng chỉ là tàu hạng trung, mà sự ổn định trên biển chủ yếu dựa vào trọng lượng. 

Không đủ nặng thì công nghệ nào cũng vô ích. 

Trong lòng cậu thoáng nghi ngờ: 

Con tàu này liệu có thật sự chịu nổi trận cuồng phong sắp tới?

“Đừng lo.” 

Minamoto Chisei nhận ra nỗi bất an của cậu, “Chi nhánh Nhật lúc nào cũng chuẩn bị chu toàn. Rất nhanh thôi, cậu sẽ hiểu.”

Caesar lúc này đang mở nắp nồi hấp, con cua hoàng đế đỏ au được bưng ra. 

Anh cầm chiếc kìm chuyên dụng, gỡ lấy từng thớ thịt trắng muốt đặt lên đá lạnh, bên cạnh đã chuẩn bị sẵn mù tạt tươi và nước tương hải sản. 

Anh nhảy sang thuyền chỉ để mua con cua này làm bữa khuya. 

Ngoài ra, anh còn mua thêm một con cá tráp biển màu bạc ánh hồng, rồi dựng bếp ngay đầu tàu để ninh súp. 

Anh dùng măng và mơ xanh khử mùi tanh, mất trọn 3 tiếng đồng hồ mới có được nồi canh trắng đục, thơm ngát. 

Cả chặng đường, Caesar cứ ngồi ở mũi tàu, vừa đón gió, vừa đọc quyển sổ tay dày cộp, thỉnh thoảng lại trông chừng nồi canh của mình.

“Cậu ta đúng là có kiên nhẫn.” 

Minamoto Chisei dựa vào mạn tàu, châm điếu thuốc, nói với Sở Tử Hàng.

“Có những việc anh ta kiên nhẫn đến lạ, như chờ một cô gái yêu mình, rồi lại chờ đến ngày cô ấy chịu cưới mình. Nhưng cũng có việc, chỉ cần bắt anh đợi 1 phút thôi là anh ta nổi khùng.” 

Sở Tử Hàng vừa lau thanh katana dài trong tay vừa đáp.

Lộ Minh Phi ngửa mặt nhìn trời, chán chường nghĩ: 

Kiên nhẫn chờ thì có thể khiến một cô gái yêu mình sao? 

Đừng ngốc thế… 

Khi cậu còn ngồi đó mòn mỏi, cô ấy đã khoác tay ai khác, bước đi dưới ánh trăng giống hệt, chỉ là cậu không hề biết.

Không hiểu sao, cậu lại nhớ đến Lộ Minh Trạch. 

Thằng tiểu quỷ đó từng xuất hiện trước mặt cậu, lúc thì nơi biển băng, lúc thì dưới ánh trăng, cứ như cố tình gợi ý điều gì. 

Rốt cuộc, giờ cậu thật sự bị điều ra biển làm nhiệm vụ. 

Nhưng khung cảnh hiện tại, mây đen trĩu nặng, sóng gió gầm thét, lại khác xa cái tĩnh lặng của băng tuyết và ánh trăng hôm ấy. 

Cậu luôn cảm thấy có điều gì đó sai sai, nhưng không tài nào nói rõ.

“Thưa các quý ông,” Caesar giơ tay vỗ bồm bộp, “hãy đến thử ngay cua hoàng đế kiểu Hokkaido! Nghệ thuật nấu hải sản của Nhật Bản mới là số một thế giới.”

“Em còn tưởng anh sẽ bảo hạng nhì, chỉ kém Ý một chút thôi.” 

Lộ Minh Phi gỡ lấy một thớ thịt cua, nhét vào miệng. 

Hương vị ngọt ngào, tươi nguyên của biển cả lan tràn khắp khoang miệng.

“Đàn ông Ý bẩm sinh đã là những đầu bếp tuyệt vời, nhưng về hải sản thì vẫn thua Nhật. Nhật là quốc đảo, đất đai ít, không thuận cho chăn nuôi. Trước Minh Trị Duy Tân, cả nước hầu như dựa vào hải sản để bổ sung đạm. Chỉ trong yến tiệc của các lãnh chúa mới có thịt bò, còn thường dân thì chỉ có cá tôm. Thế nên, toàn bộ tinh hoa ẩm thực đều dồn vào việc chế biến hải sản vì chẳng còn gì khác để mà nấu cả.” 

Caesar hăng hái khoe kiến thức ẩm thực của mình.

Minamoto Chisei vẫn giữ gương mặt lạnh tanh. 

Anh chẳng buồn phân biệt Caesar đang ca ngợi hay mỉa mai Nhật Bản nữa. 

Mỗi lần cố hiểu cái lũ “ngây ngô ca hát” này, anh đều đoán sai, thôi thì mặc kệ, khỏi phí công.

Caesar mở một chai rượu quý màu vàng óng như mật ong, rót vào 4 chiếc ly thủy tinh.

“Rượu ngọt Yquem, thứ tuyệt nhất để dùng kèm với tôm hùm và cua hoàng đế.” 

Caesar nâng ly, “Nhóm của chúng ta lần này khá phức tạp, có người không cùng lập trường. Nhưng mong rằng cho đến khi nhiệm vụ kết thúc, chúng ta đừng quay sang đối đầu. Sau khi xong việc, ai muốn chém giết mặc sức, cơ hội còn nhiều. Còn bây giờ, hãy cạn ly, chúc cho nhiệm vụ này thuận lợi viên mãn.”

Có chút kỳ lạ trong lời chúc rượu, nhưng cũng coi như gửi gắm một niềm tin tốt đẹp. 

Lộ Minh Phi, Sở Tử Hàng và Minamoto Chisei chạm ly, ngửa đầu uống cạn.

“Thiếu chủ, chúng ta sắp đến Tu Di Tọa rồi.” 

Quạ bước đến phía sau Minamoto Chisei, khẽ báo.

“Ra tín hiệu đèn, để Tu Di Tọa mở ụ tàu.” 

Minamoto Chisei dặn dò.

Anh quay sang nhóm Caesar:

“Xin mời các vị chiêm ngưỡng dự án hợp tác giữa Sở Nghiên cứu Ganryu và Sở Kiến tạo Maruyama, Tu Di Tọa bất khả trầm.”

Hướng theo tay anh chỉ, mặt biển vốn chìm trong mây đen bất chợt bừng sáng, như thể bị ngọn lửa thắp lên. 

Đường chân trời nơi giao nhau giữa biển và trời rực rỡ lạ thường, hệt ánh nắng xuyên xuống mặt nước. 

Rồi, giống như một cung điện khổng lồ từ đáy biển nổi lên, lầu gác tầng tầng, đèn đuốc rực vàng, còn tráng lệ hơn cả ảo ảnh. 

Ánh sáng từ đó hắt ra, biến cả biển trời thành một màu trắng lóa. 

Con tàu Maniakh dần giảm tốc, trước mắt họ, cung điện biển kia mở rộng cánh cổng nghênh đón.

“Là… nền tảng nổi?” 

Caesar đã hiểu.

“Đúng vậy. Đây là một trong những dự án của gia tộc. Những công trình nổi này thích hợp cho việc tác nghiệp dài ngày trên biển, như thăm dò dầu mỏ hay khai khoáng dưới đáy. Chúng di chuyển chậm, nhưng nhờ trọng lượng khổng lồ nên đủ sức trụ vững giữa cuồng phong cấp 12, thậm chí cả sóng thần. Trong Phật giáo, ‘Tu Di Tọa’ là bệ đặt tượng Phật hay bảo tháp, chúng tôi gọi thế vì nó xứng đáng là bệ bất khả trầm. Tất cả 6 nền tảng Tu Di Tọa đều tập trung tại đây, làm căn cứ cho lần thăm dò cực uyên này. So với chiến hạm Lenin từng chìm ở khu vực này, nó còn đáng tin cậy gấp bội. Vì vậy, xin các vị đừng lo lắng về bão tố.” 

Minamoto Chisei bình thản giải thích.

Maniakh tắt động cơ tuabin, hai bên hông tàu thả xích neo liên kết, để được kéo vào ụ tàu khổng lồ bên trong nền tảng.

Các khối Tu Di Tọa lớn đến mức nuốt trọn cả con tàu. 

Khi cửa âu đóng lại, đèn dọc hai bên sáng rực, hàng dài đàn ông mặc đồ đen xếp thành hàng, đồng loạt cúi rạp người:

“Hoan nghênh Thiếu chủ quang lâm Tu Di Tọa thị sát!”

Tiếng hô đồng thanh vang vọng trong không gian kín, dội vào tai người nghe đến gai ốc dựng đứng.

Cần cẩu khung chữ M hạ xuống một một cầu dốc nối vào thang máy. 

Minamoto Chisei dẫn nhóm Caesar, có Quạ và Dạ Xoa hộ vệ, bước vào thang máy đi lên khu cao tầng. 

Lộ Minh Phi chỉ nghe ù ù toàn tiếng quạt gió và máy bơm. 

Trong khối kiến trúc nổi khổng lồ này, mùi biển tràn ngập, đâu đó có nước rò rỉ liên tục, lập tức bị hệ thống hút nước rút đi. 

Nền tảng khẽ nhấp nhô theo nhịp sóng, ngay cả khi đứng trên sàn thép bằng phẳng, Lộ Minh Phi cũng thấy như dẫm lên sườn đồi mềm. 

Cậu bấu chặt lan can, sợ chỉ cần một con sóng lớn đánh tới sẽ ngã lăn xuống cầu thang.

“Đừng lo.” 

Minamoto Chisei thấy được sự bất an của cậu, liền nói: 

“Tu Di Tọa được điều khiển hoàn toàn bằng hệ thống số hóa. Khi sóng vượt quá giới hạn, các van xả dưới thân sẽ tự động mở, triệt tiêu lực đẩy.”

“Nhưng độ sâu ở đây hơn 8.000m. Các anh không thể thả neo xuống tận đáy, vậy cố định Tu Di Tọa bằng cách nào?” 

Caesar cau mày.

“Vẫn là dùng neo. Chỉ là không cần xích dài 8km. Rãnh Nhật Bản hình thành do va chạm mảng địa chất, chỉ ở điểm rìa giao nhau mới chạm đến cực hạn độ sâu. Ngoài vùng đó, đáy biển nông hơn nhiều.” 

Minamoto Chisei chậm rãi giải thích, “Tổng cộng 16 mỏ neo khổng lồ ghìm chặt nền tảng này vào đáy biển.”

Đoàn người bước lên đỉnh Tu Di Tọa. 

Từ đây nhìn xuống, cảm giác chẳng khác gì đứng trên Seishinji ngắm toàn cảnh Shinjuku. Sóng tầng tầng vỗ ầm ầm vào chân bệ, có lúc bọt trắng bắn cao tận trời. 

Giữa các Tu Di Tọa, cáp thép căng ngang như dây đàn khi gió gào thét, rồi lại chùng xuống khi gió lặng. 

Trên mỗi bệ nổi đều có người đàn ông mặc quân phục trắng đứng chờ. 

Gió từ cánh quạt trực thăng không thua gì bão biển, thổi tóc họ dính bết vào trán. 

Đó chẳng khác nào một đạo quân nghiêm chỉnh, sẵn sàng chờ hiệu lệnh duyệt binh.

