Volume 22: Spring Log V [Đã Hoàn Thành]

Đám Cưới Của Sói

Đám Cưới Của Sói

Khi còn trẻ, tôi rời ngôi làng nơi mình sinh ra với khát vọng thông hiểu thần học. Không tiền bạc, không mối quan hệ, tôi hướng về một thành phố đại học và sống những ngày lang thang như một sinh viên vô gia cư. Tôi chuẩn bị sơ sài một cách đáng cười, và dĩ nhiên đã tự đẩy mình vào cảnh khốn cùng, nhưng nhờ ân sủng của Chúa, tôi đã gặp được những người mà tôi có thể gọi là ân sư của đời mình, và chính nhờ họ mà tôi mới có thể đi được đến hôm nay.

Từ đó trở đi, tôi làm việc cực kỳ chăm chỉ và chưa từng có ý định sao lãng giáo huấn của mình.

Và dù không phải mọi thứ đều hoàn hảo, vẫn có những dấu hiệu tiến bộ chân thật.

Vì thế, tuy không phải là chờ đợi thời khắc ấy từ trước, tôi vẫn rời làng suối nước nóng Nyohhira để lên đường khi cơ hội xuất hiện. Đó là hai tháng trước.

Những vấn đề xoay quanh Giáo hội đã mang hỗn loạn đến cho thế giới, và chuyến hành trình của tôi gần như lập tức vấp phải khó khăn và thử thách. Dẫu vậy, tôi vẫn bình an vượt qua tất cả nhờ sự che chở của Chúa, thậm chí còn được ban cho một danh tiếng ngoài dự liệu. Dù bản thân khá bối rối và chịu áp lực trước sự coi trọng không mời mà đến ấy, cuối cùng tôi cũng đã bắt đầu có thể gánh vác trách nhiệm trên đôi vai gầy guộc này.

Việc tôi cần làm bây giờ chỉ là bước đi trên con đường đức tin, vừa tiết chế vừa rèn giũa bản thân.

Tên tôi là Tote Col.

Tôi chỉ là một con chiên khác đang cố gắng hết sức bước theo con đường của Chúa, nhưng…

“Gh…”

Tôi cảm thấy có thứ gì đó đè lên ngực và mở mắt ra.

Tôi tự hỏi liệu cuối cùng ác quỷ đã xuất hiện để thử thách đức tin của mình hay chưa, nên hé mắt, sẵn sàng đón nhận nó bằng tất cả sự mộ đạo tích lũy suốt bao năm. Dáng hình của kẻ xâm nhập được viền sáng bởi ánh bình minh mờ nhạt lọt qua khung cửa sổ.

Chỉ một khoảnh khắc sau, vai tôi thả lỏng ra.

Trước mắt tôi theo một nghĩa nào đó quả thực là một ác quỷ chuyên dụ dỗ con chiên của Chúa lạc lối. Thứ đang nằm trên ngực tôi, ngủ say và ngáy khe khẽ, là một cô bé.

Khi cô bé ấy tung tăng chạy nhảy trong tâm trạng vui vẻ, với thân hình mảnh mai và vòng eo cao, trông em như một cuộn bông đáng yêu hay nhú bồ công anh lơ lửng trong gió; nhưng khi em nằm trên ngực tôi thế này, tôi đau đớn nhận ra em đã lớn lên nhiều đến mức nào. Hồi em còn bi bô làm điều này thì ngọt ngào đến không sao tả xiết, còn bây giờ lại mang theo một sức nặng khó diễn tả.

Em chẳng bao giờ chịu nghe lời, và dù tôi đã nhắc nhở bao nhiêu lần, em vẫn không sửa được thói quen chui vào chăn tôi mỗi đêm. Nhìn gương mặt đang ngủ của Myuri, tôi khẽ thở dài bằng mũi.

Đây là con gái duy nhất của cựu thương nhân Lawrence và Hiền giả Sói Holo, hai người mà tôi mang ơn sâu nặng, và về cơ bản, em là cô em gái mà tôi đã chăm sóc từ lúc mới sinh. Myuri, cô bé đầy cá tính ấy, luôn mè nheo đòi rời quê hương để nhìn ngắm thế giới bên ngoài, rồi không xin phép mà cứ thế bám theo chuyến hành trình của tôi.

Mái tóc mái màu bạc pha tro, màu sắc đặc biệt em thừa hưởng từ cha, khẽ lay động, và hàng mi dài run rẩy. Em lẩm bẩm điều gì đó trong giấc ngủ, rồi như một con mèo đổi tư thế, cuộn người lại và cố vùi mặt vào trong chăn.

Trước cử chỉ ngây thơ đáng yêu ấy, tôi bất giác mỉm cười, nhưng rồi đột nhiên có điều gì đó đánh động tôi.

Bởi vì gương mặt em giờ đã vùi trong chăn, đỉnh đầu em lại ngay trước mũi tôi. Mái tóc mà em nâng niu chăm sóc mỗi ngày tỏa ra một mùi ngọt lạ lùng khác hẳn với dầu thơm.

Nguyên do nằm ở đôi tai sói hình tam giác lớn trên đỉnh đầu em.

Myuri là một cô bé mang trong mình dòng máu sói, sở hữu đôi tai và chiếc đuôi sói tuyệt đẹp. Có những lúc chóp tai em khẽ cù vào mũi tôi khiến tôi tỉnh giấc, nhưng khi nhìn đôi tai ấy giật giật nhịp nhàng theo hơi thở an ổn của em, tôi nuốt khan.

Cô bé ngọt ngào này có đôi tai sói đáng yêu và đang ngủ say không một chút lo âu. Trước cảnh tượng đó, tôi nghẹn họng… Thực ra không phải vậy đâu, mà là tôi phải liều mạng kìm lại một tiếng thét khi một nhận thức kinh hoàng ập đến.

“Không ổn rồi.”

Tôi hất tung tấm chăn, và trên ngực tôi, Myuri cuộn người chặt hơn nữa. Đáp lại, chiếc đuôi sói của em quẫy nhẹ một cách khó chịu, trông còn xù bông hơn bình thường, lấp lánh dưới ánh sáng tràn qua cửa sổ.

Chính xác mà nói, là vô số sợi lông rụng từ chiếc đuôi ấy, đang bay múa trong không khí, bắt lấy ánh sáng buổi sớm.

“…Lạy Chúa…”

Tôi đặt lại cái đầu vừa nhấc lên xuống gối và yếu ớt nhìn trân trân lên trần nhà. Kết hợp với màu bạc pha tro của lông Myuri, chúng trông hệt như tuyết đang nhảy múa trong nắng. Có thể gọi đó là một cảnh tượng đẹp, nhưng thế giới này đâu chỉ có cái đẹp mà thôi.

“Myuri, Myuri.”

Cô bé được gọi tên đang tìm chăn, lười biếng cựa quậy. Tôi nắm lấy vai em mà lắc; cô nhóc ngái ngủ cụp tai khó chịu, quất đuôi gạt tay tôi, và lông bạc bay tung lên theo từng cử động.

“Myuri.”

“Rrrgh…vẫn còn sớm mà, anh…”

Vừa nói vậy, Myuri vừa cố kéo tấm chăn mà cuối cùng em cũng chộp được lên che đầu, còn tôi thì nghiêm giọng quát, “Dọn sạch lông của em ngay lập tức!”

Myuri là một cô bé có dòng máu sói chảy trong huyết quản. Mùa thay lông năm nay lại đến, nhưng đây không phải là nhà tắm ở Nyohhira của cha mẹ em. Chúng tôi đang giữa hành trình, hơn nữa hiện còn đang trọ trong một căn phòng thuê của dinh thự quý tộc.

Không thể để bất kỳ ai phát hiện Myuri là sói được.

“Hửa?”

Với đôi mắt còn ngái ngủ, em ngẩng đầu lên, và có lẽ một sợi lông đã chui vào mũi, làm em hắt xì một cái.

~~~

Việc lau sạch sàn nhà và mặt bàn thì còn dễ, nhưng đến chăn mền và các đồ lặt vặt khác thì chỉ còn hai cách: hoặc mang ra đập cho rơi lông ra, hoặc ngồi nhặt từng sợi một cách mệt mỏi. Một vị khách mà lại mang chăn ra giếng giặt thì rõ ràng là rất khả nghi, và chúng tôi cần một lý do nào đó. Khi tôi đề xuất rằng em nên diễn một màn nhỏ để tạo cớ mang chăn đi giặt, em trừng mắt nhìn tôi, mặt đỏ bừng, ánh mắt sắc như dao.

“Em lớn rồi, nên sẽ không làm mấy chuyện như thế đâu!”

Nghe em tự nhận mình đã lớn trong khi bình thường vẫn hành xử như một đứa trẻ được nuông chiều thì chẳng mấy thuyết phục, nhưng sự phẫn nộ trước kế hoạch ban đầu của tôi cho thấy rõ rằng việc giả vờ gặp tai nạn tuyệt đối không phải là một lựa chọn.

Thế là cả hai chúng tôi ngồi cạnh cửa sổ và cùng làm việc.

Haiz…Anh đã không hề nghĩ tới chuyện này vào thời điểm trong năm…Chắc giờ này thầy Lawrence ở nhà tắm cũng đang bận tối mặt tối mũi cho xem…”

Mẹ của Myuri, Hiền giả Sói Holo, không thể che giấu tai và đuôi dễ dàng như Myuri.

Vào thời điểm này trong năm, hẳn cô sẽ phải nhốt mình trong phòng để lông sói không bay tứ tung khắp nơi.

Nhưng nhà tắm vốn là địa bàn quen thuộc, nên ban đêm họ có thể ngâm mình trong suối nước nóng, tránh ánh mắt người ngoài. Chính vì Myuri có thể thu tai và đuôi vào một cách khéo léo bất cứ lúc nào, nên tôi gần như chẳng để tâm đến mùa thay lông của em.

Trên đường đi, mùa thay lông lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác.

“Ưưrgh…Ngón tay em mỏi quá rồi…”

Myuri than thở, nhưng những kẻ mang dòng máu thú vật thường bị coi là bị quỷ ám và có nguy cơ bị thiêu sống ngay lập tức nếu bị phát hiện, đặc biệt là bởi người của Giáo hội. Chỉ nghĩ đến điều đó thôi cũng đủ khiến tôi sẵn sàng chịu đựng bất kỳ cực nhọc nào.

“Này, anh ơi?”

Myuri uể oải buông cái chăn đang đặt trên đùi, còn tôi thì định bảo em bớt nói chuyện mà tiếp tục làm việc.

“Nếu mình nuôi một con chó hoang có bộ lông cùng màu với em thì sao? Như vậy chẳng phải giải quyết được hết à?”

“Hả? Em nói cái—?” Tôi định nói, rồi chợt khựng lại.

“Dù em có chải đuôi kỹ đến mấy thì vào thời điểm này trong năm cũng không giấu được đâu. Với lại em không tự tin là khi ngủ mình có thể hoàn toàn che kín tai với đuôi á.”

Myuri có thể tự do thu tai và đuôi lại, nhưng có vẻ như đối với em, để chúng lộ ra mới là tự nhiên. Vì thế, mỗi khi bất ngờ hay tức giận, chúng lại tự động xuất hiện.

Khi ngủ cũng vậy, nghĩa là nếu cứ phải lặp lại chuyện này mỗi ngày, thì ý tưởng của em chí ít cũng đáng để cân nhắc.

“Nếu em đóng vai cô bé ngây thơ một chút, chắc em có thể mang được đúng một bé cún hoang vào dinh thự thôi. Em nghĩ họ sẽ không giận đâu.”

Em nói với vẻ mặt bình thản, nhưng tôi dễ dàng tưởng tượng ra cảnh em ôm một chú chó con, vừa cười vừa diễn trò. Dù với tư cách là người anh nuôi tôi chẳng mấy vui vẻ, nhưng phải thừa nhận là em đặc biệt giỏi mấy chuyện kiểu này. Mẹ em, Hiền giả Sói Holo, cũng thường dùng uy nghi, sức quyến rũ và mưu mẹo của mình để tự do điều khiển, xoay chuyển và thúc đẩy chồng là Lawrence, nên có lẽ Myuri đã thừa hưởng phần đó.

Hơn nữa, việc nhặt lông trên chăn dường như là vô tận.

“…Nhưng làm sao dễ dàng tìm được một con chó con đến thế đây?” tôi hỏi, và Myuri hất chăn sang một bên rồi đứng bật dậy.

“Thì mình cứ đi quanh thị trấn tìm thôi! Hôm nay thời tiết đẹp thế này cơ mà!”

Phải chăng đó mới là mục đích thật sự của em ngay từ đầu…? Tôi nghĩ, nhưng cũng thật hiếm có khi hôm nay chúng tôi chẳng bận kế hoạch gì.

Chúng tôi vừa mới bận rộn liên miên cho đến gần đây, và vài ngày nữa thôi, những ngày làm việc sóng gió lại sẽ quay trở lại.

Dạo gần đây tôi không có nhiều thời gian ở bên Myuri, đó cũng là một phần lý do khiến tôi mềm lòng khi em chui vào chăn như một đứa trẻ con mà đòi hỏi sự quan tâm. Có lẽ em đã thấy cô đơn.

“Thôi thì cũng được vậy.”

Đôi mắt Myuri lập tức sáng lên, và em chộp lấy áo khoác.

“Yay! Em sẽ ăn thịt nướng, đồ chiên, rồi kẹo đường ở mấy quầy hàng!”

Tôi thở dài khi nghe em liệt kê đồ ăn vặt như đọc một câu chú đáng sợ, rồi cũng đứng dậy khoác áo lên vai. Đã là mùa xuân rồi, và tôi nghĩ chắc mình cũng không cần áo này lâu nữa. Tâm trạng tốt của Myuri hẳn là nhờ thời tiết ấm áp. Mùa đông dài và khắc nghiệt đang dần khép lại, và những mùa trù phú đang nhanh chóng đến gần.

Tôi nheo mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, nơi bầu trời xanh thuần khiết trải dài bất tận.

“Đi thôi, anh ơi! Mau lên!”

Myuri kéo tay tôi, lôi đi, khiến tôi loạng choạng bước theo.

Một thiếu nữ duyên dáng đang ngước nhìn bầu trời, mỉm cười trước sự chuyển mình của mùa màng.

Một phần trong tôi muốn em lớn lên theo cách như thế, nhưng có lẽ, dáng vẻ tràn đầy sức sống và năng lượng của hiện tại đã là vừa vặn nhất. Và điều đáng gờm nhất ở em là nếu muốn hành xử như một tiểu thư đúng mực, em hoàn toàn có thể làm được khi đã quyết tâm.

“Hử? Có chuyện gì vậy?”

Myuri, đang bám lấy cánh tay phải của tôi, ngước nhìn với vẻ ngây ngô.

“Không có gì đâu.”

Tôi xoa đầu em bằng tay trái. Sau một thoáng, em nhún vai rồi nhìn tôi bằng ánh mắt vui vẻ.

“Nhưng chỉ được một xiên thịt nướng thôi, hiểu chưa?”

“Awww!”

“Không có ‘awww’ gì hết.”

“Vậy thì em sẽ đi tìm quán có xiên thịt to thếếếếếếế này nè!”

Em dang rộng hai tay như sắp trật khớp vai, rồi lại kẹp chặt cánh tay tôi như cá mập khép hàm.

“Anh hứa rồi đó nha?”

“Không có thứ như vậy đâu. À, với lại xiên kim loại không tính. Ta đang nói đến xiên gỗ cơ.”

“Anh xấu tính quá, anh ơi!”

Dù than vãn, Myuri vẫn cọ mặt vào tay tôi, cười thích thú.

Một ngày vừa vui vừa mệt, hay có lẽ chỉ là một ngày bình thường, chỉ bắt đầu thôi.

~~~

Chúng tôi đang ở nhờ trong một dinh thự của giới quý tộc tại một thành phố mang tên Rausbourne, nằm ở phía nam Vương quốc Winfiel. Trữ quân Hyland, người đang giúp đỡ chúng tôi trong chuyến hành trình, đang mượn dinh thự này từ một vị quý tộc nào đó, vì vậy chúng tôi đã thuê một căn phòng tại đây trong khi thực hiện các công việc theo yêu cầu của Hyland. Hôm nay, phía ngài Hyland bận việc công, nên đây là ngày nghỉ đầu tiên của chúng tôi sau một quãng thời gian dài.

Một khi ngài ấy quay lại, những công việc nặng nhọc hẳn sẽ lại bắt đầu không ngừng.

Ngay cả dinh thự, nơi suốt hai ngày qua người ra kẻ vào tấp nập, cũng trở nên yên ắng lạ thường, đúng với một ngày nghỉ hiếm hoi mà chúng tôi vất vả lắm mới có được.

Chúng tôi nói với những người hầu còn ở lại trong dinh thự rằng sẽ ra ngoài một lát rồi lập tức xuất phát. Để đề phòng, tôi dặn rằng không ai được vào phòng chúng tôi, vì trong đó có vài giấy tờ quan trọng mà tôi đang viết dở. Việc quả thật có những giấy tờ như thế không phải là nói dối, nên có lẽ Chúa sẽ bỏ qua cho sự lừa gạt của tôi.

Khi rời khỏi dinh thự, đường phố Rausbourne vào cuối buổi sáng vẫn như mọi khi. Chỉ mới không lâu trước đó thôi, nơi này còn hỗn loạn như thể một trận hỏa hoạn lớn quét qua thành phố giữa cơn bão, vậy mà giờ đây, trật tự đã hoàn toàn trở lại.

Chúng tôi băng qua khu phố quý tộc, nơi những cỗ xe ngựa mui kín sang trọng nối nhau đi lại, rồi tiến vào khu trung tâm nhộn nhịp. Đúng lúc một cái lồng nhồi đầy gà và vịt đi ngang qua, thì một cỗ xe chất đầy heo cùng một đàn bò bị ách chung bằng đòn kéo lộc cộc lăn tới. Nghĩ đến số bữa ăn mà chừng ấy gia súc có thể cung cấp, tôi thấy hơi choáng váng, nhưng để lấp đầy dạ dày của những người đã phải chịu đựng thịt muối, cá trích và bánh mì cũ nhạt nhẽo suốt mùa đông, có lẽ như vậy vẫn chưa đủ.

Sau khi tôi cầu nguyện để Chúa dõi theo con người và sinh kế của họ xong, Myuri đang ngồi xổm bên cạnh tôi đứng dậy.

“Được rồi, cảm ơn nhé. Anh của ta sẽ mua cho ngươi một món ngon, được không?”

Đáp lại lời Myuri là một con chó già trông khá thảm hại, bộ lông màu nâu sẫm như gỗ cháy.

“Gâu,” nó sủa yếu ớt một tiếng, rồi chậm chạp bước men theo mép đường.

Bên chân Myuri còn có ba con chó hoang khác với những màu lông khác nhau; là người thừa hưởng dòng máu sói, loài được tất cả công nhận là vua của rừng già, ngay khoảnh khắc Myuri đặt chân ra phố, những con chó hoang đã bắt đầu đi theo em.