“Đông người vậy sao?” 

Lộ Minh Phi ngạc nhiên, “Chẳng lẽ hậu cần cũng phải huy động đến thế?”

Minamoto Chisei nhận lấy loa từ tay Quạ, bước lên bục cao, giọng vang vọng:

“Đêm nay, xin gửi gắm tất cả cho các vị!”

Tiếng nói lan khắp mặt biển. 

Tất cả đàn ông trên các Tu Di Tọa đồng loạt đáp lời:

“Dốc toàn lực hoàn thành sứ mệnh gia tộc giao phó!”

Âm thanh hàng ngàn người chấn động, át cả tiếng sóng cuồng nộ.

“Trong chiến dịch này, chi nhánh Kansai lập thành tổ Kazegumi. Nhiệm vụ là giám sát toàn bộ vùng trời phía trên. Nếu có kẻ nào ý đồ phá hoại việc thám hiểm, Kazegumi sẽ lập tức phản kích. Ngoài ra, họ cũng chịu trách nhiệm xua đuổi những tàu thuyền không liên quan ra khỏi khu vực.” 

Minamoto Chisei tiếp lời.

Quạ bắn một quả pháo hiệu xanh lên trời, cả bầy trực thăng đồng loạt cất cánh. 

Những con chim sắt đen khổng lồ tản ra bốn phương tám hướng, rọi những luồng sáng trắng lạnh lùng quét khắp mặt biển.

“Chi nhánh Kanto lập thành tổ Higumi, nhiệm vụ là cảnh giới hỏa lực. Trang bị là những tàu tuần tra cỡ nhỏ, nhưng đều gắn thêm súng máy hạng nặng hai nòng, tên lửa vác vai, thậm chí cả một quả ngư lôi hạng nhẹ kiểu 97. Có Higumi trấn giữ, cho dù là tàu tuần dương cũng phải chùn bước.”

Một quả pháo hiệu đỏ vọt lên. 

Cửa âu ở các bệ nổi lần lượt mở, từng con tàu tuần tra lao ra, nhấp nhô trên sóng lớn. 

Khẩu súng máy hai nòng trước mũi tàu xoay chuyển, lạnh lùng quét qua mặt biển

“Tổ Hayashigumi thì do tinh nhuệ tộc Fuma đảm nhiệm, đã sớm bố trí vòng phòng ngự ngoài rìa. Bọn họ đều dùng tàu cá làm vỏ bọc, tàu được gắn thiết bị nghe lén dưới biển và máy quan trắc khí tượng. Nhiệm vụ của Hayashigumi là theo dõi toàn bộ khu vực này, nếu thời tiết biến động vượt mức an toàn, họ sẽ cảnh báo từ sớm.”

Quạ lại bắn một quả pháo hiệu xanh lục. 

Xa xa bốn phía, ánh đèn nhấp nháy đáp lại, đó là tín hiệu phản hồi từ Hayashigumi.

“Còn bệ nổi chúng ta đang đứng đây chính là tổ Yamagumi, do tôi trực tiếp chỉ huy, toàn bộ thành viên đều là tinh anh của Sở Nghiên cứu Ganryu. Yamagumi có nhiệm vụ trực tiếp hỗ trợ cho tàu lặn sâu. Trong suốt quá trình các cậu xuống đáy, Yamagumi sẽ trụ vững tại vị trí này, mặc sóng gió cấp 8 hay 12, mặc sóng cao 2 hay 20m, bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng cứu viện, cũng sẵn sàng nghênh đón các cậu trở về. Đây chính là ý nghĩa của cái tên Yamagumi, ‘bất động như núi’.” 

Minamoto Chisei nói, “Gia tộc đã huy động 1.000 nhân lực hộ tống chuyến lặn lần này. Ngoài việc điều khiển tàu lặn, những chuyện khác xin các vị cứ yên tâm giao cho chúng tôi.”

“Có cần rình rang vậy không?” 

Caesar ngậm điếu xì gà, nhướng mày.

“Chẳng qua cũng chỉ là lặn thôi mà, làm như sắp đánh trận đến nơi.”

“Có người từng nói: thầy dạy kiếm thường hỏi đệ tử lần đầu cầm kiếm rằng, đã nghĩ kỹ chưa? Đã cầm thì phải nắm chặt, ngày nào buông kiếm, ngày đó chính là ngày chết.” 

Minamoto Chisei thản nhiên đáp, “Cậu có thể hiểu đây là cách của người Nhật. Làm bất cứ việc gì cũng coi như ra trận, ép bản thân đứng ngay mép vực, lùi một bước là rơi xuống vạn trượng. Chỉ như vậy mới sống sót được. Đây không phải chuyến đi vớt san hô hay sò ốc. Thứ chờ các cậu dưới kia có thể là ‘cổ long’ hung hiểm bậc nhất. Nếu nó thoát lên mặt biển, cho dù bốn bốn tổ Kaze, Hi, Hayashi và Yamagumi hợp lực cũng chưa chắc đã diệt nổi.”

Mặt nước xé ra, cần cẩu nhấc lên một quả bom lưu huỳnh tinh luyện nặng trịch. 

Nó được sơn vàng chói, hình dạng chẳng giống bom chút nào, ngược lại giống một điếu xì gà khổng lồ, thân thô ngắn, đuôi nhỏ hẹp lạc điệu.

“Trời, nhìn như bản chibi vậy.” 

Lộ Minh Phi thốt lên.

“Hình dạng này chịu áp lực tốt hơn. Hẳn các cậu không muốn quả bom bị nước biển ép nổ tung giữa chừng chứ?” 

Minamoto Chisei giải thích. 

“Hệ thống động lực và dẫn đường của nó rất hạn chế, chỉ có thể chạy được 1km dưới nước. Nhưng chỉ 1km là đủ để đảm bảo an toàn. Nó không dựa vào sức nổ để giết rồng, mà dựa vào tính ăn mòn khủng khiếp của hỗn hợp lưu huỳnh tinh luyện và thủy ngân. À, mã hiệu của nó là ‘Momotaro’. Còn nửa tiếng nữa mới đến giờ dự kiến. Trong khoảng thời gian đó, Sở Ganryu sẽ hoàn tất kiểm tra cuối cùng và khởi động Trieste. Nửa tiếng này các cậu có thể tự do, muốn trò chuyện hay chợp mắt đều được. Lời khuyên của tôi là tranh thủ đi vệ sinh một chuyến, tàu lặn không hề có chỗ để xây nhà vệ sinh đâu.”

Anh rút điện thoại bấm số: 

“Giáo sư Schneider, đây là Minamoto Chisei từ chi nhánh Nhật Bản báo cáo. Đội lặn đã vào vị trí, chúng tôi đang chờ chỉ thị từ trụ sở.”

Trong điện thoại vang lên một tràng thở dốc khủng khiếp, âm thanh rợn người như một cái bễ rách bị kéo căng. 

Phổi của kẻ kia đã nát vụn từ lâu. 

Sinh viên Học viện Cassell vẫn hay hình dung tiếng thở đó: 

“Giống như nghe một xác khô sống dậy.”

“Để tôi hút nốt điếu này.” 

Giọng Schneider vang lên, mơ hồ như từ cõi âm.

---

Học viện Cassell, trụ sở, phòng điều khiển trung ương.

Hôm nay nơi này đã được lệnh giải tán, chỉ còn mình Schneider ngồi giữa sảnh lớn. 

Ông móc từ túi ra một hộp sắt nhỏ, bên trong là thuốc lá sợi vàng óng. 

Với ông, thuốc chẳng khác nào thuốc độc, cả học viện đều biết: 

Vì căn bệnh quái ác mà đường hô hấp của Schneider suy kiệt, ông phải nhờ thiết bị hỗ trợ thở và dắt theo cả một chiếc xe chở bình oxy đi khắp nơi. 

Thế nhưng lúc này ông lại thoăn thoắt cuốn một điếu thuốc tay đẹp đẽ, chuẩn bài lão nghiện. 

Nhưng vừa hít sâu một hơi, ông đã ho sặc sụa như muốn nôn cả lá phổi ra ngoài.

“Ông định tự sát đấy à?” 

Một giọng nói vang lên sau lưng.

Schneider khựng lại: 

“Hôm nay không phải ca trực của ông, Giáo sư Manstein.”

Manstein đặt một hộp thuốc lên bàn: 

“Đã cố hút thì ngậm cái này, có tác dụng an thần, ít ra ông sẽ không ho đến thế. Cái thứ ông dùng để thở, còn gọi được là khí quản sao? Một ống khói hỏng còn chắc chắn hơn.”

“Khí quản tôi bị cắt bỏ 2/3, thay bằng ống nhựa mềm.” 

Schneider nuốt viên thuốc, hít vài ngụm oxy. 

“Nhưng ống nhựa cũng có ưu điểm, tôi sẽ không bao giờ bị viêm họng.”

“Tôi đã xem hồ sơ sức khỏe của ông. Ông sẽ không chết vì viêm họng đâu. Cái chết của ông nhất định là do phổi mục nát.” 

Manstein lạnh lùng đáp.

Schneider lại rít thêm một hơi, lần này phản ứng nhẹ hơn nhiều. 

Ông khép hờ mắt, lặng lẽ thưởng thức hương vị thuốc lá.

“Ông đến tìm tôi lúc này, chắc không chỉ để phát thuốc chứ?” 

Schneider khàn giọng hỏi.

Manstein ném một tờ fax xuống bàn: 

“Hội đồng Quản trị gửi công văn, yêu cầu lập tức hủy bỏ chiến dịch Long Uyên.”

“Việc của Bộ Chấp hành không cần đám lão già Hội đồng nhúng tay.” 

Schneider nói thản nhiên. 

“Chúng tôi chỉ làm chuyện nhỏ. Chuyện lớn để họ lo.”

“Nhưng trong đội lặn của ông có cả người thừa kế nhà Gattuso. Tin tức lọt về Roma, Frost phát điên, suýt nữa bay thẳng sang đây. May mà ông ta lên cơn đau tim, bằng không có khi đã đập tan cả Bộ Chấp hành rồi.”

“Nhưng con tàu lặn đó vốn do gia chủ Pompeii tài trợ mà? Còn được sơn cả dòng chữ cát tường ‘Mặt trời mọc, thiên hữu ngã nhi’ để chúc phúc con trai.”

“Ai cũng biết gia chủ nhà Gattuso là một kẻ lập dị, ý kiến cá nhân của ông ta chẳng liên quan gì đến ý chí gia tộc. Ghế trong hội đồng quản trị của ông ta vốn do Frost toàn quyền đại diện. Frost nói không, tức là cả nhà Gattuso đều nói không.”

“Danh sách người xuống biển do hiệu trưởng quyết định, Frost nên tìm ông ấy mà nói. Tôi hút xong điếu thuốc này là lập tức khởi động chiến dịch Long Uyên. Trừ phi hiệu trưởng ra lệnh dừng lại, bằng không dù Frost tự mình đến cũng vô ích.”

“Ông làm không được đâu.” 

Manstein ném một tấm thẻ đen lên bàn.

“Trong tay tôi là thẻ đen của nhà Gattuso, quyền hạn tương đương hiệu trưởng. Tôi có thể trực tiếp ra lệnh cho Norma buộc phải ngừng chiến dịch Long Uyên. Không có Norma, ông chẳng làm nổi gì cả.”

“Không ngờ ông lại chọn đứng về phía nhà Gattuso.” 

Schneider nhướng mày. 

“Cha ông trước giờ ghét nhất là đối đầu với họ cơ mà.”

“Đừng gọi là trung thành. Tôi là Chủ tịch Ủy ban Kỷ luật, có quyền điều tra giáo sư. Trong mắt họ, tôi là người có thể lôi kéo, khác hẳn ông, kẻ tuyệt đối trung thành với hiệu trưởng. Nhưng chiến dịch Long Uyên thực sự rất bất thường. Một nhiệm vụ cấp SS mà chỉ có ông và hiệu trưởng tự quyết, lại vội vã đưa ba sinh viên huyết thống ưu tú nhất xuống biển sâu… chẳng giống phong cách của hai người chút nào. Tôi muốn nghe ônng giải thích.”

“Ông nhầm rồi. Quyết định đó chẳng liên quan gì đến tôi, là hiệu trưởng tự mình định đoạt, tôi chỉ phụ trách thi hành.” 

Schneider khẽ nói. 

“Đúng là mạo hiểm, nhưng có những hiểm nguy buộc phải đối mặt.”

Manstein cắm thẻ đen vào khe của bảng điều khiển, màn hình lớn lập tức hiện ra gia huy nhà Gattuso.

“Xin chào giáo sư Manstein, thẻ đen của ngài đã được xác nhận. Hiện tại ngài đăng nhập hệ thống Norma với tư cách Chủ tịch Ủy ban Kỷ luật kiêm đặc sứ đặc quyền của nhà Gattuso. Xin hỏi, ngài cần tôi hỗ trợ điều gì?” 

Giọng nói của Norma vang khắp phòng điều khiển trung ương.

“Tôi có thể lập tức hủy chiến dịch Long Uyên. Nhưng tôi cũng có thể đứng về phía các ông. Điều kiện là ông phải nói cho tôi lý do, vì sao các ông gấp gáp mở ra chiến dịch Long Uyên đến vậy?”

“Ông đã bao giờ nhìn thấy mặt tôi chưa?” 

Schneider hỏi.

“Mặt ông?” 

Manstein khựng lại.

Schneider tháo mặt nạ dưỡng khí, nhích lại gần vùng sáng. 

Dù khi hút thuốc ông cũng phải thở oxy, mỗi lần rời khỏi mặt nạ đều cố giấu mặt trong bóng tối. 

Đây là lần đầu Manstein thực sự thấy rõ gương mặt của Schneider, một khuôn mặt khiến cả người mê phim kinh dị cũng phải gặp ác mộng: 

Từ đôi mắt trở xuống, toàn bộ da thịt đã khô quắt, chỉ còn lớp da teo tóp dính lên xương, môi và mũi đều rút lại, để lộ hẳn hàm răng trắng hếu.

“Rất ghê tởm phải không? Thật ra tôi mới 37 tuổi thôi, mà lại mang nửa khuôn mặt như xác ướp trăm năm. Sinh viên nghe tiếng ho của tôi đều tưởng tôi đã ngoài 50, thế nhưng tôi còn trẻ hơn cả ông.” 

Schneider tự giễu.

Manstein bất giác rùng mình: 

“Sao lại thành ra thế này?”

“Đó là dấu ấn một nhiệm vụ để lại.” 

Schneider nói chậm rãi. 

“Mười một năm trước, lần đầu tiên chúng tôi nghe thấy nhịp tim từ biển sâu.”

“Chẳng phải đó là lần đầu phát hiện phôi thai dưới biển ư?” 

Manstein kinh hãi.

“Không, không phải. Mười một năm trước, ở đảo Greenland, chúng tôi đã tìm thấy một phôi thai tương tự.” 

Schneider nhả ra một vòng khói tròn. 

“Ông chắc cũng đoán được rồi, tôi đang nói đến vụ án chưa có lời giải trên biển băng Greenland. Lần đó cả đội lặn đều tử nạn, hội đồng quản trị lập tức hạ lệnh niêm phong hồ sơ, cưỡng ép dừng điều tra. Nếu muốn nghe câu chuyện này, ông phải kiên nhẫn. Nó rất dài, và tôi yêu cầu ông ra lệnh cho Norma rời khỏi căn phòng này. Ông cầm thẻ đen, ông làm được.”

“Tại sao phải để Norma rời đi?”

“Vì ngay cả Norma cũng không biết. Những thứ gọi là tuyệt mật thì không thể lưu trữ trong hệ thống hay ổ cứng, chỉ có thể giữ lại ở đây thôi.” 

Schneider gõ nhẹ vào thái dương. 

“Nghe xong câu chuyện này, ông tuyệt đối không được ghi chép lại, kể cả một mẩu ghi nhớ cho riêng mình cũng không. Đó là quy định cứng rắn của học viện. Ông chỉ có thể cố gắng khắc sâu từng chi tiết tôi kể, quên thì cũng đành chịu.”

“Mười một năm trước, ông vẫn nhớ rõ mọi chi tiết sao?”

“Đương nhiên.” 

Giọng Schneider trầm xuống, như vọng ra từ địa ngục. 

“Đó là lần duy nhất trong đời tôi đi qua cửa địa ngục. Làm sao có thể quên được?”

Từng chữ của ông ta toát ra cái lạnh thấu xương. 

Manstein mơ hồ nhận ra, nhắc đến chuyện 11 năm trước, con người dị dạng và cứng cỏi này đang bùng lên một ngọn lửa giận dữ âm ỉ suốt 11 năm chưa từng tắt.

“Norma, hãy rời khỏi căn phòng này. Để tôi và Schneider ở lại một mình.” 

Manstein ra lệnh.

“Rõ. Trong vòng 15 phút tới, phòng điều khiển trung ương sẽ nằm ngoài phạm vi giám sát của tôi.” 

Norma đáp. 

Lời vừa dứt, tất cả thiết bị trong phòng đều ngừng hoạt động, camera và máy ghi âm đồng loạt khóa lại, đèn lần lượt tắt dần. 

Khi Norma rút đi, hệ thống giám sát biến mất, căn phòng bỗng tách biệt khỏi toàn bộ học viện. 

Bóng cây lay động in trên ô cửa cao, nơi đây giờ chẳng khác nào sâu trong một nhà thờ cổ.

“Đó là vào mùa thu năm 2001…” 

Schneider khẽ khàng bắt đầu câu chuyện.

“Đó là vào mùa thu năm 2001. Trên mạng, có một người dùng với ID ‘Thái Tử’ đăng tin rằng chiếc tàu kéo của ông ta đã vớt được những mảnh đồng kỳ lạ ở vùng biển sâu ngoài khơi Greenland. Ông ta còn công bố ảnh chụp: nhìn qua ảnh, có thể thấy trên những mảnh đồng ấy khắc những ký tự cổ phức tạp, trùng khớp hoàn toàn với bản khắc ‘Băng Hải Đồng Trụ Biểu’ mà Học viện đang cất giữ trong mật thất. ‘Băng Hải Đồng Trụ Biểu’ vốn được coi là một dị vật hiếm hoi còn sót lại từ kỷ nguyên của loài rồng. Nó từng là một phần của cột trụ khổng lồ dựng giữa thành phố do rồng xây dựng, loài rồng vốn có thói quen ghi chép lịch sử lên những cột đá cao ngất trời. Nhưng thứ chúng ta có chỉ là phần gãy rời, chưa đến 1/3 chiều dài nguyên thủy. Dù vậy, đây vẫn là tài liệu bằng long văn đầy đủ nhất mà loài người hiện nay tìm được, ghi chép về lịch sử chiến tranh của loài rồng. Tiếc là đến nay, ta vẫn không thể giải mã, bởi không có văn bản đối chiếu; trong mắt chúng ta, những ký tự ấy chỉ như hoa văn vô nghĩa. Khi ấy tôi vẫn chỉ là một trợ lý giáo sư trẻ tuổi, say mê nghiên cứu long văn. Tôi nghĩ, nếu ngoài khơi Greenland còn tồn tại một cây cột khác, biết đâu so sánh văn tự giữa chúng, ta có thể tìm ra lịch sử chân thật của loài rồng. Vì vậy tôi đã liên hệ ẩn danh với ‘Thái Tử’, tự xưng là viện nghiên cứu văn tự cổ, bày tỏ mong muốn mua lại những mảnh đồng ấy. Thực ra lúc đó đã có người ra giá trên trời, nhưng ‘Thái Tử’ lại tuyên bố sẵn sàng tặng chúng cho một cơ quan nghiên cứu, chứ không bán cho giới buôn lậu. Ông ta gửi tất cả đến cho chúng tôi mà không lấy một xu, kèm theo cả tọa độ nơi đánh bắt được. Lập tức, chúng tôi cử đội tinh nhuệ đến khu vực ấy, dùng sonar quét đáy biển. Ban đầu chúng tôi kỳ vọng phát hiện ra những cột trụ khổng lồ nằm sâu dưới đáy, nào ngờ lại bắt được một tín hiệu trái tim đập… ngay trên thềm biển. Biển băng Greenland vốn không sâu như rãnh Nhật Bản, bên trong vẫn có những loài khổng lồ như cá voi trắng hay cá mập hổ. Vì thế, lúc đầu chúng tôi không hề nghĩ đó là phôi thai của rồng. Nhưng chúng tôi quan sát suốt nhiều tháng, vật thể ấy tuyệt nhiên không hề di chuyển. Cuối cùng, chúng tôi buộc phải gạt bỏ suy nghĩ về cột trụ, mà dồn toàn bộ sự chú ý vào nhịp tim quái dị ấy. Nếu đó là cá voi hay cá mập, lẽ ra nó đã đi săn khắp nơi. Nếu là một loài rùa biển khổng lồ nào chưa biết, đang ngủ đông, thì nhịp tim của nó cũng không thể mạnh mẽ đến vậy. Và rồi, có người đưa ra giả thuyết kinh động: đó chính là một phôi thai rồng. Thềm biển kia là nơi an táng của nó, và sau cái chết, nó lại bước vào quá trình ‘hóa kén’, trở lại hình thái phôi, đang chờ đợi một kỳ nở trứng kéo dài vô tận. Ý tưởng ấy quả thực quá táo bạo. Nhưng cái nhịp tim kia vừa quỷ dị, vừa hấp dẫn đến mức khiến tất cả chúng tôi bị cuốn vào. Từ khi Bí Đảng được thành lập tới nay, chúng tôi chỉ từng có một lần duy nhất lấy được phôi thai rồng, mà đó lại là một tam đại chủng, huyết mạch đã yếu ớt. Nếu lần này thực sự có thể chạm đến một phôi thai hùng mạnh, việc giải phẫu và phân tích nó sẽ mở ra cánh cửa để con người hiểu sâu hơn về loài sinh vật cổ xưa ấy.”

“Vậy là các ông quyết định xuống tận nơi?” 

Manstein hỏi.