Hơn nữa, lý do bộ lông của chúng trông xù xì đến vậy có lẽ là vì, giống như Myuri, chúng cũng đang vào mùa thay lông. Tôi có linh cảm rằng nếu tìm được một con chó có màu lông giống em, thì việc đánh lừa mọi người sẽ chẳng gặp mấy khó khăn.

“Liệu mình có tìm được không?”

“Hừm, chẳng có con nào có bộ lông đẹp như của em cả, nhưng có một chỗ nơi mấy con có màu gần giống tụ tập, nên nó đang đi xem thử rồi.”

Tôi không hiểu rõ tập quán của chó hoang; có lẽ chúng có thói quen tụ lại với những con trông giống mình.

“Em thấy đó, có rất nhiều thuyền cập bến ở đây mà, đúng không? Những người đến sinh sống từ đủ mọi nơi trên những con thuyền đó thường hay ở chung với những người đến từ cùng quê.”

Em đang nói về các khu dân cư theo bang hay theo tộc người thường thấy ở các thành phố lớn, và lúc đó tôi mới chợt hiểu ra.

“Vậy thì những con chó được mang từ quê hương của chúng tới chắc cũng tụ lại ở cùng một chỗ nhỉ.”

“Vâng. Như mấy nhóc này đây, tất cả đều đến từ phía đông đại lục nè.”

Dù màu lông khác nhau, nhưng dáng người của chúng quả thực khá giống nhau.

Mỗi khi Myuri xoa đầu, chúng đều vui vẻ vẫy đuôi.

“Vậy con chó lúc nãy đang trên đường tới khu vực nơi mấy con chó lông bạc tụ tập à?”

“Chắc thế. Nhưng lông của tụi nó không thể nào đẹp bằng của em đâu.”

Myuri chăm chút cho mái tóc của mình rất kỹ, nhưng sự tận tâm đó dường như không hoàn toàn áp dụng cho bộ lông.

Dẫu vậy, em vẫn có vẻ khá tự hào về nó khi đặt tay lên hông và ưỡn ngực lên.

“Được rồi, anh ơi, trong lúc con chó già đó đi gom mấy chú chó con mình cần, mình đi mua đồ ăn cho nó nhé!”

“Rồi rồi. Và dĩ nhiên cũng sẽ mua cho con sói chỉ huy toàn bộ chó hoang nữa, đúng không?”

“Ê hê hê.”

Myuri cười ranh mãnh, còn tôi thì cười gượng theo, rồi cả hai hòa vào dòng người đông đúc trên phố.

~~~

Rausbourne vốn dĩ luôn là một thành phố cảng lớn và náo nhiệt, nhưng ở những khu vực sát bến cảng nhất, đám đông chen chúc đến mức khiến tôi gần như liên tưởng đến một cái bồn khổng lồ đang múc người lên từ biển rồi vung vãi họ một cách thô bạo lên khắp các con phố.

Gió mùa đông lạnh và ẩm thổi từ phía tây bắc của vùng này từng cản trở các chuyến hải trình, vì vậy khi mùa xuân cuối cùng cũng sắp thực sự đến, tàu thuyền liền ùn ùn kéo về.

“Myuri, bám sát anh vào!”

“Em cũng định nói câu đó với anh mà!”

Myuri nhỏ con và nhẹ bẫng liền nhảy tránh sang một bên trước một người khuân vác ở bến cảng, kẻ đang vác một khối hàng khổng lồ và chắc chắn sẽ không nhẹ tay nếu va phải cô bé; rồi em lách qua một nhóm đàn ông bụng phệ đang nói chuyện làm ăn oang oang, vừa thích thú nhìn một người chăn gia súc vác cả con cừu trên vai, vừa tiếp tục tiến lên phía trước, lựa chọn giữa những quầy hàng san sát hai bên đường.

Ý nghĩ rằng nếu em ngã xuống giữa đám đông này thì sẽ lập tức bị giẫm đạp và chịu thương tích nặng khiến tôi bất an, nhưng tôi mới là người bị quát mắng vì cản đường và bị đám thương nhân thô lỗ xô sang một bên, rồi còn bị cái đuôi con cừu trên vai người chăn quật thẳng vào mặt.

Tôi choáng váng đuổi theo Myuri, để rồi phát hiện ra em đã đứng mua đồ ở một quầy hàng từ lúc nào.

“Anh trai ơi, tóc anh rối hết rồi kìa.”

“…”

Với vẻ mặt tỉnh bơ, em rút một cái thìa gỗ giắt ở thắt lưng ra, ngậm trong miệng và nhai khi chờ quầy hàng đưa đồ ăn.

“Cái tật cắn đồ của em thật là xấu đó.”

Tôi cố gắng răn dạy, nhưng khi em cắn cái thìa như một chú cún đang khó chịu vì mọc răng, còn lè lưỡi ra trêu ngươi, rồi quay sang nhận đồ ăn khi chủ quầy gọi, tôi chỉ biết câm lặng.

“…Đó là món gì vậy?”

Thuở nhỏ tôi từng là một học sinh lang bạt và đã đi qua nhiều vùng đất trong thời gian dài phụ giúp cha của Myuri, thương nhân lưu động Lawrence. Sau đó, tôi còn nhờ mối quan hệ của cô Elsa mà chu du nhiều nơi hơn nữa để trau dồi việc học thần học.

Tôi vẫn luôn tự hào rằng mình đã thấy được không ít thứ trên đời. Vậy mà món ăn Myuri đang cầm với vẻ mặt hí hửng lại là một thứ kỳ lạ mà tôi chưa từng thấy qua.

“Ê hê hê. Chú thợ đá đến dinh thự kể cho em nghe đó! Dạo này ở Rausbourne nó nổi lắm—người ta gọi là bát hải tặc á!”

Myuri nâng lên một đống đầy món xào trông lộn xộn, đựng trong một cái bát làm từ bánh mì cứng rẻ tiền.

“Đây là ruột heo với ruột cừu nè. Còn mấy cái này là khớp xương mềm. Tuyệt lắm! Xào tất cả chung lại, rồi cho xương cá chiên ngập dầu vào, rắc thật nhiều muối, sau đó cho một đống tỏi, mù tạt với gia vị, rồi lại đem nhúng dầu chiên lần nữa—”

Khi Myuri thao thao giải thích, mùi tỏi nồng nặc từ tay em bốc lên, cay đến mức làm mắt tôi xót. Đúng là một món khoái khẩu dành cho những người lao động nặng nhọc như thợ đá; Myuri xúc một thìa cho vào miệng, rồi nhắm chặt mắt đến mức tôi suýt nghĩ tai với đuôi sói của em sẽ bật ra mà quẫy loạn lên. Em bắt đầu chăm chú trộn đều mọi thứ.

Cách ăn uống của em chẳng còn chút lễ nghi nào, nhưng tôi phải thừa nhận rằng nhìn em chúi mặt vào cái bát bánh mì mà say mê bữa ăn lại khiến tôi thấy thú vị. Lời trách mắng biến thành một tiếng thở dài, và tôi kéo tay áo em vào một con hẻm trống, bắt em ngồi lên một cái thùng để chí ít là ăn trong tư thế ngồi đàng hoàng.

Myuri trộn cái bát hải tặc đậm vị ấy bằng người bạn đồng hành quen thuộc trên đường là chiếc thìa gỗ, thỉnh thoảng lại cắn vào thành bát bánh mì giòn rụm.

Haum, num…Ực. Phù. Anh có muốn ăn không?”

Sau khi đã chén gần một nửa, Myuri cuối cùng cũng mời tôi, như thể ý nghĩ đó vừa mới nảy ra. Tôi mỉm cười trước sự hồn nhiên ấy, bẻ một miếng bát bánh mì và bảo em xúc một thìa đồ ăn đặt lên trên. Tôi vốn dè dặt với việc ăn thịt, nhưng lần này còn có một sự do dự khác nữa.

Dẫu vậy, món ăn ấy tỏa ra sức hấp dẫn đầy nguy hiểm. Tôi cho tất cả vào miệng chỉ trong một miếng, và khoang miệng như bùng nổ, một cú sốc dữ dội khiến tôi gần như tê dại từ hai bên thái dương lên tới đỉnh đầu.

“Bổ sung năng lượng nhiều lắm, đúng không?”

Trái ngược với Myuri đang nhe nanh cười toe toét, tôi nhai kỹ, cố kìm một cơn ho vì vị cay, rồi bằng cách nào đó nuốt trôi được. Trong miệng vẫn còn náo loạn, nhưng không phải là cảm giác khó chịu. Ngược lại, tôi nuốt xuống mà vẫn còn thèm, dù linh cảm rằng đây không phải món nên ăn riêng lẻ.

“Tự dưng anh muốn uống bia ghê…”

“Em cũng vậy!”

Myuri lập tức chen vào đáp lại câu lẩm bẩm vô thức của tôi.

Tôi lườm em, còn em thì lè lưỡi ra trêu.

Rồi em lại bắt đầu cử động tay liên hồi, khiến tôi không nhịn được mà rầy, “Ăn chậm lại một chút đi.”

Myuri vừa nhai ruột vừa nói, “Tại cái thìa nhỏ quá thôi.”

Như để làm ngược lại, em há to miệng và đặt cái thìa gỗ bên cạnh.

Đó là thứ dụng cụ mà bất cứ ai đi đường xa cũng mang theo, còn những thương nhân khoe khoang nhất thì sẽ cài thìa bạc lên mũ.

“Cái này giờ sứt sẹo hết rồi. Em muốn cái mới cơ.”

“Đó là vì em không bỏ được cái tật cắn đồ đó. Hay em muốn thìa kim loại?”

“Khè!”

Vì mang dòng máu sói, em rất ghét kim loại. Trong lúc chúng tôi nói chuyện, một con chó hoang gần đó phát hiện ra em, rồi từ đâu đó kéo theo thêm mấy con khác. Có vẻ chúng vừa ngưỡng mộ bản chất sói của em, vừa bị mùi thức ăn hấp dẫn trong tay em lôi cuốn.

“Không có phần cho các ngươi đâu,” Myuri nói, ôm chặt bát hải tặc trong tay, thế là tôi gõ nhẹ lên đầu em.

Kinh Thánh dạy chúng tôi phải sẻ chia rộng rãi, và lũ chó hoang trong thành phố đã giúp chúng tôi vượt qua đợt hỗn loạn mấy ngày trước, nên lẽ ra chúng tôi phải tỏ lòng cảm tạ.

Nhưng điều đó chỉ khiến Myuri càng bất mãn.

“Boo…Ý em là, tụi nó tự kiếm ăn được mà. Thợ săn thì đâu cần bố thí…,” Myuri lẩm bẩm, xúc thêm một thìa, nhìn nó với vẻ tiếc rẻ, rồi đặt xuống dưới chân. Đuôi lũ chó hoang vẫy dữ dội đến mức tôi suýt lo chúng sẽ rụng ra khi chúng nó lao vào tranh giành mẩu thức ăn.

“Hồi xưa, lúc anh còn đi đường xa, đồ ăn của anh bị chó hoang cướp mất không ít lần đó.”

Nghe tôi nói vậy, Myuri đang gặm cái thìa ngạc nhiên nhìn tôi rồi cười ranh mãnh.

“Tại lúc nào anh cũng nhìn vào hư không, đầu óc để đâu đâu ấy.”

“Không chối được mất rồi.”

Myuri cười khúc khích, và ngay khi em sắp quay lại với đống nội tạng, mắt em bỗng mở to. Tôi lần theo ánh nhìn của em, tự hỏi chuyện gì, và giữa dòng người lữ hành mặc trang phục rõ ràng của khách phương xa, tôi thấy vài món đồ kỳ lạ trên lưng họ.

“Anh ơi, cái gì kia?! Toàn là đồ dùng bự chảng kìa!”

Bàn tay đang cầm thìa gỗ kéo mạnh tay áo tôi. Tôi hoảng hốt vì bộ đồ đang mượn có thể bị bẩn, nhưng Myuri chẳng bận tâm.

“Đó là…”

Có đủ loại trang phục của lữ khách, và nhóm người vừa đi ngang mặc một kiểu không mấy phổ biến ở vùng này.

Phong thái khó tả mà sành điệu cùng dáng đi đầy tự tin khiến tôi nghĩ họ đến từ một thành phố phía nam. Một người trong số họ vác theo một bó dụng cụ ăn uống khổng lồ.

“Không biết…liệu họ có dùng nó trong một đại sảnh ăn uống nào đó trong thành phố không nhỉ.”

Có một cái thìa dài bằng cánh tay người lớn, và một cây xiên gỗ chẻ nhánh, có lẽ dùng để xiên những tảng thịt bò. Ngoài ra còn vài món khác với hình dạng tôi không quen.

“Ghê thật, nhưng sao người đi đường lại mang mấy thứ đó? Chắc họ sắp mở cửa hàng ở đây đó,” Myuri nói, vừa nhai cái thìa gỗ.

“Hẳn là họ từ phương nam đến thăm một dinh thự quanh đây. Nhìn kìa—họ còn mang theo cả đồ nội thất nữa.”

“Ờ ha, đúng thật.”

Myuri chăm chú nhìn theo nhóm người đó, và ngay khi nhét nốt phần còn lại của bát hải tặc vào miệng, em đột nhiên nói, “Em muốn cái thìa đó! Em có thể ăn cả đống đồ với nó, lại còn dùng làm vũ khí nếu cần nữa. Ngầu không?”

Quả thật, kích thước của nó lớn đến mức nếu Myuri cầm lên, cái dụng cụ quá khổ ấy sẽ khiến em trông hao hao một thiếu niên mang trường kiếm. Nó chắc chắn hợp với em, nhưng tôi không dám nghĩ đến chuyện ngân sách ăn uống sẽ ra sao nếu em dùng thứ đó để ăn.

“Không được. Em sẽ bảo là chỉ xúc một thìa thôi, rồi lúc nào mua đồ ăn cũng lôi cái thứ to đùng đó ra, đúng không?”

“Vâng. Cái xiên to bằng cột phơi đồ thì tha hồ nướng thịt cho ăn thỏa thích luôn!”

Có vẻ như em vẫn còn để bụng chuyện bị giới hạn chỉ một xiên nướng.

“Trong đầu em lúc nào cũng chỉ nghĩ đến mấy thứ đó thôi phải không…?”

“Ơ, thôi mà—có một cái thìa như thế chẳng phải tuyệt lắm sao? Em sẽ ăn được bao nhiêu là đồ ngon đó.”

Nghĩ đến việc có lúc em lại điềm đạm, chững chạc chẳng khác gì người lớn, vậy mà cũng có khi lại bộc lộ sự trẻ con đến mức tôi không tài nào hiểu nổi, tôi đành thở dài chịu thua, tưởng tượng cảnh một cái dụng cụ to như vậy sẽ bất tiện thế nào mỗi khi ăn uống.

Đúng lúc đó, ba cặp mắt ngước lên nhìn Myuri, người vẫn đang tham lam dõi theo nhóm người vừa đi qua. Đó là mấy con chó hoang lấy bến cảng Rausbourne làm địa bàn, những kẻ trung thành phục vụ con sói. Những sinh vật thông minh và ngoan ngoãn ấy lần theo ánh nhìn của em, rồi đồng loạt hạ thấp người xuống.

Những thợ săn sắp sửa ra tay giúp chủ nhân của mình!

“Myuri, Myuri.”

“Hả—?”

Tôi khẽ chạm vào vai Myuri rồi chỉ về phía lũ chó, và em cũng lập tức hiểu ra tình hình.

Suy nghĩ một lúc, em hớn hở nói, “Được rồi, ba đứa bây, coi như làm việc trả công cho phần bát hải tặc tao cho lúc nãy nhé?”

Lũ chó quay đầu lại phía Myuri, đuôi vẫy rối rít.

“Này, Myuri!”

Myuri kêu lên một tiếng “Ế!” đầy kịch tính rồi rụt người lại, sau đó nở nụ cười thích thú.

“Trời ạ, anh thề luôn đó…”

“Nhưng chẳng phải ngầu lắm sao? Một nữ thủ lĩnh thảo khấu chỉ huy đàn chó hoang ấy? Một người hành hiệp trượng nghĩa chỉ cướp của kẻ xấu thì sao? Em thấy nếu diễn thành kịch ở nhà tắm thì sẽ rất hút khách đó.”

Nó hợp với em đến mức tôi hoàn toàn có thể tưởng tượng ra cảnh em làm đúng như vậy.

Những cô gái cùng tuổi em đáng lẽ đang ở giai đoạn học thêu thùa, nấu nướng để chuẩn bị cho hôn nhân, học cách cư xử dịu dàng, thục nữ, và chí ít cũng phải đọc được một bài thơ, nhưng Myuri thì vẫn ngang tàng như từ trước đến nay.

“Nghe cho rõ đây, tất cả bọn mày, đừng có đi trộm cắp trong thành phố. Chỉ được lấy đồ của kẻ xấu thôi nhé.”

Em gõ mạnh cái bát bánh mì cứng bằng thìa gỗ, nói năng y như một thủ lĩnh nghĩa hiệp.

Lũ chó ngoan ngoãn ngồi xuống rồi nằm rạp bụng, trông đầy thất vọng.

“Hầy…”

Không biết đến khi nào em mới chịu lớn lên nữa.

Khi tôi lại thở dài mệt mỏi, con chó già ban nãy lững thững bước tới chỗ chúng tôi, trông có vẻ hài lòng.

“À, quay lại nhanh thế. Sao rồi?”

“Gâu.”

Con chó già sủa một tiếng nghe như thở dài, còn Myuri thì đảo mắt, miệng méo đi.

“Ý là sao?”

“Borf…Rrr…”

Sau một âm thanh giống như tiếng gầm gừ dè dặt, cái đuôi của nó khẽ đung đưa. Myuri lại cắn cái thìa gỗ, rồi xúc thêm một thìa bát hải tặc, cắn thêm một miếng bát bánh mì, sau đó đặt phần còn lại ngay trước mũi con chó.

“Đi thôi, anh.”

“Hả? Đi đâu?”

Myuri bước qua con chó già đang vui vẻ ăn nốt phần còn lại của bát hải tặc, còn những con chó khác chỉ còn lại chút vụn, rồi tiến sâu hơn vào con hẻm.

Em quay lại nói, “Có ai đó đang đi săn lùng những con chó.”

Cái gì cơ?

Tôi ngơ ngác nhìn em, nhưng lời tiếp theo của em khiến tôi giật mình.

“Và chúng chỉ nhắm vào những con chó có lông màu bạc hoặc trắng. Có thể trong thành phố này còn có kẻ khác cùng mục tiêu với em.”

“Không thể nào,” Tôi buột miệng nói, nhưng rồi lập tức nhận ra điều đó chưa chắc đã sai.

Người qua lại đông như mắc cửi, tàu thuyền từ khắp nơi đổ về cảng. Không nhiều những kẻ phi nhân sống giữa thị trấn hay làng mạc của loài người, nhưng không phải là không có. Myuri chính là một ví dụ hoàn hảo, nên chuyện đó cũng không hoàn toàn bất khả thi.

“Nhưng vậy thì sao phải vội? Nếu họ có cùng mục tiêu với em, sao không chia sẻ rồi hợp tác?”

Myuri liền mở to mắt và nhe nanh.

“Đây là lãnh địa của em! Mẹ đã dạy em rồi! Mẹ nói, ‘Nếu con không giữ được lãnh địa của mình, thì con còn xứng gọi mình là sói sao?!’”

“…”

“Hơn nữa, cũng có thể họ hoàn toàn ngược lại với những gì anh nghĩ, và là kẻ xấu thì sao! Đi mau lên! Không thì em bỏ anh lại đấy!”

Myuri không chờ tôi trả lời mà sải bước đi luôn—đôi tai sói đã hiện ra trên đỉnh đầu em, và cái đuôi cũng đã ló ra dưới áo khoác. Xứng với danh một đại đô thị, Rausbourne có rất nhiều động vật hoang, trong đó có chó. Myuri, với dòng máu của kẻ thống lĩnh rừng xanh chảy trong huyết quản, lập tức chinh phục được chúng, nên việc em nói thành phố này là lãnh địa của mình cũng không hẳn là phóng đại.

“Anh trai ơi!” Myuri hét lên khi em gần như biến mất ở cuối con hẻm, thế là chẳng còn cách nào khác, tôi bắt đầu bước theo rồi nhận ra con chó già, nó đang liếm sạch bát hải tặc và nhìn tôi.

Ánh mắt xin lỗi của nó dường như muốn nói, “Không phải lỗi của tôi đâu.” Tôi rũ vai, thở dài.

“Con bé đó từ lúc sinh ra đã bướng bỉnh rồi.”

“Gâu.”

Có lẽ ngọn lửa trong dòng máu sói của em đã được thắp lên kể từ khi em chinh phục được bầy chó hoang của một thành phố lớn. Vì chuyện này khác hẳn với sự nghịch ngợm thường ngày của em, tôi quyết định tốt hơn hết là không nên trách mắng, ít nhất là trước khi nghe em nói rõ.

“Thật là,” tôi lẩm bẩm rồi đuổi theo Myuri.

Lấp lánh trong không khí phía sau em khi em chạy là những sợi lông sói màu bạc.