“Không. Chúng tôi không liều lĩnh như vậy. Khi tất cả mới chỉ là phỏng đoán, cách an toàn nhất dĩ nhiên là cho robot lặn điều khiển từ xa đi khảo sát trước. Nhưng lạ thay, mỗi khi robot tới gần thềm biển ấy thì lập tức mất kiểm soát. Khi thu hồi, chúng tôi phát hiện toàn bộ mạch điện bên trong đều bị cháy hỏng một cách bí ẩn. Điều đó càng củng cố giả thuyết ‘phôi thai rồng’. Theo truyền thuyết, khi loài rồng bước vào giai đoạn nở trứng, chúng sẽ mở ra một lãnh địa đặc biệt để bảo vệ chính mình, kẻ nào xâm nhập sẽ bị ảo giác hủy diệt tâm trí. Xét theo sinh học, ảo giác vốn dĩ là kết quả của việc vỏ đại não bị kích thích, mà yếu tố kích thích mạnh nhất không gì khác ngoài dòng điện.”

“Ý ông là lãnh địa của phôi thai đã khiến mạch điện robot cháy hỏng?” 

Manstein hỏi.

“Chúng tôi tin là vậy. Nhưng vẫn chưa muốn cho người xuống tận nơi. Bởi nếu đúng là lãnh địa của phôi thai đủ sức đốt cháy mạch điện, thì mức độ tác động lên não người còn đáng sợ hơn nhiều. Cho dù sinh viên của tôi đều thuộc hàng huyết thống hạng A, tôi cũng chẳng dám chắc họ có thể chống chọi nổi. Trong ảo giác do rồng tạo ra, chỉ những hỗn huyết chủng có ý chí mạnh mẽ nhất mới giữ được bản ngã, một khi phòng tuyến tâm lý rạn nứt, ảo ảnh sẽ nghiền nát tất cả. Điều này đã được ghi chép trong hồ sơ của Bí Đảng.” 

Schneider khẽ thở dài, “Nhưng rồi Hội đồng Quản trị đã xen vào. Họ hạ lệnh chúng tôi phải lập tức xuống biển xác định mục tiêu. Lý do đưa ra là: không thể ngồi yên chờ phôi thai nở. Dù nguy hiểm, cũng phải hành động ngay.”

“Vậy việc lặn xuống biển… là quyết định của Hội đồng Quản trị?”

“Đúng vậy. Hôm nay họ cử ông đến để ngăn cản chiến dịch Long Uyên, còn năm xưa chính họ lại là những kẻ hoạch định Chiến dịch Greenland. Dưới sức ép đó, chúng tôi buộc phải vạch ra kế hoạch lặn. Chúng tôi nhập từ Đức loại chuông lặn tiên tiến nhất thời bấy giờ, thiết bị lặn toàn kim loại. Kim loại vốn dẫn điện tốt, có thể hình thành lớp màn tĩnh điện, hy vọng sẽ giảm bớt ảnh hưởng từ lãnh địa của phôi thai. Mỗi thành viên của đội lặn đều được quấn kín cơ thể bằng lưới kim loại mảnh, uống thêm thuốc an thần cho hệ thần kinh. Họ là những hỗn huyết chủng ưu tú nhất, chúng tôi tin rằng khi được trang bị như vậy, họ có thể chống lại sự nhiễu loạn của lãnh địa phôi thai. Hơn nữa, đội lặn gồm 6 người, nếu 1 người gặp vấn đề, 5 người còn lại có thể cưỡng chế đưa người đó trở lên. Để tiêu diệt phôi thai nguy hiểm kia, chúng tôi còn đặc chế cho họ súng trường dưới nước, nạp loại đạn được mài từ Hòn đá Hiền giả, thứ vũ khí chí tử đối với rồng. Dù biết nhiệm vụ vô cùng nguy hiểm, nhưng bọn sinh viên lại tỏ ra vô cùng phấn khích. Tuổi trẻ vốn ít sợ hãi, mà lại có cơ hội tận mắt tiếp cận một phôi thai rồng, chẳng khác nào được bước chân vào thần quốc, ai mà không rạo rực. Hôm tiến hành lặn, thời tiết đẹp đến bất ngờ. Sáu người trong đội chia ra ngồi vào 3 chuông lặn, từ từ hạ xuống, còn tôi ở trên băng phụ trách chỉ huy. Ban đầu mọi việc rất thuận lợi: dòng biển yên ả, sinh vật biển cũng bình lặng, họ thậm chí còn thấy cả cá voi trắng. Nhưng khi xuống đến độ sâu 170m, đội trưởng bỗng hét lên qua kênh liên lạc, giọng đầy kinh ngạc: họ đã nhìn thấy một cánh cửa. Thật quái lạ, đáy biển ở khu vực đó sâu đến 300m, nghĩa là họ còn cách đáy 130m. Trong làn nước đục mờ ấy, họ lại trông thấy một cánh cửa… lẽ nào nó lơ lửng giữa biển khơi? Tôi lập tức cảnh giác, lo rằng họ đã bước vào lãnh địa của phôi thai và bắt đầu sinh ảo giác. Trong kênh liên lạc, họ nhao nhao bàn tán về cánh cửa ấy. Đó là điều tuyệt đối cấm kỵ: dưới nước, liên lạc phải ngắn gọn, rõ ràng, để tránh hiểu lầm. Tôi quát lớn, ra lệnh họ tuyệt đối không được đến gần. Tôi không chắc cánh cửa ấy có thật hay không, nhưng linh cảm mách bảo tôi rằng nó không được phép mở ra. Nhưng họ không hề đáp lại, tôi chỉ còn nghe tiếng thở dồn dập, xen lẫn những âm thanh kỳ dị như có người đang tụng kinh dưới đáy giếng sâu, vừa niệm vừa thở than. Rồi đội trưởng thốt lên đầy sửng sốt: ‘Cửa mở rồi! Nó mở ra rồi!’ Nhưng ngay sau đó lại hét: ‘Không! Đừng vào!’ Tiếp đó là tiếng súng nổ dồn dập, rõ ràng họ đã nổ súng dưới nước, tiếng quẫy đạp và tiếng máy thở vang lên hỗn loạn. Họ đã rời chuông lặn, đang vật lộn với thứ gì đó. Kênh liên lạc loạn thành một mớ tiếng kêu, nhưng do nhiễu điện quá mạnh, tôi chẳng nghe rõ được gì. Tôi từng căn dặn đi căn dặn lại: tuyệt đối không được rời chuông lặn, vì lớp màn tĩnh điện bên trong chính là tấm khiên sinh tử của họ. Nhưng vì sao họ lại trái lệnh, cho đến nay vẫn chưa có lời giải thích. Năm phút sau, liên lạc hoàn toàn mất tín hiệu. Từ đáy biển băng kia, không còn một âm thanh nào truyền về. Tôi quyết định kéo khẩn cấp chuông lặn lên. Chúng nối với tàu phá băng bằng dây an toàn. Nhưng khi thu dây lên, chúng tôi phát hiện dây đã bị cắt, vết cắt còn mới, chính xác là do loại dao lặn mà chúng tôi phát cho họ. Họ đã tự tay cắt đứt đường sống của mình. Tôi gần như phát điên, quyết định tự mình lặn xuống cứu họ. Chuông lặn đã hết, nhưng tôi tin vào thể chất của bản thân, không cần thiết bị, tôi vẫn có thể xuống đến 300m. Tôi liều một hơi lặn thẳng xuống 170m, tiến vào khu vực xảy ra sự cố. Nhưng dưới đó không có cửa, cũng chẳng có thi thể nào. Nước biển trong vắt, không hề vương máu. Thế nhưng trong kênh liên lạc, tôi vẫn nghe rõ ràng tiếng súng nổ rền vang. Khi ấy, nhiệt độ nước đã hạ xuống dưới 0, biến thành thứ nước siêu lạnh, chỉ cần khẽ khuấy động liền lập tức kết băng. Và tôi bỗng nhận ra, ngay sau lưng mình… có một thứ gì đó đang âm thầm bám theo! Nếu nó không lộ sơ hở, với sự thận trọng của loài săn mồi ấy, hẳn tôi chẳng bao giờ phát hiện. Nhưng dòng nước siêu lạnh bị tôi khuấy động, đóng băng lại rất nhanh, chỉ vài giây đã hình thành một lớp màng mỏng ngay trước mặt, phản chiếu ánh đèn trên mũ lặn. Trong lớp băng ấy, tôi thoáng thấy một bóng đen tựa như totem trên vách đá cổ xưa! Nó di chuyển nhẹ nhàng, chiếc đuôi dài lướt chậm trong nước, uyển chuyển đến mức chẳng phát ra một tiếng động, như cánh bướm bay lượn. Đúng lúc đó, ánh đèn tắt phụt vì nhiệt độ quá thấp, bóng tối nuốt chửng mọi thứ. Tôi nghĩ mình chắc chắn sẽ chết, phôi thai đã nở, nó chính là thủ phạm giết chết các học trò của tôi! Nó đang ở ngay sau lưng, gần đến mức tôi có thể cảm nhận hơi thở của nó, nhưng tôi lại bất lực. Trong cảnh tuyệt vọng, con người thường bộc phát liều lĩnh. Tôi sực nhớ trong tay mình vẫn còn một khẩu APS, loại súng trường tấn công dưới nước của Nga. Những khẩu súng đặc chế đều giao cho đội lặn, còn thứ trong tay tôi chỉ là APS thường, đạn cũng chỉ là loại thông dụng. Nhưng có súng thì không thể ngồi chờ chết. Tôi xoay người, nhắm thẳng vào bóng tối mà bóp cò. Lập tức, mùi máu tanh nồng nặc theo khe mặt nạ tràn vào mũi. Tôi hoàn toàn không bị thương, vậy kẻ chảy máu chỉ có thể là… con rồng ấy.

“APS sao có thể làm rroofng bị thương? Thứ đó chỉ để đối phó người nhái, đến cá mập lớn còn chẳng giết nổi.” 

Manstein sững sờ.

“Hơn nữa, ở độ sâu 170m thì đã vượt xa giới hạn sử dụng của APS rồi.”

“Tôi không biết. Nhưng mùi máu quá rõ ràng, nồng nặc đến độ len lỏi cả vào trong mặt nạ dưỡng khí. Tôi không hề có vết thương nào. Vậy thì… kẻ bị thương chỉ có thể là nó.” 

Schneider khàn giọng đáp.

“Tôi cảm nhận rất rõ ràng, nó ở ngay trước mặt mình. Tôi và con rồng bị thương ấy đứng đối diện trong màn đen đặc, gần đến mức chỉ cần đưa tay ra là chạm tới, nhưng tôi lại chẳng thể nhìn thấy gì. Nó phả ra một luồng khí. Chỉ trong chớp mắt, mặt nạ dưỡng khí của tôi vỡ tan, luồng hàn khí lẫn với máu rồng tràn vào khí quản, như thể xuyên thẳng vào tận linh hồn. Ý thức của tôi vụt tắt. Trên mặt băng, đồng đội phát hiện tôi không còn đáp lại tín hiệu, liền kích hoạt hệ thống kéo khẩn cấp, giật tôi ngược lên mặt nước. Lúc nổi lên, thân thể tôi đã bị đóng cứng trong một khối băng nặng mấy tấn, chẳng khác nào con cá đông lạnh bày trong siêu thị. May mắn là trực thăng cứu hộ kịp đến chỉ sau vài phút. Tôi tỉnh lại trong tình trạng bác sĩ nói là đã chạm đến cực hạn của giá lạnh. Tôi như vừa nhảy một điệu vũ sinh tử với Tử Thần, hít vào luồng khí âm hàn từ miệng nó, -200 độ, lạnh đến gần như ngưng tụ thành chất lỏng. Chỉ trong khoảnh khắc, nửa khuôn mặt tôi đã hoại tử, nhiệt độ não bộ rơi xuống âm độ, máu trong mạch cũng đông lại. Khả năng sống sót chưa đến 0.1%. Dù bác sĩ đã dốc hết sức, thứ họ cứu vớt được chỉ còn lại… cái lưỡi của tôi. Trong ca phẫu thuật, khí quản của tôi giòn như xác ướp, chạm nhẹ cũng vỡ vụn. Từ đó tôi buộc phải mang mặt nạ dưỡng khí suốt đời, 2-3 năm một lần thay ống thở nhựa, nếu không sẽ chết vì suy hô hấp. Tôi vốn nghiện thuốc lá cuốn tay. Nhưng hộp thuốc lá vụn này đã giữ suốt 11 năm mà vẫn chưa hút hết. Tôi chỉ châm một điếu vào những lúc nhớ lại chuyện cũ. Khói thuốc xuyên qua ống thở, cái đau bỏng rát khiến ký ức khắc sâu thêm, như vết sẹo chẳng thể phai. Tôi thề với ông, từng chi tiết tôi nói ra đều là thật, vì tôi không dám quên. Nỗi đau ấy đã khắc thẳng vào trí nhớ của tôi. Chúng tôi đã không thể bắt hay giết con rồng đó. Nó vẫn còn sống, lẩn trốn nơi sâu thẳm đại dương, chỉ chờ cơ hội trồi lên mặt nước. Vài giờ sau, chúng tôi điều khiển robot thám hiểm xuống lại hiện trường. Cả vùng biển băng giá tĩnh lặng như chết, ngay cả bóng cá cũng biến mất, chẳng để lại dấu vết nào. Lục soát cả đáy biển cũng chẳng tìm ra phôi thai hay cột đồng, như thể tất cả chỉ là một cơn ác mộng, tỉnh dậy thì tan biến sạch. Vài năm sau, một công ty khai thác biển phát hiện nơi đó có trữ lượng mangan khổng lồ và đã dựng lên giàn khoan. Giờ ở đó có cả ngàn công nhân mỏ ngày đêm làm việc, và từ ấy không còn hiện tượng siêu nhiên nào xảy ra. Cho đến gần đây, chúng tôi lại bắt được tín hiệu nhịp tim y hệt, ở tận đáy rãnh Nhật Bản. Câu chuyện đến đây là hết. Nhưng tôi còn một thứ muốn đưa cho ông.” 

Schneider kéo từ dưới bàn ra một tập hồ sơ dày phủ bụi, đẩy sang trước mặt Manstein.

“Tôi đoán được hội đồng quản trị sẽ sớm cử người tới chặn chiến dịch Long Uyên, nên đã lén mang tập này từ phòng lưu trữ. Không ngờ trong lúc vội vã, họ lại đẩy ông đến đây. Đọc đi. Đừng để ý đến dấu niêm đỏ ‘SS’ trên bìa. Đợi ông đọc xong, tôi sẽ làm giả con dấu rồi đóng lại.”

“Ông làm cách nào lấy được cái này?” 

Mặt Manstein biến sắc. 

“Dù là trưởng Bộ Chấp hành, ông cũng sẽ bị hội đồng bãi nhiệm vì chuyện này!”

Tài liệu hạng “SS” vốn chỉ có hội đồng quản trị mới được tiếp cận. 

Tất cả đều là văn bản giấy, không có bản sao trong Norma. 

Chúng được cất giữ trong thư khố tuyệt mật tại Valhalla, chìa khóa nắm trong tay hiệu trưởng và các ủy viên hội đồng. 

Bộ Trang bị điên rồ kia chỉ được phép canh giữ chứ không được đọc. 

Ngay cả thành viên hội đồng cũng khó mà vào đó, bởi Valhalla gần như đóng kín, có khi ngay cả họ cũng bị từ chối ngoài cửa.

“Tôi dĩ nhiên không tự lấy được. Đám ở Trang bị vốn chẳng ưa tôi.” 

Schneider nói, “nhưng có kẻ có thể lấy. Nếu người đó chẳng buồn để tâm đến chuyện bị bãi nhiệm, thì tại sao tôi phải bận lòng?”

Ẩn ý quá rõ ràng. 

Anjou chưa từng sợ bị luận tội. 

Hội đồng quản trị đã nhiều lần muốn phế truất ông ta, nhưng vấn đề là không ai thay thế nổi.

Bìa hồ sơ ghi “Kalaallit Nunaat”, trong tiếng Greenland nghĩa là “Đảo Greenland”. 

Vụ Greenland 11 năm trước từng làm rung chuyển tận thượng tầng học viện, nhưng những người biết rõ chân tướng đều câm lặng. 

Manstein gia nhập Cassell chỉ sau biến cố ấy. 

Giờ, chỉ cần mở tập tài liệu này, bức màn bí ẩn năm xưa sẽ được vén lên, sức hấp dẫn ấy đủ khiến ông khó cưỡng.

“Đây có thể là cơ hội duy nhất để ông biết sự thật. Nếu giờ dừng lại, vẫn còn kịp.”

Giọng Schneider lẫn chút mỉa mai. 

“Nhưng đọc xong, ông sẽ chẳng còn đường làm kẻ gió chiều nào theo chiều ấy nữa. Nhà Gattuso mà biết ông đã xem tập này, họ sẽ coi ông như một con chó trung thành khác của hiệu trưởng, giống hệt tôi.”

Manstein thở dài, dùng ngón tay bật con dấu niêm. 

Ông lật từng trang, chữ ký của những kẻ trong cuộc hiển hiện trước mắt. 

Càng đọc, mặt ông càng tái, khóe mắt giật liên hồi, bàn tay cũng run rẩy.

“Đám khốn đó… đã làm những chuyện gì thế này!” 

Ông gầm khẽ.

“Đúng vậy. Đó là lý do hội đồng không dám chạm lại vụ Greenland.” 

Schneider nói. 

“Ông thấy rồi đấ,  họ rõ ràng biết việc tiếp cận phôi thai cổ long nguy hiểm ra sao. Bí đảng sớm đã hiểu, ngay từ giai đoạn phôi, rồng đã mang tính công kích. Nhiều huyết thống bạo liệt còn có thể tự xé toạc cơ thể mẹ để ra đời, huống chi là cổ long thực sự. Nhưng hội đồng khao khát có được phôi thai ấy, chẳng ngại lấy mạng người ra mạo hiểm. Kết quả là tai nạn tất yếu xảy ra. Họ vội vàng che đậy chân tướng, thay máu gần hết bộ máy quản lý, đẩy những kẻ liên quan tản ra khắp các chi nhánh toàn cầu. Họ còn buộc phải nhượng quyền cho hiệu trưởng, từ đó quyền lực mới nghiêng hẳn về phía ông ta như bây giờ. Hội đồng không đủ tư cách gửi công văn bắt tôi dừng chiến dịch Long Uyên. Việc tôi đang làm hôm nay chẳng khác gì những gì họ từng làm 11 năm trước. Chỉ vì trong đội lặn lần này có cả người thừa kế nhà Gattuso, nên họ mới hoảng loạn. Người khác thì có thể chết, nhưng mạng của chính họ thì phải bảo toàn. Ngay cả lũ điên Trang bị cũng chẳng hèn hạ bằng họ.” 

Schneider nói.

“Phôi thai 11 năm trước đã bất ngờ nở… còn lần này thì sao?”

“Dĩ nhiên là có khả năng. Chúng ta hiểu biết quá ít về quá trình nở của loài rồng, làm sao biết nó sẽ nở khi nào?”

“Ngay cả nhóm Caesar cũng không biết ư?”

“Không cần thiết. Biết rồi chỉ thêm sợ hãi vô ích. Chúng ta chỉ mượn sức mạnh từ huyết thống của họ, chỉ những kẻ huyết thống đủ mạnh mới có thể kháng cự lại ảnh hưởng từ trường của phôi thai.”

“Vậy thì ông khác gì bọn khốn trong Hội đồng quản trị? Nhóm Caesar chẳng khác nào một bầy cừu tự bước lên tế đàn! Mà kẻ dẫn dắt đàn cừu đến lễ tế lại chính là một con quỷ!”

“Quỷ? Ý ông là tôi sao?” 

Schneider ngẩng đầu lên.

“Còn ai khác? Giờ tôi mới hiểu câu nói ấy nghĩa là gì! Đám người ở Bộ Trang bị là bọn điên, còn kẻ ở Bộ Chấp hành thì là lũ cuồng! Bộ Trang bị không hiểu giá trị sinh mạng, còn Bộ Chấp hành thì thản nhiên coi nhẹ nó!” 

Manstein gầm gừ, “Trong mắt các người chỉ có cái nhiệm vụ chết tiệt kia thôi đúng không? Bao nhiêu người chết đi vì nó cũng mặc kệ chứ gì? Ông ngồi đây vờ ra vẻ u buồn, châm thuốc nhớ lại lũ học trò đã mất, nói toàn những lời cảm động. Nhưng khốn kiếp, chính ông lại đẩy một thế hệ học trò mới vào địa ngục! Nếu tôi là mẹ ông, tôi sẽ hối hận vì đã sinh ra một thằng súc sinh như ông!”

“Ông không thể là mẹ tôi, vì ông là đàn ông.” 

Schneider lạnh lùng đáp. 

“Manstein, đôi khi tôi thật sự ghen tị với ông. Ông và Guderian sống trong một thế giới trong sạch, không giống tôi và hiệu trưởng, những kẻ phải gánh lấy tội lỗi.”

“Gánh tội?”

“Đúng, là những kẻ nuốt hết tội lỗi vào mình. Trên đời này, không phải việc gì đúng cũng là công bằng, và cũng chẳng phải công bằng nào cũng là đúng. Có một bài toán ngụy biện như thế này: Ở chỗ đường ray phân nhánh, một bên có treo biển cảnh báo vì sẽ có tàu chạy qua, còn bên kia là đường ray bỏ hoang, không có cảnh báo. Giờ con tàu sắp đến. Trên đoạn ray có biển cảnh báo, có 100 đứa trẻ đang chơi, chúng chẳng buồn để ý gì. Còn trên đoạn ray bỏ hoang, chỉ có 1 đứa bé chơi một mình, nó tuân thủ quy định. Ông có thể kéo cần đổi hướng tàu. Ông có kéo không? Nếu ông không kéo, 100 đứa trẻ sẽ chết. Còn nếu ông kéo, chỉ 1 đứa bé bị nghiền nát, nhưng đó lại là đứa bé biết nghe lời.” 

Schneider nhìn thẳng vào mắt Manstein. 

“Thưa giáo sư thân mến, ông sẽ kéo chứ?”

Manstein chết lặng. 

Ông không sao trả lời nổi. 

Đúng là một trò ngụy biện chết tiệt, rốt cuộc thì cái gì quan trọng hơn: 

Sự nghe lời hay sinh mạng? 

Nếu không kéo, cái chết của 100 đứa trẻ sẽ biến thành nỗi đau không gì xoa dịu được của trăm gia đình. 