~~~

Rausbourne là một thành phố cổ với vô số ngõ hẻm ngoằn ngoèo. Nếu là tôi thì chắc đã lạc từ lâu, nhưng với Myuri, một con sói dù ở giữa rừng sâu rậm nhất cũng không bao giờ lạc đường, chúng chẳng gây khó khăn gì.

Em bước sang phải rồi rẽ trái bằng những bước chân dứt khoát, và chẳng bao lâu sau, tôi nhận ra chúng tôi đã tới một khu vực mang bầu không khí quen thuộc.

Hộc, hộc…Này, Myuri, có phải gần dinh thự không?” Tôi hỏi, vai nhô lên theo từng nhịp thở gấp, còn Myuri thì nhún vai, tai khẽ giật.

“Đang ở chỗ khác hoàn toàn cơ. Nhưng đúng là cảm giác thì giống thật.”

Hóa ra có vài khu phố nơi các quý tộc dựng dinh thự của mình.

“Và…mùi không khí ở đây khác lắm. Em nghĩ người từ một quốc gia xa xôi nào đó tụ tập ở khu này, rồi những kẻ giàu có xây nhà ở góc này.”

Dĩ nhiên tôi không thể ngửi không khí tinh tường như vậy, nên đành tin vào cái mũi của Myuri.

“Không có chó hoang nào cả. Họ đang săn chó, phải không?”

“Con chó già nói là từ vài ngày trước, một số con khác đã bị bắt rồi.”

“Chuyện đó…”

Săn chó trong một đô thị lớn khiến phạm vi khả năng bị thu hẹp lại. Có thể chúng bị bắt để dọn dẹp đường phố chuẩn bị cho chuyến viếng thăm sắp tới của một vị vua hay nhân vật quan trọng nào đó. Cũng có thể bị bắt để lấy lông. Thời chiến, người ta còn săn chúng để giảm bớt miệng ăn hoặc làm thực phẩm.

“Em cũng có linh cảm xấu, nhưng…giờ đến đây rồi thì lại thấy có gì đó không ổn.”

“Ý em là sao?”

Myuri thò đầu ra khỏi con hẻm quan sát con phố, rồi nhắm mắt lại mà đánh hơi.

“Hoàn toàn không có mùi bạo lực. Không có bả và cũng chẳng có vết máu cho thấy chúng bị đánh bằng gậy.”

Quả thật đó là một con phố yên bình.

“Vậy thì có thể là chuyện gì đây?”

“Hừmmm…Hừmm?” Mũi Myuri giật giật, em căng tai lắng nghe. “…Anh ơi, bên này.”

Ngay khi em định bước ra khỏi hẻm và tiến vào con phố chính, tôi nắm lấy cánh tay em.

“Tai và đuôi kìa.”

Với nét mặt bất ngờ, em khẽ rùng mình, rồi tai và đuôi biến mất.

“Cẩn thận kẻo chính em cũng bị săn đấy.”

“Nhưng nếu thế thì anh sẽ tới cứu em, đúng không?” em đáp lại bằng nụ cười không chút e dè, khiến tôi chẳng thể nào giận nổi.

Tôi chỉ đáp lại bằng cách xoa đầu em, và sau khi em hài lòng rụt vai lại, em bắt đầu bước đi.

“Rồi, là sao đây? Trông như em đã phát hiện ra gì đó nhỉ.”

“Ừm…có lẽ em phát hiện ra rồi, nhưng lại có thêm nhiều câu hỏi hơn.” Dẫn đường phía trước, Myuri ngoái đầu nhìn tôi qua vai. “Tất cả đều bị gom về một chỗ. Nhưng không phải bằng vũ lực. Nếu là ép buộc thì sẽ có mùi, kiểu như…mồ hôi hay tức giận, nhưng ở đây thì không.”

“Tất cả ở một chỗ…? Mà lại ở nơi thế này ư?”

Đó là một khu phố yên tĩnh với những dãy nhà thanh nhã. Nếu ai đó làm chuyện kỳ quặc như gom chó hoang lại, thì chẳng mấy chốc sẽ mang tiếng xấu, rất khó sống tiếp ở đây. Chưa kể nếu gom chó để lấy lông—có vô số nơi phù hợp hơn cho việc đó.

“Em còn nghĩ nếu tất cả đều gặp nguy hiểm thì sẽ quay về làm sói, nhưng may là hiện giờ ít nhất cũng chưa cần lo.”

Myuri bỗng nói vậy, và tôi cảm thấy ngực mình nhói lên một chút.

Em ích kỷ và hiếu động, nhưng nhìn chung đã lớn lên thành một cô bé tốt bụng.

Tôi vô thức xoa đầu em từ phía sau, khiến em giật mình hỏi, “Hả? S-sao anh làm thế?”

Sau đó tôi theo chân Myuri, và thứ hiện ra trước mắt là một tòa nhà có cánh cổng sắt đồ sộ phía trước. Nó cao bốn tầng, xây bằng gạch đỏ, và nhìn những giá kim loại gắn trên tường để treo cờ và đuốc, tôi biết chắc nơi này thuộc về một người có địa vị không nhỏ.

Không có cửa quay ra mặt phố, nhưng thay vào đó là một cổng kim loại nằm dưới một lối đi treo. Thiết kế ấy dẫn người qua cổng vào sân trong.

Và đến mức này thì ngay cả tôi cũng nhận ra bọn chó đang ở đâu.

Chúng ở phía bên kia tòa nhà, trong sân trong.

“Nghe như chúng đang vui lắm ấy.”

Khi căng tai lắng nghe, tôi nghe thấy tiếng chó sủa khe khẽ và, vì lý do nào đó, tiếng ai đó đang chơi nhạc cụ. Dù quý tộc có những thú vui kỳ lạ, nhưng nuôi chó để chơi nhạc cho chúng nghe thì quả là hiếm.

Đúng lúc đó, Myuri định ghé mắt nhìn qua khe cổng sắt.

Một tiếng than thở bỗng vang lên từ phía trên đầu chúng tôi.

“Ôi—! Ta chán phải chờ đợi lắm rồi!”

Tôi hoảng hốt—nếu bị coi là ăn mày thì còn đỡ, chứ nếu bị xem là trộm cắp khi đang bám vào cổng nhà của một người có địa vị cao thì chúng tôi chẳng có lấy một lời bào chữa mất, nhưng…có một điều khiến tôi chú ý.

Họ nói là chán phải chờ đợi ư?

Dù sao đi nữa, tôi ngước lên và thấy một thanh niên đang thò người ra ngoài từ ô cửa sổ mở toang, cúi nhìn xuống chúng tôi. Có lẽ gọi là thiếu niên thì đúng hơn—cậu ta trẻ hơn tôi, và chắc chỉ lớn hơn Myuri vài tuổi. Mái tóc vàng đồng khẽ lay động trong gió, toát lên dáng vẻ tinh tế của tầng lớp thượng lưu.

Không chỉ vậy, y phục của cậu ta khá lòe loẹt, mang màu sắc nghi lễ, giống kiểu trang phục mà Hyland sẽ mặc khi đi công vụ.

“Thật may là các vị đã đến! Ta sẽ cho người ra ngay, xin cứ đợi ở đó! Được cứu rồi. Tạ ơn Chúa!”

Nụ cười nhẹ nhõm ấy khiến cậu trông chẳng khác gì một cậu thiếu niên ngây ngô. Sắc hồng nhàn nhạt trên làn da trắng có phần hoàn hảo đến mức phi thực.

Nhưng rõ ràng là cậu ta đang hiểu lầm điều gì đó, nên tôi định mở miệng đính chính, song lúc ấy cậu đã rụt người lại vào trong cửa sổ.

“…Em có cảm giác cậu ta hiểu nhầm chúng ta rồi…”

May mắn thay, có vẻ cậu không lầm chúng tôi là kẻ trộm, nhưng tôi không biết cậu nghĩ chúng tôi là ai.

Myuri mặc bộ đồ quen thuộc mang từ Nyohhira, còn tôi thì mặc quần áo mượn của Hyland, khiến tôi trông như một cậu chủ trẻ của một công ty thương mại lớn. Bộ đồ thường ngày của tôi quá giống trang phục giáo sĩ, rất dễ gây chú ý ở thành phố này. Trái với mong muốn của bản thân, vào lúc nào đó tôi đã trở nên khá nổi tiếng ở đây.

Vì vậy, dù nghĩ rằng nếu chạy đi ngay bây giờ thì có thể che giấu thân phận, tôi vẫn bị níu lại bởi nỗi lo rằng với địa vị cao như vậy, có thể chúng tôi sẽ còn gặp lại người này ở đâu đó. Giải thích cẩn thận ngay từ bây giờ có lẽ sẽ tránh được rắc rối về sau.

Nhưng phải giải thích thế nào việc chúng tôi đang đuổi theo mấy con chó lông trắng đây?

Đang rên rỉ trong đầu, tôi nhận ra Myuri đang nhìn mình.

“Sao vậy anh?”

Myuri dùng đôi mắt đỏ thừa hưởng từ mẹ nhìn thẳng vào tôi, chớp mạnh đến mức gần như phát ra tiếng, rồi nở nụ cười rạng rỡ.

“Em chỉ nghĩ xem anh đẹp trai hơn tên kia bao nhiêu lần thôi anh.”

“Ơ-ưm…?”

Rồi em vui vẻ ôm chặt lấy cánh tay tôi. Có những lúc tôi thực sự không hiểu nổi em, và tôi nghĩ rằng trên đời này chẳng có gì khó hiểu hơn trái tim của một cô gái.

Ngay lúc đó, tôi cảm nhận được có người ở phía bên kia cổng.

Tôi còn chưa kịp nghĩ ra một lời biện minh thì cánh cổng đã mở ra.

Vị quý tộc ban nãy xuất hiện trước mặt chúng tôi, hai má ửng đỏ. Nhưng một người có địa vị cao tự mình thở hổn hển ra mở cửa cho khách là điều quá thất lễ, nên các gia nhân hoảng hốt vội vàng chạy theo sau cậu.

Gần như ngay khi mở cửa, cậu đã nắm lấy tay tôi và lắc mạnh, đến mức chính mình cũng nhún nhảy theo.

“Ôi, ta nhẹ cả người. Thật sự nhẹ cả người! Xin nhận lời cảm tạ của ta!”

“À, ừm—”

“Tuyệt vời quá! Thật là tuyệt vời! Hai người hoàn hảo, đúng y như ta mong đợi! Ta không thể tin được là mình lại tìm được những người tuyệt vời như thế này!”

Đúng như ngài đã mong đợi? Tôi còn đang tự hỏi cậu đang nói gì thì cậu đã nắm lấy tay Myuri, quỳ xuống chào theo nghi thức.

“Không thể coi đây là gì khác ngoài phép màu của Chúa khi có người với mái tóc đẹp đến vậy đến nơi này. Ta đã vô cùng mong đợi đó.”

Theo kiểu cách quý tộc, cậu nâng mu bàn tay em lên và làm động tác hôn nhẹ. Myuri vốn rất thích mấy chuyện như vậy, lại càng hớn hở khi mái tóc đáng tự hào của mình được khen ngợi.

“Mời vào trong, mời vào trong. Chúng ta phải chuẩn bị gấp. Mọi người sắp bỏ cuộc cả rồi. Ta thật sự, thật sự nhẹ nhõm đó!”

Tôi cảm thấy có chút áy náy—cậu gần như sắp khóc đến nơi, trong khi tôi lại chẳng biết cậu đang nhầm chúng tôi với ai. Tôi phải nói gì đó trước khi bước vào trong.

“Xin thứ lỗi…Ngài có thể cho biết ngài đang nhầm chúng tôi với ai không?”

“Hả?”

Đường nét gương mặt cậu vẫn tinh tế, nhưng vẻ ngạc nhiên đã làm nó méo đi đôi chút. Trong lúc ý nghĩ ấy thoáng qua, tôi giải thích tình huống của mình.

“Thật ra chúng tôi đang tìm một con chó trong thành phố…Chúng tôi nghe nói chúng được tập trung ở sân trong tại đây…”

Ngay cả tôi cũng thấy việc nói rằng mình đến tìm chó hoang nghe quá hoang đường, và cảm giác đó càng mạnh hơn khi xét đến thân phận người đối diện. Hơn nữa, cậu dường như đang chờ đợi những người nào đó, và vẻ mặt sững sờ của ông khiến tôi càng thêm day dứt.

Khi tôi đang nghĩ cách lái câu chuyện sang chuyện những con chó được đối xử ra sao và tình trạng của chúng thế nào, vị quý tộc chợt hoàn hồn và lên tiếng.

Và lần này, đến lượt tôi bối rối.

“Ơ, ừm, hai người cũng đang tổ chức một đám cưới à?”

“Gì cơ?”

“Ta đã định tìm hiểu trước, nhưng không ngờ ngày đẹp của chúng ta lại trùng nhau…Khoan đã, nếu hai người đang gom chúng bây giờ, thì vẫn còn vài ngày nữa, đúng không?”

Trong lúc tôi còn ngơ ngác, vị quý tộc đứng trước mặt đã bước thẳng vào khoảng cách riêng của tôi như thể sắp ôm lấy tôi.

“Xin hãy đợi nếu có thể. Nếu thuận lợi thì có thể xong trong hôm nay…không, muộn nhất là vài ngày nữa thôi. Nhưng ta thật sự không thể để các vị mang đi những con chó mà ta đã gom lại lúc này được!”

Vị quý tộc trẻ trước mặt tôi gần như sắp khóc, và khi tôi quay nhìn về phía sân trong theo một tiếng gâu, tôi thấy rất nhiều con chó có bộ lông trắng và bạc sạch bóng đang nhìn về phía chúng tôi.

Bộ lông được chải chuốt cẩn thận của chúng lấp lánh dưới ánh sáng, những dải ruy băng đỏ buộc quanh cổ khiến chúng trông hoàn toàn phù hợp cho một dịp lễ. Thấy vậy, tôi chợt nhận ra cậu đã nhắc đến từ đám cưới.

Vị quý tộc trước mặt mang vẻ mặt khơi gợi lòng trắc ẩn từ tôi và nói, “Hớ! Ô-ồ, ta hiểu rồi…Nếu các vị đến để mang chó đi, vậy thì các vị không phải là linh mục đóng thế và người hộ tống cô dâu…đâu nhỉ…?”

Linh mục đóng thế. Người hộ tống cô dâu.

Tôi liếc sang Myuri đứng bên cạnh, và có vẻ như em đã hoàn toàn nắm được tình hình.

Những con chó lông trắng và bạc, và một cô bé tóc bạc. Khu này là nơi những người từ các vùng đất xa xôi tụ tập, và phong tục cưới hỏi thì mỗi nơi mỗi khác. Có lẽ ở đây, tóc trắng hoặc bạc là điềm lành.

Không chỉ vậy, thành phố Rausbourne lại thuộc về Vương quốc Winfiel, mà hiện tại vương quốc này đang ở thế đối đầu với Giáo hội, nên tất cả các cơ quan Giáo hội đều đã bị bỏ hoang. Một đám cưới không có linh mục chủ trì nghi lễ thề nguyện cũng chẳng khác gì thịt cừu nướng mà không rắc muối. Tôi có thể hiểu vì sao họ lại cố gắng đến vậy để thuê một người đóng thế tương tự.

Chúng tôi lại xuất hiện đúng vào giữa cuộc tìm kiếm cuống cuồng ấy, nên hẳn đã trông giống hệt những người mà họ đang trông chờ.

Tiếc thay, chúng tôi không phải là vị linh mục và người hộ tống được mong đợi bấy lâu.

Hơn nữa, việc tham gia lo liệu một đám cưới là công việc vô cùng quan trọng đối với một linh mục, tuyệt đối không phải chuyện mà kẻ không đủ tư cách có thể tùy tiện thử sức. Điều đó rõ ràng là vi phạm giáo luật, và nếu bị phát hiện thì rắc rối sẽ vô cùng lớn.

Ngay khi tôi chuẩn bị nói ra điều đó, Myuri đã nhẹ nhàng bước lên trước.

“Đúng là bọn em đến đây chỉ là trùng hợp thôi, nhưng nếu có việc gì bọn em có thể giúp, thì bọn em sẽ giúp.”

Ánh mắt Myuri lấp lánh, không phải vì mong muốn giúp đỡ người khác, mà vì một lý do hoàn toàn khác.

Dĩ nhiên, sự tò mò của em đã bị khơi dậy bởi quang cảnh và âm thanh của những chuẩn bị cho một đám cưới mang phong tục ngoại quốc.

“T-thật sao?!”

“Myuri!”

Tôi định trách em vì tự ý quyết định mà không hề hỏi ý kiến tôi, nhưng em đã dùng tay đẩy nhẹ vào ngực tôi.

“Vâng. Anh của em thì mặc gì trông cũng vụng về cả, nhưng trong phẩm phục của Giáo hội thì anh trông cũng bảnh lắm đấy.”

Em vỗ thêm một cái vào ngực tôi cho chắc ăn.

“Đúng vậy, đúng vậy, ta cũng nghĩ thế!”

“Còn người hộ tống đám cưới thì sao? Là người được mặc quần áo đẹp, đội vòng hoa trên đầu và đi cùng cô dâu, đúng không?”

“Đúng, đúng là vậy!”

Vị quý tộc trẻ nghiêng hẳn người về phía trước, còn Myuri thì tràn đầy phấn khởi—gần như hai người sắp nắm tay nhau vậy.

Cả hai cùng quay sang nhìn tôi.

“Anh ơi, Chúa chắc chắn cũng muốn chúng ta giúp mà!”

Dù em có nhắc đến Chúa, nhưng với Myuri thì đức tin hiển nhiên chỉ là thứ yếu. Nhìn vào đôi mắt long lanh của em, tôi biết em chỉ muốn khoác lên bộ váy cưới trắng như trong truyện cổ tích, đội vòng hoa và nhân cơ hội hòa mình vào lễ hội.

Tôi định viện dẫn giáo luật và đủ loại lý lẽ hợp lý để từ chối, nhưng trước mặt tôi cũng là một vị quý tộc đang lâm vào cảnh khốn đốn.

Không chỉ vậy, đây còn là một đám cưới—một thời khắc trọng đại. Nó là sự kiện chỉ xảy ra một lần trong đời, vừa là bước ngoặt, vừa là một dịp xã giao.

Vậy thì Chúa sẽ mong muốn điều gì?

Tuân thủ và bảo vệ giáo luật do Giáo hội đặt ra, hay giúp người khác đạt được hạnh phúc…?

Dù trong lòng đầy bối rối, nhưng dường như câu trả lời đã gần như được định đoạt rồi.

“Tôi…không phải là linh mục đâu…”

“Ta không quan tâm! Chuyện đó chẳng quan trọng! Anh chỉ cần đứng đó và đóng vai là được!”

Trong hoàn cảnh bình thường, các bí tích hôn phối là trách nhiệm của giới giáo sĩ, và giả mạo linh mục để lừa gạt người khác là hành vi có thể bị truy tố.

Xét theo quy tắc một cách nghiêm ngặt, tôi đáng lẽ phải từ chối.

Tuy nhiên, nếu tôi chỉ làm theo các động tác của linh mục trong một lễ cưới, tôi tin rằng Chúa sẽ bỏ qua cho chuyện này.

Chỉ cần tôi không nhận tiền công, thì cho dù sự việc có bị công khai, tôi vẫn có thể khẳng định rằng mình chỉ là một phần của đoàn rước trong lễ cưới.

Và trên hết, nếu tôi lấy lý trí làm tấm khiên lúc này, tôi không dám tưởng tượng Myuri sẽ trách móc tôi đến mức nào.

“…Được rồi, chúng tôi sẽ giúp.”

“Ôi! Cảm ơn nhiều lắm!”

Myuri rạng rỡ đứng bên cạnh vị quý tộc vui mừng như vừa được cứu sống. Trong khi tôi nghĩ rằng mọi chuyện đã rẽ sang một hướng khá kỳ lạ, thì ngẫm lại, việc tham gia vào một buổi lễ chúc mừng như thế này cũng không hẳn là tệ.

“À, đúng rồi—hai người còn chưa biết ta là ai.” Vị quý tộc trẻ, nhẹ nhõm đến mức tưởng như sắp khóc, thật sự còn đưa tay lau khóe mắt, rồi đứng thẳng người và nói tiếp, “Tên ta là Mercurio Cedano.”

“Tôi—” Tôi cất tiếng, rồi khựng lại. Cái tên Tote Col giờ đây không còn là của một cậu bé sai vặt khiêm tốn làm việc tại nhà tắm ở vùng quê nữa. Trong những chuyến hành trình và những rắc rối đã vượt qua, tôi được biết đến như Hồng y Hoàng hôn, và những lời đồn về hành động của tôi bắt đầu lan rộng. Giờ đây, người ta thậm chí còn gán cho cái tên ấy những ý nghĩa đặc biệt.

Khi Mercurio nhìn tôi với vẻ tò mò, Myuri liền lên tiếng.

“Thực ra bọn em đang trên đường du hành. Anh ấy không phải anh ruột của em đâu; thực ra anh ấy là người hộ tống đã phục vụ gia đình em từ rất lâu đó.”

Một quý tộc đi chu du qua nhiều quốc gia khác nhau không phải chuyện hiếm, và việc các gia đình quý tộc có những thành viên thay thế cũng là điều thường thấy.

Mercurio xem ra đã lập tức hiểu được mối quan hệ ấy.

“Em đang tìm một con chó trong thành phố này vì muốn mang nó về trang viên nơi bọn em đang ở. Trang viên rất lớn, mà anh ấy thì ngày nào cũng bận rộn…”

Myuri đóng vai một cô gái dễ thương, đáng thương vì cô đơn, rồi nói tiếp, “Chưa kể, em còn bỏ nhà đi bất chấp sự phản đối của cha, nên nếu để cha em biết rằng em và anh ấy đã đóng giả trong một đám cưới, thì ông cha cứng đầu của em chắc sẽ ngất xỉu mất. Vậy nên, có được không nếu bọn em giữ kín tên tuổi, để chuyện này không bị lan truyền theo cách kỳ quặc nào đó không?”

Những gì Myuri nói đều không phải là dối trá, nhưng tôi cũng cảm nhận được một tầng ý nghĩa sâu xa khó diễn tả ẩn bên dưới. Dù gọi tôi là anh trai, em vẫn không hề ngần ngại thể hiện rằng mình thích tôi với tư cách người khác giới.

Những lời em nói về cơ bản mang ý nghĩa rằng Nếu anh trai và em giả vờ làm lễ cưới, thì ông cha ngốc nghếch kia của em sẽ lăn ra bất tỉnh ngay tại chỗ á, và trong đó không chỉ có mỗi trò cắn yêu đùa nghịch của loài sói.

“Được rồi, ra là vậy. À, ta hiểu rồi. Khi ta nói với cha mình rằng ta muốn đi du hành để học thơ ca, ông đã mắng ta một trận ra trò. Nhưng điều đó không làm ta nản lòng, nên ta hứa sẽ làm việc dưới sự giám sát của người hầu cũ và giữ tư cách thật mực thước, cuối cùng ông mới cho phép ta đi một chuyến ngắn.”

“Ha ha ha, chúng ta giống nhau thật.”

Mercurio và Myuri đã tìm thấy sự đồng cảm nơi nhau.

“Sẽ chẳng thể biết liệu tên của các vị có thể bị ai đó nghe được không và từ đâu sẽ lan truyền ra mà. Ta sẽ không hỏi hai người là ai đâu.”

“Vâng, cảm ơn ngài.”

Myuri và Mercurio lại bắt tay nhau một lần nữa, rồi Mercurio chìa tay về phía tôi.

Đã đi đến nước này, tôi chỉ còn cách cố gắng hết sức.

“Dù không được bao nhiêu, tôi sẽ dốc sức giúp ngài để buổi lễ này trở nên thật tuyệt vời, thưa ngài Mercurio.”

“Ôi, không, ta thật sự vô cùng biết ơn. Xin mời vào trong.”

Khi Myuri bước vào khuôn viên trang viên theo lời mời của Mercurio, bầy chó liền ùa tới. Bỏ mặc vẻ mặt trợn tròn mắt của Mercurio, Myuri đi quanh xoa đầu từng con. Công việc chuẩn bị cho nghi lễ trong sân trong đang ở giai đoạn cao điểm, các hầu gái và gia nhân tất bật chạy ngược chạy xuôi, còn ban nhạc thì đang chỉnh dây nhạc cụ. Bầu không khí yên bình, nhộn nhịp cùng với thời tiết dễ chịu cũng khiến tôi phấn chấn theo, nhưng từ một cánh cửa mà chúng tôi đi ngang qua, tôi cảm thấy có ai đó đang nhìn mình, như thể sắp tát thẳng vào mặt tôi.

Giật mình, tôi quay lại, và tưởng như mình vừa thoáng thấy một bóng dáng đỏ rực bừng cháy, nhưng chẳng có ai ở đó cả.

“Anh ơi?”

Myuri đang đi phía trước cùng bầy chó thì nhận ra tôi khác lạ nên quay đầu lại nhìn.

“À, xin lỗi.”

Tôi bước theo em, trong đầu tự hỏi rốt cuộc có gì ở phía bên kia cánh cửa ấy.

Đó là gì vậy?

Nếu không phải chỉ là ảo giác của tôi, thì tôi có thể thề rằng mình đã bị một ánh nhìn vô cùng nghiêm khắc dõi theo.

“Ôi, chắc chắn hôm nay buổi lễ chắc chắn sẽ rất tuyệt vời đây!”