Nhưng kéo thì sao nỡ giết 1 đứa bé vô tội? 

Nó thậm chí còn có thể đã cố nhắc mọi người đừng chơi ở đoạn ray nguy hiểm… 

Làm sao có thể nhẫn tâm để đứa bé ấy chết thay cho những kẻ sai lầm?

“Thời gian đã hết. Trong lúc ông còn do dự, 100 đứa trẻ kia đã bị nghiền nát rồi.” 

Schneider thản nhiên nói. 

“Ông chẳng hề chọn lựa, chỉ đứng nhìn mọi chuyện xảy ra.”

“Vậy ông sẽ chọn thế nào?”

Manstein khàn giọng hỏi.

“Tôi sẽ kéo cần. Dù tôi giết 1 đứa trẻ, nhưng tôi cứu được 100 đứa. Như thế tôi chính là kẻ gánh tội, tôi làm điều đúng, nhưng mang lấy tội ác. Tôi nuốt nó vào mình, để người khác còn giữ được sự thiện lương vô tội.”

“Ông chỉ ngụy biện thôi!” 

Manstein quát.

“Không cần phải ngụy biện. Nếu ông không phải bạn tôi, tôi còn chẳng nói ra điều này.” 

Schneider lắc đầu. 

“Tôi đúng là đã đưa nhóm Caesar vào nhiệm vụ nguy hiểm, nhưng đó là lựa chọn không thể tránh. Chúng ta không thể để mặc phôi thai ấy nở ra trong cực uyên. Càng sớm ra tay càng tốt, trước khi nó sinh ra ý thức. Chần chừ chỉ khiến kẻ địch thêm thời gian chuẩn bị, đó là lời hiệu trưởng. Nếu nhóm Caesar vì thế mà diệt vong, tội ấy sẽ do tôi gánh.”

“Tôi cứ tưởng ít nhất ông sẽ nghĩ đến Sở Tử Hàng. Bấy lâu nay ông vẫn rất để tâm đến an nguy của cậu ấy.” 

Manstein nói, giọng lạc đi trong tuyệt vọng.

“Sở Tử Hàng, Lộ Minh Phi hay Caesar… trong mắt Bộ Chấp hành, họ chỉ là những loại vũ khí khác nhau. Chúng tôi quan tâm vũ khí có nguyên vẹn hay không, nhưng nếu vì thế mà không rút kiếm, thì vũ khí còn giá trị gì? Còn nhớ cái phát xạ tôi gắn trong răng hàm của Sở Tử Hàng không?” 

Schneider đẩy chiếc điện thoại về phía Manstein. 

Trên màn hình là bản đồ Nhật Bản, một chấm đỏ nhấp nháy đều đặn.

Manstein gật đầu.

“Là tôi đưa em ấy vào Cassell, nhưng ngay từ ngày nhập học tôi đã theo dõi mọi hành động của em ấy. Nếu có dấu hiệu mất kiểm soát, tôi sẽ không ngần ngại liệt vào danh sách nguy hiểm, lập tức cử người xử lý. Chỉ có quỷ dữ mới đủ tư cách quản lý Bộ Chấp hành, và những kẻ đi cùng tôi đều là kẻ điên. Thứ gắn kết chúng tôi không phải tình cảm, mà là mục tiêu chung. Từ xưa đến nay, Bí Đảng vốn dĩ là một tổ chức như vậy, đối thủ của chúng ta là loài rồng, một chủng tộc mạnh khủng khiếp. Nếu còn mang theo thứ tình cảm yếu mềm, thì chúng ta chỉ có con đường chết.”

“Nếu thật sự có thể hy sinh bất cứ ai để diệt rồng, vậy sao ông không tự chui vào tàu lặn mà đi?”

Schneider ngẩng đầu, lẳng lặng đặt chiếc đĩa sứ trắng lên bàn giữa hai người. 

Trên đĩa chỉ còn bộ dao nĩa bạc. 

Đột nhiên ông rút dao ăn, đảo tay đâm thẳng vào tim, rồi dằn mạnh xuống chuôi, lưỡi dao ngập sâu.

Ông lặng lẽ rít thuốc, mắt vẫn khóa chặt vào Manstein, không nói lời nào. 

Trên ngực máu chảy, nhưng nét mặt ông không hề biến đổi, cứ như vết thương chưa từng tồn tại. 

Manstein chết lặng, trợn mắt nhìn. 

Một phút sau, Schneider kéo dao ra, vết thương đã bắt đầu liền lại, cơ bắp giữ chặt lấy lưỡi thép, phải giằng mới ra. 

Ông không hề nhăn mặt, chẳng cảm thấy chút đau đớn nào.

“Ông bị ô nhiễm rồi…” 

Manstein khàn giọng.

Schneider ném con dao vào đĩa, máu vấy đỏ, gằn giọng: 

“Đúng. Tôi bị máu Cổ Long ăn mòn.” 

Vết thương đã khép, cơ thịt đang hồi phục trông thấy.

“Trong 100.000 người, chỉ có 1 kẻ khi tiếp xúc máu rồng có thể sống sót và tiến hóa. Tôi lại chính là kẻ đó. Tôi còn sống sót từ đáy biển trở về vì ngay khoảnh khắc hít phải máu rồng, nó đã kích phát tiềm năng của tôi. Nhưng tôi vốn không đủ tư cách để tiếp nhận nó. Máu rồng vừa cường hóa vừa hủy hoại cơ thể tôi, khiến tôi suốt mười 11 năm nay sống trong đau đớn tận xương tủy. Người trong học viện có khả năng trở thành Tử thị nhất không phải Sở Tử Hàng, mà là tôi. Tôi không phải sợ xuống đáy biển, mà là thân thể này không chịu nổi. Trước mặt ông lúc này chỉ là một kẻ bệnh tật thoi thóp. Nếu không nhờ máu rồng níu giữ, tôi đã chết từ lâu rồi.”

“Hiệu trưởng biết chuyện này sao?”

“Ông ấy biết. Học viện đã xây dựng riêng cho tôi một phác đồ điều trị. Tôi phải thay máu hằng năm, nhưng máu rồng thì không bao giờ rửa sạch được. Tôi sống được bao lâu, chẳng ai biết.” 

Schneider gõ nhẹ lên ngực mình. 

“Bên cạnh mạch máu tim tôi gắn một quả bom nhỏ bằng máy tạo nhịp. Một khi tôi mất kiểm soát, nó sẽ phát nổ. Tôi sẽ ngã xuống trong một tiếng nổ khẽ, không gây phiền phức cho bất cứ ai.”

“Ngay cả với bản thân ông cũng tàn nhẫn thế sao?” 

Manstein thì thầm.

“Muốn tàn nhẫn với người khác, trước hết phải học cách tàn nhẫn với chính mình. Nếu không thì chỉ là hạng hèn nhát.” 

Schneider chậm rãi nói. 

“Nhiều người nghĩ sau sự kiện Greenland, tôi sẽ mãi mãi rút lui, chôn mình trong nghiên cứu. Vì lần đó tôi mất đi 6 sinh viên, và chính bản thân cũng biến thành quái vật thế này. Họ cho rằng, kẻ từ địa ngục trở về sẽ phải biết quý trọng mạng sống. Nhưng tôi lại chọn ngồi vào ghế Trưởng Chấp hành. Tôi là kẻ duy nhất sống sót của đội Greenland. Những thanh niên rực rỡ như những bông hoa ấy đều đã chết, chỉ còn tôi ở lại. Nếu tôi sống như một thằng hèn nhát thì chẳng phải quá buồn cười sao?”

“Vậy nếu nhóm Caesar đi lại vết xe đổ của Greenland thì sao? Ông còn chịu nổi cảnh bao nhiêu sinh viên chết ngay trước mặt nữa không?”

“Đây là chiến trường của nhân loại và loài rồng. Trên chiến trường vốn dĩ là như vậy: nhân từ vô nghĩa chỉ khiến nhiều người chết thêm. Người lính đầu tiên ngã xuống ngay trước mặt ông, ông không có thời gian để hoảng sợ hay đau buồn, càng không thể vứt vũ khí chạy trốn. Ông chỉ có thể gào lên, hô những người khác xông lên cùng mình. Mỗi tấc đất dưới chân ông đều là máu và mạng sống của đồng đội. Nếu ông dừng lại, họ sẽ chết uổng phí. Người thứ hai ngã xuống, ông vẫn phải gào… Người thứ ba ngã xuống, ông vẫn phải gào… Đã bắt đầu xung phong thì không được quay đầu. Chỉ có hai kết cục: hoặc toàn quân bị diệt, hoặc chọc thủng trận địa địch. Với kẻ hèn nhát, thì chỉ có một kết cục thôi: toàn quân bị diệt!”

Manstein nhìn vào đôi mắt sáng rực đầy dữ tợn của Schneider, im lặng thật lâu rồi khẽ nói: 

“Bạn tôi, ông càng lúc càng giống hiệu trưởng. Tôi có ảo giác như chính ông ấy đang đứng trước mặt, gầm lên rằng: ‘Tôi là kẻ cuối cùng của Hội Sư Tâm! Chỉ cần tôi còn chiến đấu, Hội Sư Tâm thuở ban đầu vẫn chưa kết thúc!’”

“Ông ấy từng nói vậy sao?” 

Schneider cau mày.

“Không, ông ấy chưa từng nói như thế. Nhưng tôi lại có cảm giác đó. Trong vụ cảng Hamburg, toàn bộ thế hệ đầu tiên của Hội Sư Tâm bị xóa sổ, chỉ còn một mình ông ấy sống sót. Thứ nâng ông ấy dậy chính là thù hận. Bề ngoài thì là một lão già phong lưu, bên trong lại là con hổ bị thương, lúc nào cũng mài răng mài vuốt. Ông ấy muốn diệt sạch loài rồng, ai cản đường thì quét sạch, kể cả Hội đồng quản trị. Và ông ấy đủ sức làm điều đó. Các ông càng ngày càng giống rồng, càng ngày càng ít mùi vị của con người.”

“Ý ông là gì?” 

Schneider lạnh lùng hỏi.

“Kiên nhẫn, bền bỉ, tàn nhẫn, sắc bén… nói là đức hạnh của con người thì chẳng bằng gọi thẳng ra là bản năng của loài rồng. Với tư cách chiến binh, rồng vốn đã hoàn mỹ. Con người thì khác, sinh ra vốn yếu đuối, biết sợ hãi, biết do dự, dễ bỏ cuộc. Nhưng ông và hiệu trưởng lại không cho phép mình có những nhược điểm đó, các người ép bản thân phải lạnh lùng, vô tình như rồng. Loại người như các ông càng ngày sẽ càng mạnh mẽ, nhưng đồng thời cũng càng cô độc, mạnh mẽ đến mức cô độc như chính loài rồng vậy.”

“Muốn đánh bại ác quỷ thì trước hết phải biến mình thành ác quỷ.”

“Nhưng như thế thì cho dù ông thắng cũng có ích gì? Đó đâu phải chiến thắng của ông, mà là chiến thắng của ác quỷ.” 

Manstein nói, “Ông kể cho tôi câu chuyện của mình, vậy có muốn nghe câu chuyện của tôi không?”