Lời nói đầy xúc động của Mercurio vang vọng khắp sân trong, khi ánh nắng tràn ngập nơi ấy.

~~~

Myuri lúc này đã được tết tóc gọn gàng, khoác lên mình một bộ y phục trắng tinh, trên đầu là vòng hoa vàng đỏ rực rỡ bắt mắt. Một chú chó con màu trắng đặc biệt quấn quýt em đang ngủ ngon dưới chân em.

Đắm mình trong ánh nắng xuân dịu nhẹ, em vừa mỉm cười vừa vuốt ve chú chó con, trông chẳng khác nào một thiên thần thực thụ.

“Ồ, anh ơi.” Myuri ngước lên, nhận ra tôi thì lộ vẻ thẹn thùng. “Ê-hê-hê, anh thấy sao? Có đẹp không?”

Ở Nyohhira, em từng chạy nhảy khắp núi rừng hoang dã với miếng thịt hun khói ngậm trong miệng, rồi lôi kéo bọn trẻ trong làng bày ra đủ trò quậy phá khiến người ta ngất xỉu.

Dẫu những nét man dã ấy đã dần phai đi khi em trưởng thành, nhưng chính lúc nhìn thấy em như thế này, tôi mới thực sự cảm nhận được rằng em đang lớn lên thành một thiếu nữ. Những món trang sức khẽ leng keng bên đôi tai thon gọn, giờ đã lộ ra vì tóc được buộc lại, tựa như một thứ bùa phép, biến một cô bé thành một thiếu nữ.

Với tư cách người anh đã chăm sóc em từ nhỏ, vẻ đẹp ấy khiến tôi suýt rơi nước mắt.

“Ừ, rất hợp với em đó. Anh suýt nữa là muốn để thầy Lawrence cũng nhìn thấy nữa rồi.”

“Ơ, gì đấy? Quên cha em đi. Cha lúc nào cũng bảo em dễ thương bất kể em mặc gì mà.” Như thường lệ, Myuri tỏ ra lạnh nhạt với Lawrence, người luôn cưng chiều con gái mình. “Còn anh thì sao? Trong mắt anh, trông em thế nào?”

Dẫu có chút đồng cảm với thầy Lawrence, tôi vẫn chỉ có thể nói thật.

“Đương nhiên, trong mắt anh, em rất xinh đẹp đó.”

Myuri vốn tràn đầy tự tin, và dường như đã trở nên vừa an tâm vừa ngại ngùng khi em nhún vai và nở nụ cười.

“À mà, em đã hiểu trình tự nghi lễ chưa đó?”

Trong lúc được các phụ nữ ở dinh thự Mercurio sửa soạn trang phục, hẳn em đã được nghe giải thích đủ thứ. Người sẽ trao lời thề hôn ước với nhà Cedano là một cô gái thuộc gia tộc Pristol. Cả hai nhà đều có gốc gác từ miền nam xa xôi, và nhà Cedano đặc biệt đóng vai trò trung gian cho những người nhập cư sống ở khu vực này. Ngoài việc được kể sơ lược lịch sử gia tộc hai bên, tôi cũng được biết rằng họ sẽ tiến hành lời cầu nguyện thề ước trong một căn phòng riêng, nhưng đó là nghi thức của Giáo hội, phổ biến ở nhiều quốc gia, nên với tôi không có gì đáng lo.

Đoạn phải nói Dù ốm đau hay mạnh khỏe… thì tôi nắm rất chắc, vì đó là trích đoạn từ Kinh Thánh.

“Vâng. Với em thì không có gì khó cả. Trước tiên em đi đón cô dâu từ phòng riêng; sau đó cùng mọi người tới nhà nguyện trong dinh thự. Rồi em ngồi yên nghe bài giảng của anh.”

“Sau đó thì sao?”

“Với vai thiên thần, em sẽ chuẩn bị chiếc bánh xua đuổi ác quỷ. Bánh mà lại đuổi được chúng đi, nghĩ lại em thấy buồn cười ghê.”

Vì điều này khá mới mẻ với Myuri, nên em bật cười khúc khích.

Quan niệm dân gian cho rằng quỷ dữ ghét đồ ngọt. Dù Giáo hội thường hay chỉ trích nhiều tập tục, họ lại ngầm chấp thuận điều này. Bản thân tôi cũng có cảm giác rằng những con quỷ vui vẻ ăn bánh ngọt thì chẳng thể gọi là quỷ được, nên có lẽ ngay cả giới giáo sĩ cứng nhắc cũng thấy điều đó là bất khả thi.

Vì thế, bánh cưới thường được phủ kem làm từ đường ngọt và sữa tươi mới vắt.

“Vậy những người chúng ta thấy ở cảng hóa ra là tới dinh thự này dự đám cưới à?”

Em đang nói đến những người đàn ông mà em bắt gặp khi ăn món bát hải tặc, những kẻ mang theo những dụng cụ ăn uống khổng lồ. Họ đến từ quê hương của cô dâu, mang theo đồ đạc cho hôn lễ và những dụng cụ sẽ dùng trong nghi thức. Đoàn tàu của họ bị tản mác dọc đường vì thời tiết xấu, còn con tàu chở các linh mục, những người mà họ đã nhờ vả đi cùng, thì vẫn còn ở rất xa.

“Họ sẽ dùng con dao gỗ lớn để cắt bánh thành lát, rồi dùng cái thìa to để múc, nhưng không phải để em ăn đâu. Em hiểu chứ?”

“Em hiểu mà! Em trong vai thiên thần sẽ cắt bánh để ban phước, rồi đưa cho cô dâu. Sau đó cô dâu đút cho cậu quý tộc kia ăn, đúng không?”

Đó là tàn dư của thời đại xa xưa khi nạn đói hoành hành—một nghi thức cầu mong họ luôn đủ ăn đủ mặc.

Những dụng cụ ăn uống khổng lồ mà chúng tôi thấy khi nãy vừa dùng để nấu ăn cho số lượng khách đông đảo, vừa phục vụ cho nghi thức đó.

“Thứ tự thì đúng rồi, nhưng họ sẽ ăn bánh sau khi rời nhà nguyện và buổi tiệc ngoài sân bắt đầu. Trước đó còn một việc nữa cơ—em có nhớ không?”

Một khi câu chuyện rẽ sang hướng ăn uống, nàng sói ham ăn kia chỉ nghĩ đến đồ ăn.

“Hả? Ơ, là gì ấy nhỉ? Bài giảng bla-bla của anh bla-bla, rồi, ừm… à!”

Biểu cảm của Myuri lập tức biến từ thiên thần duyên dáng thành cô bé hiếu động.

Điều đang chờ em chính là một sự kiện xã giao, thứ mà em yêu thích chỉ sau đồ ăn ngon.

“Gia tộc Cedano mà ngài Mercurio thuộc về có lịch sử lâu đời. Anh nghe nói đám cưới của họ có những tập tục khá kỳ lạ, và khi anh đến miền nam, anh cũng bất ngờ vì thấy vài tập tục ấy vẫn còn tồn tại.”

“Danh dự của quý tộc chính là dũng khí. Nghĩa là nếu không bảo vệ được cô dâu thì không xứng làm quý tộc, đúng không?”

Đó là một trong những điểm nhấn của nghi lễ.

Sau khi thề nguyền yêu thương nhau, chú rể không chỉ phải chứng minh tình cảm là thật, mà còn phải cho tất cả mọi người thấy mình là người đàn ông danh dự, xứng đáng được cưới vợ. Thông lệ là những người đến từ quê nhà cô dâu sẽ đồng loạt tấn công chú rể ngay sau khi lời thề được trao, bởi công chúa của họ đã bị gả đi. Chú rể phải vừa chống đỡ cuộc tấn công ấy vừa bảo vệ cô dâu, rồi rời khỏi nhà nguyện.

Chỉ khi đó, hôn sự mới được xem là hợp lệ.

“Nhưng người như cậu ta làm được không nhỉ…? Em không nghĩ cậu ta từng cầm kiếm bao giờ.”

“Chỉ là nghi thức thôi. Một màn diễn ấy mà. Anh không nghĩ họ sẽ dùng kiếm thật đâu.”

“Thật hả?”

“Ở thời xa xưa, khi chiến tranh tàn phá khắp nơi, chuyện đó có lẽ đã từng xảy ra thật.”

Dẫu vậy, khi Mercurio nhắc đến nghi thức này, cậu rõ ràng rất lo lắng.

Nhà Cedano có gốc rễ lâu đời trong vương quốc. Từ thuở vượt biển xa xưa, họ đã buôn bán quy mô lớn và phất lên. Nhưng nhà Pristol còn cổ xưa hơn nữa, và truyền thống của họ coi trọng danh dự hơn tiền bạc.

Nhìn các gia nhân tất bật trong dinh thự, tôi có thể cảm nhận rõ sự khác biệt giữa gia đình chú rể và cô dâu—nhà Cedano giàu có, quản lý thương mại trong vương quốc, và nhà Pristol lâu đời, tiết kiệm, bám chặt truyền thống.

Sẽ chẳng có gì ngạc nhiên nếu có không ít người mang lòng bất mãn, cho rằng nhà Cedano đã dùng vàng bạc để mua công chúa của họ. Tôi không thể nói rằng mình không lo lắng—rằng nếu nghi lễ diễn ra cẩu thả, sẽ có kẻ công khai bày tỏ sự bất bình.

Tuy vậy, khắp dinh thự vẫn tràn ngập bầu không khí chúc mừng của một lễ cưới, và nghĩ lại thì tôi cho rằng Mercurio hẳn đã căng thẳng chỉ vì đây là một sự kiện có một không hai trong đời.

Rồi Myuri, vừa khẽ vẫy vạt váy rộng của mình, vừa nói, “Aw, nhưng mà ngầu thật đấy. Tái hiện một trận chiến để bảo vệ cô dâu ngay trong đám cưới…” Em tỏ ra yêu thích những câu chuyện phiêu lưu và chuyện tình lãng mạn, rồi liếc nhìn tôi. “Em ước gì người em yêu cũng sẽ bảo vệ emmmm.”

Em cố tình nói đủ lớn để tôi nghe thấy, nhưng ngay từ lúc chúng tôi quyết định giúp đỡ lễ cưới này, tôi đã sẵn sàng cho việc em sẽ nói những lời như vậy với tôi. Em từng nói rằng em thích tôi không phải với tư cách anh trai mà là một người đàn ông, và em thường bộc lộ cảm xúc của mình rất trực tiếp và dồn dập. Tôi không hề nghi ngờ mức độ tình cảm của em, nhưng tôi đang nỗ lực trở thành một người của Giáo hội, và quan trọng hơn hết, dù chúng tôi không có quan hệ huyết thống, tôi cũng không thể xem em là gì khác ngoài em gái của mình.

Vì thế, tôi lại cố tỏ ra như không nghe thấy, nhưng ngay lập tức cảm thấy đó là một lựa chọn sai lầm.

Tôi không thể đáp lại tình cảm của em, điều đó là sự thật, nhưng xem nhẹ hay chà đạp lên chúng lại là chuyện hoàn toàn khác.

Như thể đang nhẹ nhàng gỡ những chiếc móng vuốt em đã cắm vào tôi, tôi bước đến đứng cạnh em và nói, “Anh muốn bảo vệ em, và em đã, đang, và sẽ luôn là người quý giá đối với anh.”

Nếu đôi tai sói của em lúc đó hiện ra, chắc hẳn chúng đã vẫy động dữ dội, như thể hất tung nước ra khắp nơi.

Đó không phải điều em thực sự muốn nghe, nhưng tôi vẫn cố gắng đưa ra một lời đáp chân thành.

Tuy nhiên, Myuri chậm rãi, có chủ ý hít vào, như thể nếu lộ ra chút vui mừng nào thì em thua mất, rồi thở ra một tiếng thật dài, đầy kịch tính.

“Hừ. Nhưng rốt cuộc thì người bảo vệ anh hầu như lúc nào cũng là em mà.”

“Đúng là như vậy. Nhờ có em mà chuyến hành trình của chúng ta mới đi được đến hôm nay mà. Anh rất biết ơn điều đó.”

Myuri mang trong mình dòng máu của sói thông thái, và nếu không có trí tuệ, lòng can đảm và sự nhanh nhạy của em, con chiên nhỏ bé này hẳn đã sớm chôn thây dưới những con sóng dữ của thế giới rộng lớn.

Dù em vẫn còn cau mày, nhưng có vẻ em cũng phần nào hài lòng.

“Được rồi, vậy thì ôm em đi.”

Em cười tinh quái và dang rộng cả hai tay.

“Không. Giờ em đang ăn mặc chỉnh tề đó. Khi quay lại dinh thự, anh sẽ ôm.”

“Awww! Được thôi, nhưng anh phải làm đấy! Hứa nhé!”

Sự hiếu động quen thuộc của em lại lộ ra.

Dẫu vậy, tôi không thể nói rằng mình không cảm thấy nhẹ nhõm khi thấy em vẫn là chính em như thường ngày.

Myuri, với mái tóc được tết gọn và những món trang sức xinh đẹp đung đưa bên tai, trông như một nàng tiên có thể biến mất nếu tôi quay đi chỗ khác, khiến lòng tôi thoáng buồn.

Có lẽ tôi có thể gọi đây là cảm xúc của một người cha sắp tiễn con gái mình về nhà chồng—mà như thế thì hơi thất lễ với thầy Lawrence, nên trong đầu tôi sửa lại thành cảm xúc của một người anh trai sắp tiễn em gái mình xuất giá.

“Nhân tiện, anh không biết nghi lễ sẽ bắt đầu lúc nào nữa. Hay chúng ta hỏi thử xem?”

Vì các con tàu đến muộn và việc tìm một linh mục thay thế cùng người hộ tống cho cô dâu gặp khó khăn, dường như họ đã ở sát ranh giới của việc hoãn toàn bộ hôn lễ, nên có một số khách đã bắt đầu chuẩn bị rời đi. Không chỉ họ hàng từ xa tụ họp, mà đây còn là mùa xuân bận rộn. Đặc biệt với các gia đình quý tộc, đôi khi họ còn có nghĩa vụ phải tham dự những sự kiện quan trọng tại quê nhà. Nhìn bến cảng nhộn nhịp, tôi có thể hình dung việc chỉ để tìm được một chuyến đi tới đây cũng đã khó khăn đến mức nào, nên việc hoãn nghi lễ tuyệt đối không phải chuyện có thể quyết định dễ dàng.

Hơn nữa, Mercurio đang cuống cuồng chuẩn bị cho buổi lễ bởi danh dự của gia tộc cậu đặt cả vào việc tổ chức một hôn lễ suôn sẻ, điều đó gần như quan trọng ngang với việc cậu cưới vợ vậy.

Những người thuộc tầng lớp thượng lưu luôn sống cùng vô số trách nhiệm.

“Em nóng lòng được ăn quá. Em nghe nói ở miền nam, họ luộc bột sau khi nhào đấy. Em háo hức ghê!”

“Chẳng phải em vừa mới ăn bát hải tặc lúc nãy sao…?” Tôi hỏi đầy ngao ngán, và Myuri cười khúc khích tinh nghịch.

“Oooh, em tò mò muốn biết cô dâu trông thế nào quá. Tên chú rể quý tộc kia trông giống anh, vậy nên biết đâu cô ấy là một cô gái dễ thương có mái tóc bạc, tai sói và đuôi sói thì sao, hửm?”

Tôi liếc em bằng ánh mắt khó chịu, và em đáp lại bằng một nụ cười ngây thơ.

Dù vậy, nghi lễ không thể bị trì hoãn, nên đúng lúc tôi nghĩ rằng mình nên đi xác nhận lại trình tự sự kiện thêm một lần nữa—

“Thưa tiểu thư, cô đi đâu vậy?!”

“Đó là phòng của khách—”

Chúng tôi nghe thấy tiếng trao đổi từ phía bên kia cánh cửa, và chưa đầy một nhịp thở sau, cánh cửa đã bị đẩy tung ra.

“Này, hai người là linh mục và người hộ tống, đúng không?”

“Tiểu thư!”

Đó là một cô gái với mái tóc đỏ rực như ngọn lửa đang cháy, phất tay xua các hầu gái đang bối rối. Cô cao ráo, tay chân dài, và từ chiếc váy không dây sang trọng lộ ra những khối cơ săn chắc cuồn cuộn. Trông cô như bước thẳng ra từ những vở kịch phiêu lưu về nữ hiệp sĩ diệt rồng, thứ rất được ưa chuộng ở nhà tắm Nyohhira.

Sau khi đuổi các hầu gái đi, cô bước một bước dài vào phòng và đóng sập cửa lại phía sau.

Ánh mắt màu đất cháy sâu thẳm của cô lướt qua lướt lại giữa tôi và Myuri.

“Tôi nghe nói hai người là người ngoài và chỉ tình cờ xuất hiện ở đây. Đúng không?”

Đó là ánh nhìn mà hầu hết mọi người sẽ gọi là sắc bén. Dù cô không cao hơn tôi bao nhiêu, nhưng tư thế của cô lại tạo nên một khí thế hoàn toàn khác biệt. Tôi co người trước áp lực mạnh mẽ mà cô tỏa ra, một cảm giác cho tôi biết rằng nếu xảy ra bạo lực, tôi chắc chắn không có cửa thắng. Trái lại, Myuri đang ngồi trên ghế vẫn như mọi khi.

“Ừ, thì sao?”

Cô gái cau mày rồi hít sâu một hơi, đến mức trông như đã lớn thêm cả một cỡ. Nhìn thái độ của Myuri, có vẻ cô ta không hề có ý định làm hại chúng tôi, nhưng rõ ràng là đang vô cùng kích động.

Hoặc là cô nghĩ người ngoài không nên tham gia vào lễ cưới này, hoặc là cô cho rằng một linh mục giả mạo là điều hoàn toàn không thể chấp nhận. Nghĩ đến đó, cô quả thực trông rất giống một nữ kỵ sĩ khoác giáp, bảo vệ những thiếu nữ cầu nguyện yếu đuối trong các tu viện.

Thế nhưng Myuri lại nói, “Bộ váy đó…chị là cô dâu đúng không? Chẳng phải chị nên đi chuẩn bị sao?”

Chỉ trong một khoảnh khắc, cô gái sững lại, rồi hừ mũi, gạt phắt lời Myuri và tiến sát mặt em.

“Tôi có thể tin các người không?”

Mặc dù cô gái này có thể nặng gấp hai, thậm chí ba lần Myuri và khuôn mặt chỉ cách em trong gang tấc, Myuri vẫn hoàn toàn không hề sợ hãi. Trực giác của em rất nhạy bén, nên có lẽ em đã cảm nhận được rằng cô dâu không hề mang ác ý đối với chúng tôi.

Nhưng nếu đúng là vậy, thì hành động của cô dâu lại càng trở nên khó hiểu. Buổi lễ sắp bắt đầu đến nơi, vậy mà cô lại đột ngột xông vào phòng chúng tôi, chất vấn xem có thể tin tưởng chúng tôi hay không.

“Ừm,” Tôi lên tiếng, và ánh mắt của cô dâu lập tức quay phắt về phía tôi.

Tôi suýt nữa thì chùn bước, nhưng vẫn cố đứng vững.

“Quả thật chúng tôi là người thay thế vào phút chót, nhưng tôi tin rằng điều này cũng là ý chỉ của Chúa. Chúng tôi sẽ làm tất cả những gì có thể để giúp cô…”

Dĩ nhiên, vì tôi là một linh mục giả, nếu cô yêu cầu chúng tôi rời đi thì tôi cũng đành phải chấp nhận. Nghĩ đến đó tôi có chút buồn, nhưng tôi không phải linh mục thật, nên cũng chẳng thể làm gì hơn.

“Và dinh thự này có truyền thuyết về một con sói bạc, đúng không? Vậy thì em nghĩ mình rất hợp với vai trò đó đấy.”

Chú rể Mercurio của gia tộc Cedano và gia tộc Pristol bên nhà cô dâu đều mang biểu tượng sói trên gia huy. Theo dòng chảy thời đại, đại bàng và sư tử dần trở nên phổ biến hơn, nhưng những gia tộc lâu đời từng thuộc về đế quốc cổ xưa đôi khi vẫn giữ lại hình tượng sói trong huy hiệu của họ.

Chính vì vậy, cả hai gia tộc này đều có truyền thống nuôi những con chó dễ bị nhầm với sói, có bộ lông bạc hoặc trắng, đồng thời thuê một cô gái tóc bạc làm người hộ tống cho cô dâu.

Dĩ nhiên là Myuri—khi trên đời này không có cô gái nào sở hữu mái tóc bạc đẹp hơn em—đã khéo léo nói sao cho người ta nghĩ đó chính là lý do, nhưng em thực sự là một con sói. Trên thực tế, không ai phù hợp với vai trò này hơn em cả.

Tuy nhiên, cô dâu tóc đỏ vẫn giữ vẻ cảnh giác như một con sói thật sự, ánh mắt liên tục liếc qua liếc lại giữa tôi và Myuri.

Tôi vẫn chưa hiểu được ý định thật sự của cô dâu, nhưng tôi nhớ rằng cô đã hỏi liệu có thể tin tưởng chúng tôi hay không. Nghĩ đến đó, tôi chợt nhận ra rằng có lẽ cô gái tóc đỏ này đã đến để nhờ một điều không dễ mở lời.

Đám cưới là bước ngoặt lớn trong đời người, thường ngập tràn nụ cười và lời chúc phúc, vậy mà cô dâu—người có lẽ là nhân vật trung tâm nhất của hôn lễ—lại mang trên gương mặt một vẻ u uất như thế, khiến tôi nghĩ đến vài khả năng.

Điều đầu tiên xuất hiện trong đầu tôi là: đây không phải là đám cưới mà cô mong muốn.

Tuy vậy, tôi không cảm nhận được dù chỉ một chút do dự nào từ cô gái trước mặt, mà cô gần trông như kiểu người sẽ tự tay giành lấy điều mình muốn vậy; cô không có vẻ gì là dạng người cam chịu thuận theo một cuộc hôn nhân do cha mẹ sắp đặt trái với ý mình. Nhưng giữa gia tộc Cedano và Pristol rõ ràng có sự chênh lệch về thế lực và tài sản, và việc giới quý tộc gả con gái vì lý do chính trị vốn chẳng có gì lạ.

Hoàn toàn có khả năng rằng cô dâu tóc đỏ này đang tìm một người mà cô có thể tin cậy, mong muốn phá bỏ cuộc hôn nhân không mong muốn này. Vấn đề chỉ là: liệu một kẻ ngoài cuộc như tôi có thể can dự vào chuyện đó hay không.

Nhưng nguyên tắc của tôi là không bỏ mặc những người đang gặp khốn khổ trước mắt mình.

Nhìn cô gái trông như một con thú bị thương, tôi lên tiếng:

“Tên tôi là Tote Col.”

“Khoan đã, anh trai?!”

Tôi phớt lờ Myuri đang tròn mắt kinh ngạc và tiếp tục.

“Tôi chính là người được gọi trên khắp thế giới với danh xưng Hồng y Chạng vạng.”

Không lâu trước đây, thành phố này từng bị một biến động lớn làm chao đảo. Cô gái tóc đỏ dường như đã nghe qua những lời đồn đại và nhìn tôi với vẻ sững sờ.

“Tôi đã che giấu thân phận của mình với Mercurio vì cho rằng nếu lộ ra việc tôi hành động với tư cách linh mục thì sẽ gây rắc rối. Nhưng nếu cô đang khốn đốn và tìm kiếm sự trợ giúp, thì cái tên này có lẽ sẽ có ích. Những người quen biết của tôi cũng có thể ra tay giúp đỡ.”

Nếu tận dụng những mối quan hệ mà chúng tôi đã gây dựng được cho đến nay, ít nhất chúng tôi cũng có thể giúp cô gái này, người có vẻ đang bị ép vào một cuộc hôn nhân không mong muốn, trốn thoát. Điều còn lại chỉ là cô có chịu tin chúng tôi hay không… Và rồi cô đáp lại lời đề nghị của tôi bằng một giọng đầy mỉa mai.

“…Nếu đã định nói dối, thì ít nhất cũng phải nói cho cho ra hồn chứ.”

Không biết trả lời thế nào, tôi chỉ nhún vai, còn cô dâu khẽ rên một tiếng.

“Nhưng anh trông đúng là giống hệt như những lời đồn. Vậy chắc anh đúng là người đó rồi, nhỉ?”

“Danh xưng Hồng y Chạng vạng quả thực hơi quá lời, nên thú thật là tôi cũng thấy xấu hổ lắm,” Tôi đáp, và cô khịt mũi.

“Vậy thì…tôi có thể…tin anh không?”

Trên gương mặt cô lúc này không còn giận dữ, mà chỉ còn nỗi đau khổ.

“Anh trai em ngốc một cách không thể tin nổi mà,” Myuri xen vào, khiến cô gái quay sang nhìn em. “Bởi vì này nhé, một cô gái dễ thương như em cứ hết lần này đến lần khác đòi anh ấy cưới em, vậy mà anh ấy lại nói kiểu như, Anh sẽ làm linh mục, nên anh chỉ coi em là em gái thôi, rồi từ chối! Bọn em thậm chí còn không có quan hệ huyết thống! Dù em đêm nào cũng chui vào chăn ngủ chung với anh ấy, anh ấy vẫn chẳng thèm nghe cơ!”

Myuri nói với vẻ mặt u sầu, và sau một thoáng ngạc nhiên, cô gái nhìn sang tôi.

“…Thật vô lý. Em ấy đáng yêu thế này—sao anh lại không cưới?”

“Đúng không?!”

Kiệt sức trước cuộc đối thoại đó, tôi nói, “Quan trọng hơn, rốt cuộc cô cần chúng tôi giúp điều gì?”

Cô gái thẳng người lên, như thể vừa sực tỉnh. Đó không phải động tác tao nhã được rèn luyện để trở thành một người vợ, mà là cử động dứt khoát của kẻ từng trải qua những buổi huấn luyện khắc nghiệt.

“Các người…không, tôi xin lỗi, cả hai người hẳn là đã đến đây theo ý chỉ của Chúa. Xin hãy giúp tôi. Ở đây không còn ai khác mà tôi có thể dựa vào cả.”

Cô dâu, nhân vật trung tâm của hôn lễ, đang cầu cứu chúng tôi.

Tôi trao đổi ánh mắt với Myuri, và nhận ra đôi mắt em đang lấp lánh—em rất thích những câu chuyện kiểu này.

“Tôi cần xác nhận thêm một lần nữa. Hai người không phải đang làm việc cho cha tôi, đúng không?”

Một cô con gái phóng khoáng và một người cha muốn trói buộc cô lại. Mối quan hệ như vậy chẳng có gì hiếm. Myuri, người được phép làm theo ý mình, rõ ràng là một ngoại lệ.

Đám cưới vốn phải là chuyện vui vẻ, chứ không phải thứ ép buộc người khác.

“Không. Chính vì vậy mà tôi nghĩ chúng tôi có thể giúp cô đó.”

Gương mặt cô gái méo đi, như thể vừa bị đánh mạnh vào ngực, rồi sau một khoảnh khắc trông như sắp khóc, cô nói, “Tôi biết ơn lắm. Thật sự cảm ơn hai người. Xin hãy giúp tôi giải quyết mớ hỗn độn của đám cưới này.”

Vậy quả nhiên đây là một cuộc hôn nhân không mong muốn. Myuri, người yêu thích nhất những cuộc bỏ trốn trong các câu chuyện lãng mạn, dường như cũng hoàn toàn tin chắc vào điều đó.

Rồi cô gái nói tiếp, “Cha tôi sẽ ám sát Mercurio. Xin hãy cứu Mercurio yêu dấu của tôi!”

“…Cái gì?”

Thế giới này quả thật đầy những điều không thể lường trước.

Những gì cô dâu tóc đỏ, tên Arte Pristol, tiết lộ là một tình huống hoàn toàn trái ngược với những gì tôi đã tưởng tượng.

~~~

“Cha tôi sẽ ám sát Mercurio,” Arte lặp lại. “Cha tôi là người cố chấp, ông phản đối cuộc hôn nhân này. Gia tộc tôi là dòng dõi lớn mạnh nhờ chiến công nơi sa trường. Còn gia tộc Cedano thì phất lên rực rỡ kể từ khi tổ tiên của họ được bổ nhiệm làm quan văn. Cha tôi luôn nói rằng một người đàn ông chưa từng ra chiến trường thì là kẻ yếu đuối, nên trong mắt ông, cuộc hôn nhân này hẳn là một sự kết hợp tồi tệ.”

Tôi không khỏi sững sờ, nhưng sự chênh lệch giữa hai gia tộc quả thực là một vấn đề nghiêm trọng. Nếu không phải vậy, thì vì sao hôn nhân giữa quý tộc và thường dân lại luôn trở thành đề tài chính của các vở opera? Ngay cả giữa các gia tộc quý tộc với nhau, điều đó vẫn không hề hiếm.

Arte lắc đầu và mím môi dưới.

“Tôi vẫn nhớ lần đầu tiên gặp Mercurio, tại lễ hội ở quê tôi. Ngay từ lúc ấy, cha tôi đã chẳng bao giờ nhìn chàng bằng ánh mắt thiện cảm.”

“Vậy sao?” Myuri hỏi, nhẹ nhàng đặt tay lên đầu gối Arte như để trấn an cô.

“Ừ. Ngay khoảnh khắc Mercurio nhìn thấy thanh kiếm tôi đeo, chàng bắt đầu nói với tôi về bài thơ được khắc trên vỏ kiếm. Tôi đã rất ngạc nhiên—chàng không hỏi lưỡi kiếm sắc đến mức nào, hay đã từng chém ngã bao nhiêu người. Đó là lần đầu tiên tôi gặp một người đàn ông đối diện với kiếm mà lại nói về thơ ca; đến bản thân tôi còn chẳng nhận ra trên vỏ kiếm có khắc một bài thơ. Mercurio kể cho tôi nghe ý nghĩa sâu xa của bài thơ ấy và cả những câu chuyện xoay quanh nó. Không chỉ thế…” Mi mắt cô bỗng trĩu xuống, như thể đang nhìn vào một miền ký ức xa xăm, đôi môi cũng mềm ra. “Chàng còn đọc thơ cho tôi nghe ngay tại chỗ. Dĩ nhiên, các nghệ sĩ thường lui tới những buổi yến tiệc nhà tôi cũng từng đọc thơ cho tôi. Nhưng tất cả bọn họ đều ca ngợi chiến công, và rõ ràng chỉ là nịnh hót. Nếu nhìn vào tôi thế này mà lại ví tôi với tinh linh hoa cỏ, thì hẳn là mù rồi, đúng không?”

Tôi lúng túng, không biết phải phản ứng ra sao khi Arte vô thức gồng cánh tay rắn chắc của mình, nhưng Myuri thì bật cười thật lòng, dịu dàng hỏi:

“Rồi sao nữa? Anh ấy đã đọc cho chị bài thơ hạnh phúc thế nào?”

Như thể đang chờ đúng câu hỏi đó, Arte vừa xấu hổ vừa đầy tự hào đáp, “Đại khái là, Sao không thử đặt thanh kiếm xuống, và chợp mắt bên bờ suối một lần? Tôi thật sự chẳng biết thế nào là một bài thơ hay hay dở. Nhưng tôi đã bị sốc. Khi học đọc viết, tôi chỉ được học những bài thơ cứng nhắc, cổ lỗ. Còn ở các buổi tiệc thì toàn nghe những bài thơ nịnh nọt. Tôi không ngờ trên đời lại tồn tại những vần thơ bình yên và dịu dàng đến thế.”

Là chính người đã dùng những bài thơ cứng nhắc, cổ xưa đó làm tài liệu dạy Myuri đọc viết, tôi cảm thấy ánh mắt em nhìn mình không nói gì mà đau nhói.

“Từ lúc đó, tôi đã mê mẩn chàng. Tôi quấn lấy chàng, nài nỉ chàng đọc thơ cho tôi như một đứa trẻ. Nhưng chàng chưa từng tỏ ra khó chịu, mà trái lại còn đọc cho tôi nghe rất nhiều bài thơ khiến tôi cười lăn lộn.”

Mercurio có lẽ quả thật có tài làm thơ, nhưng lý do khiến những vần thơ ấy được đón nhận đến vậy, hẳn còn bởi chính con người cậu.

Myuri chăm chú lắng nghe mọi điều Arte kể về Mercurio, thậm chí còn say sưa hơn cả cô dâu.

Thế nhưng, gương mặt Arte chợt tối sầm lại.

“Nhưng trong mắt cha tôi, Mercurio chỉ là một kẻ yếu đuối, khéo mồm khéo miệng. Ông ấy luôn xen ngang những cuộc trò chuyện của chúng tôi, buông ra những lời cay độc kiểu như, ‘Nói nhiều làm gì, sao không thử giao kiếm đấu một trận?’ Cuối cùng, cha tôi tìm đến tôi và hỏi, ‘Từ khi nào con lại hứng thú với thơ ca thế?’ Lão già cố chấp ấy hoàn toàn không hiểu Mercurio tài giỏi và tử tế đến nhường nào!”

Một người sống cả đời trong chiến tranh, dựa vào chiến tranh mà tồn tại, tất nhiên sẽ có một cách nhìn hoàn toàn khác. Với phụ thân của Arte, Mercurio là một kẻ xa lạ.

Dù vậy, có một điều khiến tôi băn khoăn.

“Nhưng…vậy cuối cùng cha cô vẫn chấp thuận hôn sự sao?”

Nếu không, hẳn mọi chuyện đã chẳng thể đi xa đến thế này.

“Rõ ràng lời chấp thuận ấy không hề có ý chúc phúc. Nhưng gia tộc Cedano có rất nhiều người giỏi làm ăn, thế lực của họ đã vươn rễ khắp các quốc gia. Có lẽ cha tôi e ngại hậu quả nếu thẳng thừng từ chối lời cầu hôn từ nhà Cedano. Gia tộc tôi thì người biết dùng kiếm thì nhiều, chứ người biết dùng bút thì chẳng bao nhiêu. Chúng tôi cũng chẳng có bao nhiêu tiền, mà sức mạnh của gươm giáo thì trong thời đại này đã không còn nhiều ý nghĩa nữa.”

Nói cách khác, người bị ép phải chấp nhận cuộc hôn nhân không mong muốn lại chính là cha cô.

“Có không ít bi kịch từ những cuộc hôn nhân ép buộc, nhưng trường hợp này thì ngược lại nhỉ?” 

Nghe Myuri hỏi, Arte lại nhíu mày.

“Đàn ông trong gia tộc tôi đúng là một đám đầu đá cổ hủ! Tôi biết cha mình sẽ phản đối, nên đã nói thẳng điều đó với Mercurio. Thế mà…” Dù với thân phận của mình, chàng hoàn toàn có thể chọn bất kỳ ai khác, vậy mà chàng lại nắm tay tôi và thề rằng sẽ làm mọi cách để tổ chức được hôn lễ này…”

Má Arte ửng đỏ, cô xoa hai tay vào nhau, như đang nhớ lại khoảnh khắc ấy.

Myuri, người coi những câu chuyện tình yêu là thứ cao quý và đẹp đẽ nhất trên đời, mỉm cười dịu dàng nhìn Arte.

Rồi như chợt tỉnh khỏi giấc mộng, gương mặt Arte méo đi.

“Và tôi chắc rằng không chỉ gia tộc tôi phản đối. Bên phía gia tộc Mercurio hẳn cũng có người không hài lòng.”

“Thật sao? Vì sao?” Myuri hỏi.

“Gia thế nhà tôi không cao, cũng chẳng giỏi kiếm tiền. Hơn nữa…” Arte nhún đôi vai rắn chắc của mình. “Nhìn tôi đi…tôi đâu giống một cô dâu mà người ta mong đợi.”

Tôi suýt nữa thì gật đầu theo phản xạ, nhưng Myuri đã nhanh hơn, giẫm mạnh gót giày lên chân tôi, chặn đứng ý nghĩ đó ngay tức khắc.

“Không phải đâu. Chị là một cô dâu rất xinh đẹp đấy, chị Arte.”

“…Được một cô gái xinh đẹp như em nói vậy, dù chỉ là xã giao, tôi cũng thấy vui. Cảm ơn em.”

“Không hề có ý xã giao đâu ạ!”

Sau lời phản bác ngắn gọn ấy, Arte tiếp tục.

“Dù sao thì Mercurio cũng đã xoay xở mọi chuyện rất thành công. Nhưng cha tôi thì cố chấp, còn họ hàng nhà tôi thì chẳng khác gì đám man rợ là bao. Khi gặp chuyện họ không đồng ý, họ sẽ không ngần ngại thượng cẳng chân, hạ cẳng tay thay cho tiếng nói.”

Trong đầu tôi bất giác hiện lên hình ảnh một thủ lĩnh hải tặc hay cường đạo, nhưng nghĩ kỹ thì có lẽ những gia tộc quý tộc cổ xưa cũng chẳng khác là bao.

Với các gia tộc võ sĩ, việc hành xử như một chiến binh chính hiệu vốn là cốt lõi cho sự tồn tại của họ.

“Nhưng…ám sát ư? Nếu đến mức đó thì chẳng phải còn tệ hơn cả việc thẳng thừng từ chối hôn lễ sao?”

Myuri nói đúng.

Tôi tò mò nhìn Arte, và cô khẽ thở dài.

“Cha tôi, dù lúc cầu nguyện buổi sáng luôn đọc sai, nhưng ông ấy rất ranh mãnh. Anh cũng đã nghe trình tự nghi lễ rồi, đúng không? Trong đó có một thời khắc hoàn hảo cho một vụ giết người.”

“Trình tự nghi lễ? Hừm, em đi cùng chị tới nhà thờ… rồi, ờ… khoan đã—đừng nói là đầu độc nhé?”

Điều Myuri nghĩ tới hẳn là nghi thức khi cô dâu Arte sẽ đút chiếc bánh xua đuổi ác ma cho Mercurio.

“Không, ông ấy không khôn đến mức đó đâu. Hơn nữa, tất cả khách khứa đều ăn cùng một loại thức ăn mà.”

“À, đúng rồi. Vậy thì…”

Khi đứng cạnh Myuri, trong lúc suy nghĩ của em đảo loạn trong đầu, tôi chợt nhận ra.

Quả thực có một tình huống cực kỳ thích hợp cho ám sát.

“Có phải là trong nghi thức họ hàng nhà cô dâu tấn công chú rể không?”

Miệng Myuri cứng lại thành một vòng tròn.

Arte chậm rãi gật đầu.

“Ông ấy sẽ nói đó chỉ là tai nạn. Thực tế thì khách khứa uống rượu say rồi quá khích, dẫn đến có người bị thương nặng, chuyện đó không phải hiếm. Nhưng chính vì thế họ sẽ để mọi thứ vượt tầm kiểm soát. Địa điểm làm lễ lần này là một sân nhỏ riêng tư, khá ấm cúng, nhưng ở quê tôi thì thường cả thị trấn kéo đến cơ, và hôn lễ hay biến thành hỗn loạn khi mọi người chen chúc. Có câu chuyện về một cuộc hôn nhân giữa con cái thuộc hai lãnh địa thù địch, vốn để giúp hai bên giảng hòa, nhưng rượu chè đã khơi lại mối thù máu, khiến rất nhiều người thiệt mạng. Như vậy chẳng phải quá man rợ sao?”

Với số khách hạn chế, người ta có thể nhanh chóng khoanh vùng kẻ sát nhân. Vì thế, tạo ra một tình huống mà ai giết ai thì rõ ràng, nhưng lại có thể coi là tai nạn ngoài ý muốn, quả thật rất hợp lý.

“Nếu đúng vậy, thì em muốn đập từng kẻ một cho hả giận…”

“Khoan đã,” tôi xen vào. “Điều gì khiến cô chắc chắn rằng ông ấy thật sự đang lên kế hoạch ám sát?”

Hẳn là cô đã bắt gặp ông ta đang bàn bạc mờ ám hay điều gì tương tự. Phải có bằng chứng thì cô mới tin chắc đến vậy.

Arte hất mái tóc đỏ rực của mình lên, rồi quay sang tôi với ánh mắt mờ đục.

“Đáng lẽ lúc này ai cũng phải bận rộn với lễ hội mùa xuân, vậy mà toàn bộ họ hàng khỏe nhất của tôi đều có mặt. Toàn là những kẻ có thể uống rượu từ sọ của con gấu mà họ đã hạ gục bằng tay đôi. Anh hiểu tôi nói gì chứ?”

Myuri có vẻ hơi phấn khích, nhưng tôi thì hiểu rất rõ họ hàng của Arte là kiểu người gì.

“Không chỉ thế, ai nấy đều mang theo kiếm. Mỗi người đều cầm vũ khí thượng hạng, gắn liền với danh tiếng và chiến tích. Tại sao lại cần mang vũ khí đến một đám cưới cơ chứ?”

“Nhưng quý tộc vốn vẫn mang kiếm khi dự tiệc mà?”

Myuri cũng có chút hiểu biết về chuyện này, bởi giới quý tộc và hoàng gia thường ghé thăm Nyohhira.

“Đúng là có, nhưng…đa phần chỉ là kiếm nghi lễ thôi. Phần lớn trong số đó thậm chí không có lưỡi sắc.”

“Chính xác. Quan trọng hơn, cha tôi cũng đang cư xử rất lạ. Từ khi tôi thân thiết với Mercurio, ông ấy không còn cố nói chuyện với tôi nữa. Cách giải thích duy nhất tôi nghĩ ra là ông ấy muốn dùng bạo lực để chấm dứt hôn lễ này, hoặc…ông ấy đang lên kế hoạch ám sát Mercurio.” Arte thở dài như trút hết uất ức, rồi tiếp lời. “Có lẽ ông ấy muốn tôi cưới một người đàn ông do ông chọn. Kiểu người chỉ thấy giá trị ở việc nhấc những tảng đá lớn. Và ông ấy mong tôi sinh ra những đứa con trai cường tráng, tin rằng như vậy sẽ phục hưng gia tộc đã suy tàn của chúng tôi.”

Đó là một quan niệm cổ xưa được truyền lại từ thời chiến tranh liên miên.

Arte là một cô gái mang tinh thần của thời đại mới, sinh ra trong một gia tộc truyền thống.

“Nếu chỉ mình tôi phải chịu đựng, thì tôi sẵn sàng gánh chịu tất cả vì nhà Pristol. Nhưng làm hại Mercurio thì tôi không thể chấp nhận được.”

Mái tóc đỏ của cô run lên, như thể đang bùng cháy.

Myuri nhìn Arte như nhìn một vì sao rực rỡ, rồi nhẹ nhàng nắm lấy tay cô.

“Chị yêu anh ấy thật nhiều nhỉ,” em mỉm cười nói, và gương mặt Arte lập tức đỏ hơn cả mái tóc.

Dù cô từng tự giễu rằng mình không giống một cô dâu, nhưng rõ ràng cô nên nhìn lại bản thân mình.

Quan trọng hơn cả, một thiếu nữ đang yêu thì lẽ ra phải được hạnh phúc.

“Nhưng chúng ta phải làm gì bây giờ?”

Lời Myuri nói kéo tôi trở lại thực tại. Đúng vậy—chúng ta rốt cuộc nên xử lý chuyện này ra sao?

“Những người thô kệch, thiện chiến kia đều mang theo vũ khí yêu thích của họ, đúng không? Dù cô có luyện tập đến đâu, thưa cô Arte, thì vẫn là thiểu số. Mà còn phải bảo vệ người khác nữa…”

“Ừ…anh nói đúng. Tôi cũng không thể tham dự nghi lễ với kiếm trong tay. Thứ duy nhất tôi có thể cầm là cái thìa gỗ khổng lồ để đút bánh cho anh ấy.”

Myuri trước đó còn từng đùa rằng sẽ dùng nó làm vũ khí.

Nhưng đây không phải trò đùa, và một chiếc thìa gỗ thì không thể nào địch lại lưỡi thép.

“Hơn nữa, có thể coi như toàn bộ khách mời khác đều đứng về phía cha tôi. Ai nấy đều xa cách với tôi. Mercurio thì cứ nói là không sao cả mà chẳng chịu nghe tôi…Nhưng tôi chắc chắn trong gia tộc Mercurio cũng có người lợi ích trùng với cha tôi. Khi mà họ đã để người mang vũ khí vào hôn lễ rồi, thì ta sẽ phải nghi ngờ tất cả.”

Chính vì vậy cô mới do dự không dám tin ai, nhưng khi những kẻ hoàn toàn xa lạ như chúng tôi bị cuốn vào hôn lễ, cô đã nhìn thấy cơ hội. Cô đến căn phòng này, bởi biết rằng đây là nơi duy nhất cô có thể tin cậy để cầu cứu.

Nhìn cách cả Arte lẫn Mercurio hành xử, điều họ mong muốn chỉ đơn giản là có thể cử hành hôn lễ của mình mà không gặp bất kỳ tai họa hay biến cố nào.

Trong trường hợp đó, chúng tôi phải làm một điều gì đó để đám cưới có thể kết thúc trong yên bình.

Ba người chúng tôi sẽ phải đứng ra đối mặt với cả một nhóm cựu binh dày dạn.

“Hay là…,” Arte đột ngột lên tiếng. “Có khi lựa chọn duy nhất của tôi, rốt cuộc, là rút lui khỏi cuộc hôn nhân này?”

Nếu Arte từ bỏ hôn sự, thì việc người của hai nhà Pristol và Cedano gây náo loạn đám cưới để lấy cớ tấn công Mercurio cũng sẽ trở nên vô nghĩa.

“Nhưng chị không muốn làm vậy, nên chị mới tới đây, đúng không?” Myuri hỏi.

Arte khẽ rên một tiếng đau đớn rồi gật đầu.

“…Nếu cô muốn cùng ngài Mercurio bỏ trốn, thì có lẽ tôi có thể giúp đấy.”

Kể từ khi rời Nyohhira lên đường, tôi đã gặp rất nhiều người.

Trong số đó có cả những người không phải con người, và nếu họ chịu ra tay giúp đỡ, chúng tôi có thể lén đưa cặp đôi rời khỏi vương quốc.

“Thực ra… đó chính là điều tôi muốn. Nhưng Mercurio là người kế vị tiếp theo của nhà Cedano. Chàng có rất nhiều trách nhiệm, và nếu chàng biến mất, rất có thể sẽ nổ ra tranh chấp quyền lực và khủng hoảng kế vị. Tôi không thể…phớt lờ tất cả những điều đó và yêu cầu chàng bỏ trốn cùng tôi được…”

Arte không chỉ là một cô gái biết dùng kiếm. Cô sắc sảo và có tầm nhìn xa đáng khâm phục.

“Tôi đã tự hỏi liệu một linh mục có thể thuyết phục được người cha mê tín của tôi hay không, nhưng anh nghĩ sao?”

Cô quay sang tôi với vẻ do dự, bởi chính cô cũng biết điều đó gần như là không thể.

Trong khoảnh khắc, tôi đã nghĩ giá như mình là một vị linh mục cao niên, dáng vẻ uy nghiêm, râu tóc bạc phơ… Nhưng nếu chỉ cần lời khuyên của linh mục là đủ để lay chuyển tất cả, thì chiến tranh đã biến mất khỏi thế giới này từ lâu rồi.

“Nếu việc ám sát đã được quyết định và triển khai, thì rất có thể ông ta sẽ giả vờ như không biết gì cả.”

“…Phải, đúng vậy…” Arte thở dài, ánh mắt trôi xuống thấp.

“Có lối đi bí mật nào trong nhà thờ không? Tôi đã vào đó trước để nghe về trình tự nghi lễ, và tôi có thấy cửa sổ. Hay là trốn ra ngoài từ đó? Chỉ cần tránh để ngài Mercurio bị vây đánh và bị thương dưới danh nghĩa tai nạn là được.”

“Đây là dinh thự của nhà Cedano giàu có. Những ô cửa sổ đó đều được lắp song sắt và kính gia cố. Ngay cả tôi cũng không thể phá vỡ chúng đâu.”

Nhà thờ vốn thường được dùng làm nơi trú ẩn trong thời chiến, lại còn cất giữ bảo vật, nên kết cấu luôn rất kiên cố. Có vẻ truyền thống ấy vẫn được giữ nguyên, ngay cả với nhà nguyện trong dinh thự của giới quý tộc.

“Vậy thì…”

Ba người chúng tôi dốc cạn trí óc, nhưng vẫn không nghĩ ra được một kế sách nào khả dĩ.

Cuối cùng, Myuri quay sang nhìn tôi, như thể chợt nghĩ ra điều gì đó, khẽ lắc chiếc túi vải trông rất bình thường mà em chưa bao giờ để rời người, kể cả khi đã ăn diện lộng lẫy.