“Nhóm Caesar vẫn đang chờ mệnh lệnh của tôi.”

“Sẽ không mất nhiều thời gian đâu. Không có bí mật gì ghê gớm, cũng chẳng có tình tiết éo le, chỉ là chuyện giữa tôi và ông bố ‘kỳ diệu’ của mình thôi.”

“Ông không nhắc thì tôi còn quên mất hiệu phó là cha ông.” 

Schneider nói.

“Đúng vậy, giữa cha con tôi chẳng có điểm chung nào. Đứng chụp ảnh cạnh nhau trông còn gượng gạo. Tôi thì đã hói, còn ông ta lại thích thắt khăn lụa ở cổ, bảnh bao như cao bồi miền Tây.” 

Manstein chậm rãi nói, “Quan hệ cha con thì chẳng thân thiết gì, cũng chẳng có chút tình cảm. Ông ta bỏ rơi tôi và mẹ từ khi tôi còn bé. Suốt đời ông ta chỉ biết sống như một con bò đực, hễ thấy ‘bò cái’ nào là lao tới. Tôi cũng chẳng biết ông ta đã qua lại với bao nhiêu phụ nữ, chắc chắn mẹ tôi không phải người ông ta yêu nhất. Có lẽ tôi ra đời chỉ vì một lần tránh thai thất bại. Mãi đến khi tôi vào học viện này mới gặp lại ông ta… nhưng cũng chẳng gọi là nhận nhau gì. Ông ta tự nhận mình là cha, đòi uống với tôi một ly, và tôi đã hất rượu thẳng vào mặt ông ta.”

“Vì ông ta chưa bao giờ làm tròn trách nhiệm người cha?” 

Schneider hỏi.

“Chuyện nhận cha thực ra diễn ra thế này,” Manstein kéo từ cổ áo ra một cây thánh giá vàng đã cũ, “Đây là di vật của mẹ tôi, tôi luôn mang theo bên mình. Hôm đó trong tiệc chào đón giảng viên mới, lão già bỗng đặt tay lên vai tôi, nhìn chằm chằm vào cây thánh giá này rồi nói: ‘Ơ, chẳng phải mặt dây chuyền của cô Martha ngực nở sao?’ Tôi hỏi sao ông biết tên mẹ tôi, ông ta lại bảo: ‘Ra là mẹ cậu à? Ôi trời, thật là trùng hợp! Nếu trong thời gian quen tôi mà cô ấy không qua lại với thằng khác thì chắc cậu là con tôi rồi! Không ngờ lại gặp được cậu trong dịp này, chúng ta phải uống một ly thôi!’ Nếu ông là tôi thì sẽ làm gì?”

“Ông không đập cả cái ly vào mặt ông ta thì đúng là quá nhẫn nhịn.” 

Schneider đáp.

“Đúng thế. Tôi nhớ lại những năm tháng theo mẹ nay đây mai đó trên chiếc xe bán tải đời 1963, chẳng có một chỗ ở ổn định. Để nuôi tôi, mẹ phải chịu đủ loại sỉ nhục từ đám đàn ông. Vì thường xuyên chuyển chỗ, tôi không có bạn bè, chỉ có lũ côn đồ địa phương bắt nạt, thậm chí có lần dồn tôi vào ngõ nhỏ rồi cùng nhau tè lên người tôi. Lẽ ra khi ấy tôi phải có một người cha đứng ra dạy cho bọn chúng một bài học. Nhưng tôi cắn răng không kể với mẹ, vì mẹ đã quá mệt rồi, tôi chỉ muốn bà có thể ngủ một giấc yên bình sau giờ làm. Còn lão hiệu phó thì lúc đó chắc đang lăn lộn trên giường với một ‘con bò cái’ nào đó. Tôi đã trông mong ông ta suốt 30 năm, chỉ để đổi lấy một câu ‘Thật là trùng hợp, cha con mình đúng là nên uống một ly’. Thế nên tôi không chỉ hắt rượu mà còn xô ngã ông ta, cuối cùng phải nhờ hiệu trưởng kéo ra. Cả bữa tiệc hôm đó biến thành trò cười. Tôi đã nghĩ mình chẳng thể ở lại học viện. Ngày đầu tiên nhậm chức đã hắt rượu vào mặt hiệu phó, dù ông ta không để bụng thì tôi cũng chẳng muốn ngày nào cũng nhìn thấy ông ta. Ngày hôm sau, tôi định đến xin từ chức, thì bất ngờ thấy một cái thùng carton lớn đặt trước cửa phòng. Trong đó là đủ loại đồ chơi: máy game, đĩa game, xe điều khiển, xe đạp nhỏ, cả bộ ‘Tuổi thơ vàng của Scarry’. Kèm theo một bức thư: ‘Con trai yêu, cha biết con thiếu thốn tình cha từ nhỏ, đó là lỗi của cha. Để bù đắp cho tuổi thơ, ta tặng con tất cả quà sinh nhật mà con từng bỏ lỡ. Hãy vui vẻ lên nhé! Cha yêu dấu của con’. Mặt sau còn viết thêm mấy chữ: ‘Tối nay ta sẽ đưa vài cô gái xinh đẹp tới chung vui’. Hóa ra lão già đó đã chạy cả đêm tới siêu thị Toys ‘R’ Us ở Chicago, mua nguyên một thùng đồ chơi để làm lành với tôi.”

“Thật là… ngoài sức tưởng tượng.” 

Schneider nói.

Tuy không hiểu vì sao Manstein bỗng lôi chuyện này ra, nhưng nghe kể mấy giai thoại về hiệu phó thì quả thật khiến người ta thấy hứng thú. 

Lão hiệu phó đúng là một nhân vật bí ẩn, e rằng chỉ có Anjou mới nắm rõ con người thật của ông ta.

“Hiệu trưởng giữ lại đơn từ chức của tôi, bảo tôi suy nghĩ thêm. Sau đó có người gõ cửa phòng. Lão già kia tay xách hai chai whisky, ôm theo mấy cô nữ sinh xinh đẹp nhất khóa mới. Ông ta vui vẻ vỗ ngực tôi rồi hô: ‘Này các cô, đây là con trai ta đấy, giống ta như đúc đúng không?’ Sau đó ông ta úp cái cốc giấy vàng lên đầu tôi làm mũ sinh nhật, bắt các cô gái chụp ảnh chung, còn tuyên bố tối nay sẽ tổ chức lại tiệc mừng sinh nhật 18 tuổi cho tôi. Theo ông ta, lễ thành nhân thì nhất định phải có chân dài xinh đẹp, nếu thêm một ‘phát yêu thương’ nữa thì quá hoàn hảo! Tôi cầm lấy chai rượu, mở nắp, rồi dội cả chai lên đầu ông ta.”

“Ờ…” 

Schneider đáp, thật sự quá chán nản. 

Ông cũng chẳng biết dùng từ gì để diễn tả tâm trạng của mình lúc đó.

“Thế nhưng ông ta lại không bỏ cuộc. Người ta nói với phụ nữ ông là kiểu ‘ăn không được thì bỏ chạy’, chẳng bao giờ muốn mất nhiều thời gian, vậy mà với tôi ông ấy rất kiên nhẫn. Có lúc bữa sáng tôi thấy trên bàn có thêm một quả trứng ốp hai mặt, hỏi đầu bếp mới biết là hiệu phó ghé bếp khi thị sát rồi tiện tay giúp tôi rán. Ông ấy còn gửi email cho hội đồng quản trị, tâng bốc rằng giảng viên trẻ Manstein xuất sắc quá, nên thăng ngay từ trợ lý lên phó giáo sư… Hội đồng biết rõ tôi là con ông ta mà vẫn đồng ý. Với hội đồng, gã dị hợm kia khó chiều nhưng là chuyên gia luyện kim hữu dụng, nếu cho con gã thăng chức để mua chuộc thì lợi cả đôi đường. Có người còn bí mật trả tiền thuê nhà trong khu nội trú cho tôi, tôi gọi lên Bộ Tài vụ thì được trả lời: ‘Hiệu phó đã trả thay ông, và đặc biệt dặn đừng nói cho ông biết.’”

“Đã bị dặn đừng nói, mà họ lại kể hết cho ông sao?” 

Schneider nói.

“Tôi đoán câu dặn thật ra là: ‘Nói với con trai yêu dấu của ta rằng hiệu phó đã trả, và nhớ bảo là ta đã đặc biệt dặn các người tuyệt đối đừng nói cho nó biết.’” 

Manstein cười cay.

“Hiểu rồi.”

“Ông còn mời tôi cùng làm giám khảo môn bơi. Ông thích làm giám khảo cực kỳ vì mấy cô nữ sinh đều mặc bikini. Hình dung mà xem: cha ngồi sau lưng con, tỏa mùi hormone lão già, háo hức chỉ tay: ‘Em kia ngực nảy, em kia mông cong, con phải theo đuổi kiểu con gái ấy, họ mới là người đàn bà hạng nhất.’”

“Tôi cứ tưởng các ông bố hay muốn con trai lấy vợ hiền lành, nhu mì cơ mà,” Schneider nói.

“Không, thằng cha tôi lại bảo: nghĩa tình nghìn cân không bằng ngực bốn lạng.” 

Manstein nói, giọng mỉa mai. 

“Cách ông nịnh bợ thật ngớ ngẩn, làm sao bù đắp nổi nỗi khổ tôi đã chịu? Hồi nhỏ tôi vì tính khác thường bị nhốt vào viện tâm thần dành cho trẻ em, ở đó tôi quen Guderian. Không ai đến thăm, mẹ tôi ốm nặng. Vì không có khách tới, mấy y tá đối xử với tôi và Guderian rất tệ, chỉ cần Guderian lấy thêm chút đồ ăn là bọn họ liền đá đạp, đánh đập chúng tôi. Tôi thề sẽ không tha cho kẻ bỏ rơi tôi và mẹ, nếu gặp lại, tôi sẽ đá vào háng thằng đó như một võ sĩ Muay thực thụ.”

“Ừm,” Schneider đáp.

“Rồi một đêm, lão cha biến thái gửi cho tôi một lá thư dài,” Manstein kể. 

“Trong thư ông ta thừa nhận không thể bù đắp vết thương tuổi thơ, nhưng xin được giải thích lý do rời bỏ mẹ con tôi: ông không hề yêu mẹ tôi, đời ông ta chỉ là mê mải với đàn bà, tôi ra đời do một lần tránh thai thất bại….”

“Nghe như muốn đổ thêm dầu vào cơn thịnh nộ của ông,” Schneider ngắt lời.

“Ông kể tiếp về những trò thú tính ngày xưa, liệt kê đủ loại đàn bà ông ta từng tán tỉnh, kể cả những chuyện tàn nhẫn kinh khủng: thấy kẻ yêu hắn nhảy từ tháp cao chết thảm mà ông vẫn thản nhiên. Rồi ông ta viết: ‘Nhưng con biết không, cha luôn mang trong lòng một nỗi sợ, cha không giống người bình thường.’ Ông nói rằng khi mình đi giữa đám đông, ông cảm thấy mình như một con sói giữa bầy chiên, với lợi thế huyết thống, ông ta có thể dễ dàng chinh phục bất cứ ai, không luật lệ nào cầm chân được ông, thế giới này đầy chiên non, còn ông ta là con sói duy nhất, muốn ăn thịt cả đàn, ông không yêu phụ nữ, trong mắt ông họ chỉ là những con chiên mà ông tận hưởng.”