Cử chỉ kín đáo ấy là hỏi tôi xem em có nên biến thành sói để cứu họ theo cách đó hay không.

Tôi mang vẻ mặt u ám, bởi đó dường như là lựa chọn duy nhất. Myuri ở hình dạng sói có thể dùng sức mạnh thuần túy để phá vỡ cả những ô cửa sổ gia cố.

Nhưng câu chuyện của Arte vẫn mắc kẹt trong đầu tôi.

Tất cả những người có mặt đều là những chiến binh từng đánh thắng gấu trong trận một chọi một. Tôi không tin rằng họ sẽ sợ một con sói, dù có to lớn đến đâu, và điều đó có thể đẩy Myuri vào nguy hiểm. Rút kiếm trong thánh đường là một tội ác nặng nề…và đúng lúc ấy, tôi chợt nhận ra. Sự việc sẽ diễn ra trong chính nhà thờ thiêng liêng. Điều đó có nghĩa là—

“Tôi hiểu rồi.”

“Gì vậy, anh?”

Cả Myuri lẫn Arte đều nhìn tôi.

Tôi quay sang Arte.

“Thưa tiểu thư Arte, nếu đối phương không có vũ khí, cô có thể bảo vệ ngài Mercurio được không?”

Arte chớp mắt, nắm chặt tay thành quyền, rồi nhìn thẳng vào tôi.

Cô siết chặt nắm đấm, mở ra, rồi cuối cùng lại nắm chặt lần nữa.

“Nếu là tay không đánh nhau, tôi không có ý định thua đâu, kể cả trước mấy ông chú của mình. Cho dù không thắng, tôi vẫn có thể dùng thân hình to lớn này làm lá chắn bảo vệ Mercurio, miễn là họ không có kiếm.”

Tôi có thể hình dung cảnh cô chiến đấu dũng cảm giữa bạo lực trần trụi.

“Nhưng cô làm được sao? Họ sẽ không chịu tuân theo yêu cầu tịch thu vũ khí đâu.”

“Họ là chiến binh—đương nhiên họ sẽ cảnh giác nếu gọi đó là tịch thu. Nhưng nghi lễ sẽ diễn ra trong nhà thờ. Họ đang lên kế hoạch ám sát, nên có thể sẽ chủ quan, cho rằng đây là một trận đấu một chiều. Tôi có thể khiến họ tạm thời đặt kiếm xuống.”

“Điều đó…có thể đúng.”

“Anh định làm cách nào để lấy kiếm của họ?”

Ngay khi tôi sắp trả lời câu hỏi của Myuri, một tiếng gõ cửa gấp gáp vang lên. Cánh cửa bị đẩy tung ra mà không đợi chúng tôi đáp lời.

“Ôi, tiểu thư Arte! Cuối cùng tôi cũng tìm được người rồi! Sao người lại ở đây chứ?! Nghi lễ sắp bắt đầu rồi! Người hộ tống, cô cũng đã sẵn sàng chưa?! Linh mục, xin hãy chuẩn bị luôn đi ạ! Mau, mau nào!”

Người bước vào trông như là quản gia trưởng của nhà Pristol. Tóc bà rối tung, trán lấm tấm mồ hôi vì đã chạy khắp nơi tìm cô dâu, và phía sau bà là vài cô hầu khác cũng thở hổn hển đang cầm bộ váy trắng, mảnh cuối cùng trong trang phục của cô dâu.

Chúng tôi đã hết thời gian.

“Được, ta tới ngay,” Arte đáp, rồi quay sang nhìn tôi. “Nếu anh có thể khiến họ rời tay khỏi vũ khí, tôi sẽ xoay xở được. Chúc may mắn,” cô thì thầm trước khi rời khỏi phòng.

Cô bước đi với quyết tâm bi tráng, giống như một công chúa cao quý của vương quốc bại trận đang bị dẫn tới đoạn đầu đài. Myuri lo lắng nhìn theo khi các nữ hầu kéo Arte đi.

“Cô cũng đi theo luôn đi!” quản gia trưởng nói với Myuri.

Tôi cũng sẽ phải tới nhà thờ.

“Anh trai.” Myuri không nói nhiều, nhưng ánh mắt cô bé chất chứa cả bất an lẫn tức giận.

“Nhà thờ là lãnh địa của anh. Sẽ có rất nhiều cơ hội để anh nói, Xin hãy đặt vũ khí xuống và đứng yên. Anh sẽ dùng tất cả những gì mình đã học được cho tới nay để làm điều đó.”

“Nhưng…”

Ngay cả khi họ đặt vũ khí xuống, rất có thể họ vẫn sẽ để chúng trong tầm tay.

Myuri vừa lo lắng vừa bồn chồn, nên tôi đặt lòng bàn tay lên má em.

“Đừng làm cái mặt đó chứ. Lớp trang điểm xinh đẹp của em sẽ bị hỏng mất.”

Biểu cảm của Myuri cứng lại, khuôn mặt đỏ bừng. Có lẽ đó là sự pha trộn ngang bằng giữa ngượng ngùng và bực bội.

“Nghĩ lại thì, ở đây chúng ta cũng có không ít người đứng về phía mình, phải không?”

“Có sao…?”

“Bọn họ đôi khi di chuyển mà không gây ra một tiếng động nào, có thể tự do đi lại trong nhà thờ, và quan trọng hơn cả, họ là đồng minh trung thành của em.”

Miệng Myuri há hốc khi tôi nói vậy, và cô bé chỉ thốt lên được một tiếng, “À.”

Dưới chân Myuri là chủ nhân của một bộ lông nhỏ bé, kẻ đã bắt đầu ngáy từ lúc nào không hay.

“Đúng vậy. Khi đến lúc, anh sẽ yêu cầu các vị khách đặt vũ khí xuống. Gia tộc nào càng coi trọng truyền thống cổ xưa và nghi thức lễ nghi, thì càng có khả năng sẽ tuân theo.”

“Và lúc đó em sẽ dùng mấy con chó để mang kiếm về cho mình, đúng không?”

Tôi đã để ý thấy chuyện đó khi chúng tôi đang ăn món bát hải tặc. Mỗi khi Myuri nhìn thứ gì đó với vẻ thèm muốn, đám chó hoang trung thành sẽ lập tức lao tới cướp lấy món đồ được chỉ định. Hơn nữa, tôi đã bao nhiêu lần bị mấy con chó hoang nhanh tay nhanh chân giật mất bữa ăn khi còn rong ruổi trên đường? Chính sự liều lĩnh ấy đã giúp chúng sống sót qua cuộc đời khắc nghiệt nơi đầu đường xó chợ.

Không chỉ vậy, kể từ khi Myuri bước qua cánh cửa này, tất cả những con chó hoang tụ tập ở đây đều đã chào đón em một cách nồng nhiệt.

Chúng tôi chỉ cần dựa vào chúng để thu gom vũ khí.

“Ngay cả nếu không gom hết được, chúng ta vẫn có thể dùng chúng để gây hỗn loạn, và chỉ cần lũ chó chạy loanh quanh dưới chân mọi người cũng đủ khiến các vị khách bận rộn. Chúng ta có thể lợi dụng cơ hội đó để thoát thân.”

Myuri gật đầu đầy ấn tượng, rồi nhe răng cười.

“Em thấy cuối cùng não anh cũng bắt đầu hoạt động rồi đó, anh trai.”

“Là nhờ có em giúp mà.”

Tôi khẽ véo má cô bé, và Myuri nở một nụ cười nhột nhạt.

“Được rồi, em đi tìm tiểu thư Arte đây.”

“Ừ. Chúc may mắn.”

“Cứ giao cho em!”

Myuri đứng dậy, vỗ nhẹ lên đầu chú cún con đang ngủ để đánh thức nó, rồi rời khỏi phòng.

Tôi tin chắc đám cưới này sẽ kết thúc trong yên bình.

Chí ít, dáng vẻ của tôi cũng giống như một người của Giáo hội hạng nhất, nên hẳn việc thuyết phục các vị khách đặt vũ khí xuống sẽ không khó. Tôi tự nhủ như vậy để xoa dịu sự bất an trong lòng.

“Được rồi. Đi thôi,” tôi lẩm bẩm rồi bật dậy. Nếu những người như Arte và Mercurio còn không thể kết nối với nhau, thì làm sao tôi còn có thể tiếp tục nói về sự chính nghĩa của Chúa?

Tôi sải bước về phía cánh cửa và đưa tay ra.

Bàn tay tôi chỉ chạm vào không khí, bởi đã có ai đó kéo cánh cửa mở ra phía hành lang.

“Myuri?”

Tôi ngẩng lên, nghĩ rằng cô bé quên thứ gì đó, và ngay khoảnh khắc ấy, tôi đông cứng lại. Trước mặt tôi là một người đàn ông khổng lồ đang nhìn xuống tôi. Bộ râu đỏ rực của ông ta vô cùng bắt mắt, và tôi lập tức nhận ra đó chính là cha của Arte.

Người đàn ông này—kẻ có giá trị sống được tôi luyện nơi chiến trường và đang âm mưu ám sát Mercurio—có cánh tay còn to hơn cả đùi tôi. Cái cổ của ông ta dày như cổ bò, và tôi cảm thấy mình chẳng khác nào một con ếch bị rắn nhìn chằm chằm. Dù tôi có tin tưởng Chúa đến đâu, tôi cũng hiểu rõ một thực tế rằng lời nói của Ngài hiếm khi có thể ngăn cản bạo lực.

“…T-tôi có thể giúp gì cho ngài không?”

Dù cố nặn ra được mấy lời, giọng tôi vẫn the thé, còn người đàn ông râu đỏ to lớn đứng ngoài hành lang thì vẫn im lặng, chỉ nhìn chằm chằm vào tôi.

Hỏi vì sao ông ta ở đây thì thật vô nghĩa. Với những kẻ đã sống qua chiến tranh, việc luôn điều tra mục tiêu là quy tắc bất di bất dịch. Hẳn ông ta đã theo dõi Arte để đảm bảo cô không can thiệp vào vụ ám sát.

Nếu vậy, Myuri cũng đang gặp nguy hiểm.

Tôi điều chỉnh tư thế đứng và nhớ lại bố cục của dinh thự. Đây là tầng hai, và bên dưới cửa sổ phía ngoài là một giàn mái đơn giản dành cho ban nhạc. Nếu tôi xoay người với tốc độ tối đa, nhảy ra ngoài cửa sổ và đáp xuống mái giàn, tôi sẽ có thể trốn vào khu vườn.

Và vì tòa nhà bao quanh sân trong, nên dù tôi hét lên từ đâu, âm thanh cũng chắc chắn sẽ truyền tới tai Myuri. Cô bé sẽ lập tức hiểu rằng đã có chuyện xảy ra.

Tôi hoàn tất kế hoạch trong đầu và điều chỉnh nhịp thở.

Một…hai…Ngay khoảnh khắc tôi đang đếm thì chuyện đó xảy ra.

“Ta biết ngươi. Hồng y Chạng Vạng đang làm cái trò bí mật gì với con gái ta vậy?”

Bàn tay khổng lồ của ông ta siết chặt lấy vai tôi.

Và đến nhịp đếm thứ ba, việc xoay người bỏ chạy chỉ còn là một ảo tưởng viển vông.

◇◇

Cha của Arte đột ngột xuất hiện và lập tức nhận ra thân phận thật sự của tôi. Tôi không thể lanh trí như những con sói khôn ngoan kiểu Myuri được, và một con cừu nặng nề như tôi thì hoàn toàn không có con đường thoát thân nào.

Không chỉ vậy, hẳn ông ta cũng đã nghe thấy toàn bộ những suy đoán của Arte, nên tôi chẳng cần phải nói thêm điều gì. Từ góc nhìn của một người đã sống sót qua hết chiến trường này đến chiến trường khác, nơi sinh mạng luôn treo lơ lửng, những gì chúng tôi đang cố làm chẳng khác nào trò trẻ con.

Thế nhưng, cha của Arte lại không loại tôi ra khỏi đám cưới, mà ngược lại còn cho rằng sự có mặt của tôi là vô cùng tiện lợi. Tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài việc làm theo những gì ông ta bảo.

Cha của Arte thúc tôi đi nhanh về phía nhà thờ, và bầu không khí nóng rực ở đó khiến tôi choáng ngợp.

Dọc hai bên lối đi kéo dài từ cửa vào nhà thờ là thân quyến của hai gia tộc. Gia tộc Cedano ngồi bên phải, còn gia tộc Pristol ngồi bên trái. Chỉ cần nhìn qua các vị khách là có thể nhận ra ngay—tôi chẳng cần ai giải thích thêm gì nữa.

Dù số người ngồi bên trái cũng tương đương, nhưng phía đó lại sở hữu khối cơ bắp nhiều gấp mấy lần.

Với phong thái của gia chủ một dòng họ lâu đời, cha của Arte dẫn tôi lên trước bàn thờ một cách đầy uy nghi, như thể ngay từ đầu ông ta mới là người được định sẵn sẽ đưa vị linh mục tới đây.

Trong quãng đường ngắn ngủi đi lên bàn thờ, tôi liếc nhìn những người thuộc gia tộc Pristol và thấy họ hoàn toàn sẵn sàng cho một trận chiến, đúng như Arte đã nói. Thậm chí có người còn mặc cả áo giáp lưới, và dù đó có thể là lễ phục chính thống của một gia tộc võ tướng, thì nó vẫn là trang phục kỳ lạ trong một nhà nguyện.

Cha của Arte sau đó tiến tới chào hỏi những người ngồi ở hàng ghế đầu phía gia tộc Cedano. Một trong số họ trông rất giống Mercurio, chỉ là thân hình tròn trịa hơn.

Mercurio, người giữ một trong những vai trò chính của buổi lễ này, hẳn đang ở trong phòng cầu nguyện bên cạnh vào lúc này, tuyệt vọng cầu xin Chúa cho nghi lễ diễn ra suôn sẻ. Còn Arte, người đang nắm tay Myuri, chắc chắn cũng đang làm điều tương tự.

Lý do tôi thở ra một hơi nặng nề trước khi bắt đầu đọc kinh là bởi mong muốn của những người tham dự nghi lễ hoàn toàn rối loạn và chồng chéo lên nhau. Dù những người liên quan lẽ ra phải cùng chung niềm vui chúc mừng hôn lễ, thì sự lệch pha trong suy nghĩ của mọi người lại mang một vẻ bi kịch đến lạ thường.

Tôi mang một biểu cảm uể oải, và đó không phải vì tôi đang đóng vai một vị giáo sĩ nổi tiếng.

Khi cha của Arte ép thân hình đồ sộ của mình ngồi xuống hàng ghế, ông ta nhìn tôi chằm chằm.

Như thể đang nhắc nhở rằng, Ngươi biết mình phải làm gì rồi chứ?

Tôi không còn cách nào khác ngoài việc gật đầu.

“…Chúa đã tạo ra đàn ông và đàn bà trên thế gian này.”