“Rồi sao nữa?” 

Schneider hỏi.

“Ông ta bảo khi phát hiện có một đứa con, đột nhiên trở nên nhỏ nhẹ. Nói là ông quan tâm tới cảm xúc tôi, để ý từng biểu hiện, ông ta bỗng trở nên thận trọng, làm mọi chuyện để khiến tôi vui, thậm chí giả vờ trèo bò làm ngựa cho con chơi, vừa bò vừa phát ra tiếng ‘thùm thụp’ như tiếng vó ngựa. Ở cuối thư, ông ghi: ‘Lần đầu trong đời, cha cảm thấy mình bị ràng buộc, không phải bởi luật lệ, mà bởi con trai. Cha chợt như con người, dù chỉ có một thằng con hói, nỗi sợ hãi trong lòng cha sau bao nhiêu năm cũng tan biến, và cha cảm thấy hân hoan.’”

“Vui vì bị ràng buộc sao?” 

Schneider trầm ngâm lâu mới nói.

“Sau vụ Greenland, ông nhiều năm không hướng dẫn sinh viên nào nữa, vậy mà ông vẫn nhận Sở Tử Hàng làm học trò hướng dẫn,” Manstein hỏi, “chỉ vì huyết thống cậu ta tốt sao?”

“Không,” Schneider đáp, nhớ lại đôi mắt vàng cô độc của Sở Tử Hàng dưới mưa, “là vì em ấy quá lì lợm. Tôi không thể từ chối.”

“Lì thế nào?”

“Em ấy là hỗn huyết chủng tự tìm đến học viện chứ không phải học viện tìm đến em ấy. Tôi quyết định đến Chicago phỏng vấn trực tiếp, nhưng vẫn còn nghi ngờ, nên hẹn gặp em ấy dưới một cây cầu sắt ít người qua lại, nếu đáng ngờ, tôi có thể xử lý ngay, khống chế hoặc thủ tiêu mà chẳng ai biết. Tôi còn quấn trong áo một khẩu Beretta. Mưa tầm tã, em ấy đứng dưới đèn giao thông, tay kéo theo chiếc hành lý lủng lẳng. Chúng tôi nhìn nhau từ hai phía đường, em ấy biết tôi là ai nhưng không tiến tới. Chúng tôi như hai con sói cô độc đối diện nhau, không tiến lại gần, chỉ quan sát. Đèn đỏ đổi ba lần, vẫn chẳng ai nói lời nào. Ánh mắt em ấy kiên quyết và cô độc, tôi thấy em ấy có ý muốn bước đến bên tôi, vì tôi chính là người em ấy kiếm suốt nhiều năm, nhưng em ấy tuyệt đối không tiến tới nếu tôi không ra tín hiệu.” 

Schneider thở dài, “Cuối cùng tôi vẫy tay, bị rơi vào thế không còn đường lùi bởi ánh mắt của một đứa bé, lúc ấy tôi nghĩ: hoặc giết nó, hoặc mời nó đi cùng. Không còn lựa chọn nào khác.”

“Vậy rốt cuộc ông mời cậu ta là mời một thanh kiếm, hay mời một cậu bé?”

Schneider im lặng rất lâu rồi mới đáp:

“Ông nói cái gì ngốc thế? Tôi sao có thể coi một con người như một món vũ khí vô tri vô giác được? Đôi khi tôi cũng từng nghĩ, giá mà em ấy có thể lớn lên như một người bình thường… Nhưng chúng tôi gặp nhau trên chiến trường, tôi chỉ có thể dạy em ấy cách dùng vũ khí mà thôi.”

“Ông không phải hạng người hoàn toàn lạnh lùng vô tình. Ông dọn sạch phòng điều khiển trung ương rồi ngồi hút thuốc một mình, đó là vì trong lòng bất an.” 

Manstein nói. 

“Ông đang do dự, ông lo lắng cho an toàn của đội lặn. Nếu đã thế, tại sao các ông còn vội vàng phát động chiến dịch? Schneider, hãy nói thật với tôi. Ông nên hiểu tôi thà tin ông còn hơn tin Hội đồng quản trị. Ông dù có điên rồ, thì bọn họ càng nhiều thủ đoạn mờ ám hơn.”

“Thái tử. Là Thái tử.” 

Schneider lặng đi một hồi rồi khẽ nói.

“Thái tử?”

“Sau sự kiện ở Greenland, cái ID mang tên ‘Thái tử’ biến mất hoàn toàn khỏi mạng lưới. Không ai từng gặp hắn, chỉ biết đó là một thợ săn xuất sắc. Học viện nghi ngờ những mảnh đồng và tọa độ hắn gửi cho chúng ta chỉ là mồi nhử, hắn tung ra những bức ảnh đó để dẫn chúng ta tới biển băng Greenland tìm cái phôi thai kia. Mãi đến gần đây, ID ‘Thái tử’ mới xuất hiện trở lại. Hắn công bố một phần tài liệu mật của Ủy Ban Quốc Gia, liên quan đến chiến hạm Lenin. Ủy Ban cho rằng, trước khi Liên Xô tan rã, từng có một viện nghiên cứu ở phía bắc Siberia chuyên về sinh vật chưa biết và sức mạnh siêu nhiên, rồi viện đó đột nhiên bị phá hủy. Trước thời điểm nó nổ tung, chiến hạm Lenin tình cờ có mặt ở vùng biển gần đó, rất có thể đã mang theo thứ gì quan trọng rời đi. Từ đó, con tàu ấy giống như đang chạy trốn, một mạch hướng về Nhật Bản.” 

Schneider nói, “Đó là lý do chúng tôi bắt đầu chú ý đến con tàu đắm.”

“Nhỡ đâu lại là mồi nhử khác, các ông sao còn cắn câu?”

“Chỉ cần xác định đó đúng là một phôi thai, chúng tôi tuyệt đối không thể để nó nở ra. Chúng tôi không còn thời gian do dự. Càng kéo dài, tỷ lệ phôi thai nở càng cao. Một khi nó có được ý thức tự chủ, thì đã quá muộn. Đội lặn sẽ gặp phải thảm cảnh giống như đội Greenland. Ở biển Greenland, chúng tôi không bắt được con rồng non, nhưng có lẽ đã gián đoạn quá trình nở, nên đến nay nó vẫn chưa thành niên. Hẳn là nó đã ẩn mình ở một góc tối nào đó trên thế giới, tiếp tục tạo kén. Thái tử dường như vẫn luôn làm cùng một việc: hắn tìm ra nơi phôi thai cổ long sắp nở, rồi nhử chúng ta đến tiêu diệt nó. Đổi lại, chúng ta phải trả giá đắt, thậm chí là bằng mạng sống. Nhưng đó là sứ mệnh của Bí Đảng. Dù biết đó là mồi, chúng ta vẫn buộc phải nuốt. Chúng tôi đoán, 11 năm trước, hành động quá muộn, có lẽ chỉ trong vài tháng quan sát ấy, phôi thai đã sản sinh ý thức. Khi đó, con rồng non có thể phá kén bất cứ lúc nào. Nếu sớm hơn, nhanh hơn, có lẽ đội Greenland đã thành công.”

“Thái tử chẳng được lợi lộc gì từ chuyện này, đúng không?”

“Đúng. Hắn không được gì cả. Nói theo một nghĩa nào đó, hắn là đồng minh trong bóng tối của chúng ta, dù hắn chưa bao giờ trực tiếp tham chiến.” 

Schneider nói. 

“Chính vì vậy chúng ta không dám chờ đợi. Để giảm rủi ro, hiệu trưởng ra lệnh cho Bộ Trang bị cung cấp mức hỗ trợ kỹ thuật cao nhất, đồng thời để Sở Nghiên cứu Ganryu vốn chẳng kém gì Bộ Trang bị tham gia hỗ trợ tại hiện trường. Theo lời Bộ Trang bị, ngay cả khi phôi thai nở, chúng ta vẫn có khả năng lớn để rút lui từ đáy biển. Ngoài ra, tôi còn tự làm thêm một thứ nhỏ, một hệ thống cảnh báo.”

Schneider bật màn hình lớn. 

Giữa màn hình hiện ra thanh tiến trình nổi bật, những công thức tính toán phức tạp cuồn cuộn chạy từ dưới lên:

“Tôi phân tích tín hiệu tim của phôi rồng ở Greenland. Càng gần lúc nở, cường độ và tần suất nhịp tim biến đổi rõ rệt. Dựa vào đó, tôi thiết kế phần mềm này, giám sát nhịp tim để tính toán tỷ lệ nở. Hiện tại, tỷ lệ nở là 32%, vẫn ở vùng an toàn, hiển thị màu xanh. Nhưng nếu phôi thai cảnh giác, nó có thể cưỡng ép tăng tốc quá trình. Một khi tỷ lệ tăng vọt, tàu Maniakh sẽ lập tức dùng móc an toàn kéo tàu Trieste lên khỏi đáy biển.”

“Do chính ông thiết kế?”

“Chuyện thế này không thể giao cho lũ thần kinh ở Bộ Trang bị.” 

Schneider nhếch môi. 

“Họ chỉ nên làm đúng phần việc của họ là đủ.”

Manstein lấy tấm thẻ đen từ khe cắm, đẩy đến trước mặt Schneider:

“Đặt an toàn của đội lặn lên trên việc tiêu diệt phôi thai. Nếu ông đồng ý, tôi sẽ không ngăn cản chiến dịch Long Uyên nữa, thậm chí đưa thẻ đen cho ông, nó sẽ cho ông toàn quyền 100% sử dụng Norma.”

“Ông đến đây theo ủy thác của Hội đồng quản trị. Nếu không đình chỉ chiến dịch Long Uyên, ông cũng sẽ bị liên lụy, phải không?” 

Schneider hỏi.

“Thì tôi sẽ ôm hết tội vào mình. Trong mắt ông, tôi chỉ là một nhân viên hành chính, quanh năm xử lý sổ sách và kỷ luật sinh viên. Quả thật, huyết thống lẫn năng lực của tôi đều tầm thường, chẳng thể so với lão cha già biến thái của tôi. Nhưng nếu là một kẻ gánh tội, tôi đủ tư cách. Tội này, tôi sẽ nghĩ cách nuốt xuống.” 

Manstein chìa tay ra.

“Thực ra ông tới đây chỉ để moi sự thật, phải không?” 

Schneider nhìn thẳng vào mắt ông. 

“Từ đầu đến cuối, ông chỉ muốn tôi cho ông một lý do. Chỉ cần tôi tìm được một lời giải thích hợp lý, ông sẽ ép xuống mệnh lệnh của Hội đồng.”

“Tôi chỉ muốn chắc rằng ông thật sự quan tâm đến tính mạng bọn trẻ. Rằng quyết định này không phải sự liều lĩnh vô trách nhiệm, mà là kết quả của việc ông đã làm hết sức nhưng vẫn buộc phải thế.” 

Manstein khẽ thở dài.

“Nếu không còn lựa chọn nào khác, thì một kẻ hành chính như tôi cũng chẳng ngại phải trả giá.”

“Vậy thì… giao kèo thành.”

Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!