Và như vậy, hôn lễ chính thức bắt đầu.

~~~

Tôi không nghĩ bài giảng của mình hay đến thế, nhưng các vị khách đều chăm chú lắng nghe. Hoặc có lẽ họ đang lắng tai nghe lời của Chúa, trong lúc chờ xem rốt cuộc chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo.

Bên ngoài những ô cửa sổ lộng lẫy được gắn song sắt mạ và kính, công tác chuẩn bị cho yến tiệc vẫn đang tiếp diễn.

Sự yên bình ấy thật trống rỗng.

“Và giờ đây, chúng ta xin đón chào chú rể, người trong ngày hôm nay, trước mặt Chúa, sẽ đón nhận một người vợ.”

Tôi đóng cuốn Thánh Kinh, bản ghi chép lời Chúa, và toàn bộ khách dự lễ đều đồng loạt ngoái đầu nhìn về phía cửa nhà nguyện. Vì đây là một hôn lễ giữa các gia tộc quý tộc, hai lính gác mặc giáp nhẹ đã tiến lên mở cửa. Mũi giáo họ cầm có đầu bằng lông bạc.

Xuất hiện bên dưới hai mũi giáo giao nhau là Mercurio với vẻ mặt căng thẳng. Có lẽ lý do cậu cố gắng nặn ra một nụ cười vui vẻ là vì những ánh mắt nghiêm khắc đang đổ dồn từ phía gia tộc Pristol.

Cái cúi đầu dâng lên Chúa, rồi những cái cúi đầu tiếp theo dành cho hai gia tộc đều cứng nhắc và gượng gạo.

Cậu ngẩng đầu nhìn tôi, rồi bước lên phía trước với khóe miệng căng chặt hết mức có thể.

Khi đến trước bàn thờ, cậu đặt một tay lên ngực, cúi đầu trước biểu tượng của Giáo hội treo trên tường, rồi đứng chéo phía trước bàn thờ. Arte sẽ đứng chéo về bên phải.

“Giờ xin mời toàn thể quý vị đứng lên.”

Ở phía bên kia cánh cửa khép kín, Myuri và Arte hẳn đang đứng chờ, lắng nghe từng lời trao đổi này.

Tôi nhắm mắt, chậm rãi hít vào, rồi thở ra.

Tôi hướng ánh nhìn về phía cha của Arte, nhưng ông ta cố tình quay mặt đi.

“Xin tất cả những ai hôm nay mang theo vũ khí hãy đặt chúng xuống. Nếu một thanh kiếm vướng vào ghế và làm đổ nó, thì tâm điểm của buổi lễ có thể sẽ rơi vào tay kẻ khác mất.”

Một làn sóng cười khẽ lan ra, bởi những thành viên to lớn của gia tộc Pristol quả thực đang rất chật vật trong không gian hẹp. Họ tháo kiếm khỏi thắt lưng, như thể thấy lời tôi nói hoàn toàn hợp lý, rồi dựa chúng vào hàng ghế phía trước.

Cha của Arte, người nắm rõ toàn bộ kế hoạch, cũng làm theo với vẻ mặt cau có, đặt thanh kiếm của mình xuống.

“Mời ca đoàn.”

Tôi ra hiệu cho nhóm thiếu niên đang kiên nhẫn chờ ở một bên, và họ bắt đầu cất lên những giọng hát trong trẻo chưa vỡ.

“Và giờ đây, chúng ta xin đón chào cô dâu, người trong ngày hôm nay, trước mặt Chúa, sẽ đón nhận một người chồng.”

Ngay khoảnh khắc cánh cửa mở ra, những tiếng trầm trồ vang lên.

Có lẽ là vì Myuri, trông không khác gì một thiên thần, hoặc vì vẻ đẹp của Arte, với bộ váy trắng tinh khiết khiến mọi ánh nhìn đều bị thu hút bởi vóc dáng cao lớn của cô, hoặc cũng có thể là vì cảnh tượng kinh ngạc của cả một biển lông do những chú chó trắng và bạc ngồi nghiêm chỉnh đầy kiêu hãnh bao quanh họ tạo nên.

Ngay cả tôi cũng có thể nhận ra rằng Myuri, người luôn mang gương mặt can đảm không hề biết sợ trước bất cứ điều gì trên đời, lần này cũng đang căng thẳng. Tôi ra hiệu cho em bằng ánh mắt, và em khẽ gật đầu, rồi nắm lấy tay Arte và bước lên phía trước. Những chú chó dưới chân họ đồng loạt chuyển động theo, trông như thể họ đang bước đi trên những đám mây trắng.

Tôi gần như không thể tin rằng họ đã tập hợp được ngần ấy con chó, nhưng quả thực đó là một cảnh tượng vô cùng bắt mắt.

Biểu cảm của những thành viên gia tộc Pristol trông dữ tợn đều cứng đờ khi nhìn thấy công chúa của nhà mình. Họ nheo mắt lại, và ngay cả sau những bộ râu rậm rạp, tôi cũng có thể thấy hàm răng họ đang nghiến chặt. Cực đoan nhất trong số đó chính là cha của Arte; mái tóc đỏ của ông ta gần như dựng đứng lên.

Theo đúng trình tự nghi lễ, Arte dừng lại trước mặt cha mình, nắm lấy tay ông và bày tỏ lời cảm tạ vì đã nuôi dưỡng, chăm sóc cô.

Đó không chỉ đơn thuần là một nghi thức mang tính hình thức. Giữa cha và con gái tồn tại một bầu không khí căng thẳng khác thường, gần như có thể sờ thấy được.

Phía sau cô, tôi nhận ra Myuri đã ra hiệu cho bầy chó chỉ bằng một ánh nhìn.

Những chú chó con, vốn được tụ lại như một tấm thảm trắng, lặng lẽ tản ra giữa các hàng ghế.

Sau khi Arte kết thúc lời cảm tạ dành cho cha mình, Myuri lại nắm lấy tay cô, và cả hai cùng tiến đến đứng trước Mercurio. Arte không nhìn tôi, nhưng Myuri thì có, và em khẽ gật đầu rồi duyên dáng lùi ra khỏi cặp đôi.

“Chú rể, Mercurio Cedano,” Tôi gọi tên cậu, thu hút sự chú ý của Mercurio. “Cô dâu, Arte Pristol.” Arte cũng quay về phía tôi. Đây là những nghi thức hôn lễ được ban phúc, đã được thực hiện hàng trăm, hàng nghìn lần.

Tôi bắt đầu đọc lời thề “khi ốm đau cũng như lúc khỏe mạnh” mà ngay cả Myuri dù chẳng hề hứng thú với thánh thư cũng biết rõ.

Mercurio hít sâu một hơi, như thể nuốt trọn sự căng thẳng của mình, rồi tuyên bố: “Tôi đồng ý,” còn Arte, người cao hơn cậu cả một cái đầu, đáp lại với ánh mắt cúi xuống: “Tôi đồng ý.”

“Giờ sẽ là nghi thức trao nhẫn.”

Từ hai bên, hai người bước ra, nâng trên tay tấm vải đỏ tinh xảo, xứng đáng với một nghi lễ quý tộc.

Trên mỗi tấm vải được dâng lên đầy kính cẩn là một chiếc nhẫn vàng.

Mercurio cầm lấy một chiếc và đeo vào ngón tay của Arte. Arte sau đó cũng làm điều tương tự.

Mercurio nở một nụ cười gượng gạo, và Arte cũng mỉm cười đáp lại.

Tôi cảm nhận được một sợi dây gắn kết rõ ràng giữa hai người họ.

Tôi đã khẽ ước, chỉ một chút thôi, rằng đến đây như vậy là đủ.

Chúa đang dõi theo.

Nhưng con người thì không thể nhìn thấu mọi thứ.

Chẳng hạn như những gì ẩn sâu trong trái tim của kẻ khác.

“Cặp đôi tân hôn của chúng ta đã trao lời thề trước Chúa,” Tôi cất cao giọng tuyên bố, và ngay lập tức, cả hội trường vang lên một tràng vỗ tay lớn đến chói tai.

Mercurio nắm lấy tay Arte, gương mặt cậu căng lại khi quay về phía khách dự lễ và cúi đầu thật trang trọng. Arte cũng cúi xuống theo, chìm trong cơn mưa tràng pháo tay.

Đứng trước mặt cặp đôi, tôi đọc tiếp đoạn văn đã được giao khi nắm thứ tự nghi lễ.

“Giờ đây, theo truyền thống được lưu truyền qua bao thế hệ của cả hai gia tộc…”

Âm thanh của những tràng vỗ tay đang tiếp diễn bỗng thay đổi rất khẽ.

Có thể nói đó là một khoảnh khắc kỳ lạ, như thể mọi người đang điều chỉnh bản thân để có thể ngừng vỗ tay bất cứ lúc nào. Arte, vẫn đang cúi đầu trước tôi, dường như cũng đã cảm nhận được sự biến chuyển tinh vi ấy trong bầu không khí. Qua những khe hở nơi váy cưới, tôi thấy rõ những bó cơ lưng rắn chắc của cô đang căng cứng.

“Để thử thách sức mạnh của sợi dây liên kết đã được Chúa thừa nhận…”

Ngay khi tôi đọc đến đó, hai chú chó chạy lon ton lên trước bàn thờ. Cả hai đều có bộ lông trắng tinh, đôi mắt tròn đen láy, chiếc đuôi tròn vo vẫy lên đầy kiêu hãnh.

Và đó là lúc mọi người nhận ra.

Hai chú chó đang ngậm kiếm trong miệng.

“Ê, cái đó—”

Ngay khoảnh khắc có người hoảng hốt lên tiếng, tấm thảm trắng giữa các hàng ghế đồng loạt chuyển động. Những chú chó lao đi nhanh đến mức mắt thường không theo kịp, hướng thẳng về phía cửa ra, ngậm trong miệng những thanh kiếm bằng khả năng tha đồ đã được chúng tinh luyện qua cuộc sống lang thang.

Các vị khách hoảng loạn cố bắt lấy lũ chó, nhưng không chỉ vì khoảng cách giữa các hàng ghế quá hẹp, mà còn vì thân hình to lớn của họ khiến việc di chuyển trở nên vụng về. Hỗn loạn bùng lên trong nháy mắt, nhưng những người không hiểu rõ chân tướng sự việc lại nghĩ đây chỉ là một màn phụ diễn và bắt đầu reo hò cổ vũ.

Đám thiếu niên trong ca đoàn dường như cho rằng nghi thức hoang dã đã chính thức bắt đầu, nên thay vì khúc thánh ca trang nghiêm ban nãy, họ chuyển sang hát một giai điệu hào hùng cổ vũ binh sĩ nơi chiến trận. Ban nhạc vốn đã chờ đúng khoảnh khắc này liền nhập cuộc, nện trống dồn dập đầy khí thế.

Vài thành viên trong ban nhạc bị những chú chó ngậm kiếm lao qua đập trúng ống chân mà ngã lăn ra, nhưng điều đó chỉ càng làm bầu không khí thêm náo nhiệt, kéo theo tiếng cười và sự phấn khích.

Những người duy nhất còn giữ được sự bình tĩnh trong nhà nguyện lúc này là cha của Arte và một số rất ít người khác.

“Anh.” Không biết từ lúc nào, Myuri đã xuất hiện bên cạnh tôi, đôi mắt em lấp lánh. Em tinh nghịch cầm trên tay một thanh kiếm của ai đó, còn Arte, vẫn đang cúi đầu, bỗng chuyển động. Cách cô chậm rãi vươn tay về phía thanh kiếm trong miệng chú chó chứa đựng toàn bộ cơn phẫn nộ bị dồn nén, và cũng là biểu tượng cho quyết tâm của cô.

Arte trông như đang khẳng định rằng chính vì khoảnh khắc này mà cô đã rèn luyện suốt bao năm. Thế nhưng, có một bàn tay đã ngăn cô lại.

“Arte.”

Với giọng nói điềm tĩnh, Mercurio lấy cả hai thanh kiếm từ miệng hai chú chó.

“Em không cần phải cầm lấy một thanh đâu.”

Khi Arte ngẩng lên, Mercurio đã đứng thẳng.

“Hãy nghe đây! Ta là Mercurio Cedano! Ta đã cưới người phụ nữ xinh đẹp này, Arte, làm vợ!”

Mercurio cầm kiếm trong tay phải, lớn tiếng xưng danh theo một nghi thức chiến tranh cổ xưa đến mức thật sự, thật sự lỗi thời.

Arte còn đang sững sờ thì đã vươn tay về phía thanh kiếm thứ hai mà Mercurio cầm trong tay trái.

Như thể đã đoán trước điều đó, Mercurio thẳng tay ném nó đi.

“Mercurio!”

Trước tiếng thét đau đớn ấy, cậu thoáng lộ vẻ hoảng hốt, nhưng ngay lập tức lại nở nụ cười.

“Không sao đâu, Arte. Tin ta.”

“Không, Mercurio, chàng chẳng hiểu gì cả!”

Trong lúc cô hét lên, vài người đàn ông đã lặng lẽ áp sát từ phía sau.

“Gừ, c-cái gì…? Thả—thả ta ra!”

Tiếng hét của Arte bị nuốt chửng bởi đám người lao tới. Bị ghì chặt hai tay ra sau lưng, cô cùng Mercurio, trong tay vẫn cầm kiếm, biến mất trong biển người.

Lý do Myuri đang cuống cuồng cố mở khóa trên thanh kiếm mình cầm hẳn là vì em muốn giúp Arte ngay lập tức. Tôi nắm lấy vai em và kéo sát lại bên mình.

“A-anh, mau đưa vũ khí cho chị Arte đi!” Myuri nói, tay với về chiếc túi đựng lúa mì bên hông.

Giờ chính là lúc hóa thành sói và cứu cô dâu bất hạnh.

Khoảnh khắc ấy đến ngay sau khi cô bé ngẩng lên nhìn tôi, đôi mắt ngấn lệ.

“Thả nàng ấy ra! Từ giờ trở đi, công chúa của các ngươi vĩnh viễn là vợ ta!” Mercurio hét lớn, rút kiếm khỏi vỏ. Đám đông đông nghịt dạt ra đôi chút, tạo nên một khoảng trống. Qua những khe hở giữa dòng người, tôi thấy Arte, hệt như một nàng công chúa bị giam cầm, bị ba người giữ chặt, và rõ ràng ba gã lực lưỡng ấy đang tỏ ra không mấy tự tin về khả năng khống chế cô.

Nhìn thấy cảnh đó, tôi thở dài thật mạnh.

“Được thôi. Vậy thì ta sẽ hỏi thanh kiếm của ngươi xem, ngươi có xứng đáng làm chồng của con gái ta hay không.”

Người đáp lời Mercurio chính là cha của Arte. Ông ta nhặt thanh kiếm Mercurio đã ném đi, tuốt kiếm, rồi hất vỏ kiếm sang một bên.

Sự chênh lệch về thể hình giữa hai người là quá rõ ràng, và chỉ cần nhìn tư thế đứng thôi, ngay cả kẻ nghiệp dư cũng có thể nhận ra sự khác biệt về trình độ.

Arte tuyệt vọng vùng vẫy, gào lên: “Mercurio!”

Cha cô giơ cao thanh kiếm qua đầu.

Điều khiến tôi chú ý không hẳn là âm thanh, mà là ánh sáng.

Cơ thể tôi co rút lại khi tiếng kim loại va chạm vang lên như sấm, một luồng lạnh chạy dọc sống lưng trước sự dữ dội của trận đấu. Myuri, như thể quên cả việc chớp mắt và hít thở, liều mạng giãy giụa khỏi tay tôi để lao tới chỗ Mercurio. Khi tôi cố ngăn lại, em quay sang nhìn tôi với ánh mắt cuồng nộ mà tôi chưa từng thấy bao giờ.

“Anh, tại sao?!”

Nếu anh còn cản em nữa, thì dù là anh cũng—

“Myuri.”

Tôi gọi tên em, và cô bé hiền lành sẵn sàng nổi giận vì người khác nhìn tôi bằng ánh mắt băng giá của loài lang sói.

Thế nhưng, tôi vẫn bình thản đón lấy ánh nhìn ấy. Không phải vì tôi coi thường Myuri, cũng không phải vì tôi bỏ rơi Arte và Mercurio. Mà là vì những gì cha của Arte đã nói thẳng với tôi ngay sau khi Myuri và Arte rời đi.

“Không sao đâu. Tất cả mọi người chỉ đang cố nghĩ cho nhau mà thôi.”

“…Sao cơ?”

Tôi không chắc tiếng lẩm bẩm đầy hoang mang ấy là của Myuri hay của Arte.

Bởi ở phía bên kia đám đông, một cảnh tượng không thể tin nổi đang diễn ra.

Mercurio, người vốn mang dáng vẻ mảnh khảnh, thư sinh, đang đỡ từng đòn kiếm của cha Arte một cách đáng kinh ngạc.

“Hừm!”

Cậu gạt đi đòn tiếp theo bằng một cú quét ngang. Mercurio phòng thủ khéo léo trước những nhát chém ngang liên tiếp, dồn dập và nặng nề. Tia lửa bắn tung tóe, thân hình mảnh dẻ của cậu suýt bị hất văng, nhưng cậu vẫn kiên quyết trụ vững.

Dù loạng choạng, cậu vẫn kịp điều chỉnh thế đứng và siết lại chuôi kiếm, và ngay sau đó, phía gia tộc Cedano bắt đầu dậm chân, tiếng reo hò dâng lên như sóng.

“Đúng rồi! Đừng để mấy con sói Pristol dọa ngươi!”

Tiếng hò reo vang lên, và lần này đến lượt những gã râu rậm gào thét.

“Lông trắng nhà Cedano chỉ là lông cừu thôi! Cạo hắn đi! Lột trụi hắn đi!”

Giữa những tiếng gào thét hỗn loạn ấy, Mercurio liên tục chặn đứng các đòn tấn công của cha Arte. Arte, với đôi mắt mở to vì kinh ngạc và không dám tin, cùng với Myuri cũng đang sững sờ chẳng kém, đều quay sang nhìn tôi.

Mỗi lần Mercurio đỡ được một đòn, tiếng cổ vũ lại như muốn thổi bay cả mái nhà nguyện, ca đoàn hát càng lúc càng lớn, như đang cố chiến đấu bằng giọng hát, còn ban nhạc thì điên cuồng đánh trống và hòa tấu.

“Họ gọi ngài là Sói Già Pristol, vậy mà chỉ có thế thôi sao?!”

Dù bờ vai phập phồng theo từng nhịp thở gấp, Mercurio vẫn lớn tiếng khiêu khích.

Và trước khi cha Arte kịp đáp lại, Mercurio vung kiếm bằng một tay, rồi đầy phong độ…À, đúng hơn là cậu có hơi loạng choạng, nhưng đã đặt nó lên vai, đồng thời vươn tay còn lại ra.

Không cần nói cũng biết cậu hướng về ai.

“Arte!”

Arte, người đang bị ba kẻ ghì chặt hai tay sau lưng, khuỵu xuống sàn.

Không thể đứng vững, cô sụp xuống, ngẩng lên nhìn Mercurio.

Mercurio, mái tóc óng ả đã dính chặt vào trán vì mồ hôi, dùng sức kéo Arte đứng dậy.

“Ta sẽ là người bảo vệ nàng! Mercurio Cedano sẽ bảo vệ vợ mình, Arte!”

Cha của Arte lại vung kiếm thêm một lần nữa về phía Mercurio, nhưng lần này, Mercurio chỉ dùng một tay cũng đủ gạt đi.

Đến nước này thì ai cũng đã hiểu rõ tình hình. Bởi lẽ, dù ai nhìn vào cũng thấy cánh tay gầy gò của Mercurio đã mỏi nhừ, toàn bộ tâm trí chỉ còn tập trung vào việc giữ cho thanh kiếm không rơi khỏi tay, thì cha của Arte vẫn buông rơi thanh kiếm vừa bị cậu yếu ớt đỡ lại.

“Arte, đường đã mở rồi! Chúng ta đi thôi!”

Mercurio kéo tay Arte khi cô còn đang ngẩng lên nhìn cậu ngơ ngác. Cô loạng choạng, và cậu lập tức đỡ lấy, gần như ôm trọn cô vào lòng. Chính khoảnh khắc đó, dường như Arte cuối cùng cũng hiểu được vai trò của mình.

Và cả lý do vì sao cha cô cùng các chú lại mang theo vũ khí, cũng như vì sao Mercurio lại tự tin đến vậy rằng mọi chuyện rồi sẽ ổn.

Arte quay sang nhìn cha mình. Ông giơ hai tay lên, biểu lộ sự đầu hàng.

Trong chốc lát, cô trông như sắp bật khóc, nhưng khi hạ mắt xuống, suốt quãng thời gian còn lại, ánh nhìn của cô chỉ còn hướng về Mercurio. Cậu là một chàng trai tốt bụng, vóc người nhỏ hơn cô hẳn một cỡ, gương mặt thanh tú đúng kiểu một quý tộc xuất thân từ gia đình gia giáo.

Mercurio từng nói rằng cậu đã xin cha cho mình đi chu du để học thơ ca, và cha cậu đã nổi giận. Có lẽ số lần cậu từng cầm kiếm trong đời chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Thế nhưng Mercurio tin rằng, đã là người chồng thì nhất định phải trở nên mạnh mẽ. Giống như việc Arte từng chỉ vào thân thể rèn luyện cường tráng của mình và tự giễu rằng bản thân là hình mẫu xa nhất với một cô dâu lý tưởng, Mercurio cũng đã nghĩ như vậy về chính mình.

Vậy còn cha của Arte thì sao?

“Như vậy là ổn rồi… phải không?”

Nắm tay Arte, Mercurio rời khỏi nhà thờ, như cảnh cuối cùng trong một câu chuyện hiệp sĩ cứu công chúa. Những người đàn ông râu rậm đứng tiễn họ thì thầm với vẻ mặt lúng túng. Trong số đó có một kẻ bị chảy máu mũi, y đã bị Arte đá thẳng vào mặt khi đám người cố ghì cô lại.

“Công chúa nhà mình suýt nữa thì nổi cơn thịnh nộ mà làm hỏng cả buổi lễ rồi…”

“Ta còn nghĩ tới chuyện bắt cóc ngài Mercurio rồi chạy trốn cơ!”

“Ta còn mặc cả áo giáp đề phòng phải động tay động chân, may mà không cần đến.”

Đó là những gì cha của Arte đã nói với tôi khi ông xuất hiện trong phòng thay đồ.

Arte chưa từng tỏ ra hứng thú với hôn nhân, không biết may vá, chẳng biết nấu nướng, và thứ duy nhất cô từng cầm trong tay là thanh kiếm.

Với tư cách một người cha, ông vui vì con gái luôn nài nỉ xin học kiếm thuật, nhưng đồng thời cũng bị dày vò bởi nỗi bất an, tự hỏi một cô gái ở độ tuổi đó có thể tiếp tục sống như vậy được bao lâu? Và rồi, ông quyết định thử làm một việc: ông giới thiệu Arte với Mercurio, người vừa hay xuất hiện tại một sự kiện ở quê nhà họ.

Khi Arte nhanh chóng thân thiết với Mercurio, chính người cha đã đưa họ đến với nhau ấy lại sững sờ. Thấy hai người nói chuyện với nhau lâu đến kinh ngạc, ông đôi lúc xen vào, kín đáo gợi ý Arte cầm kiếm lên như mọi khi. Và rồi, sự ngạc nhiên ấy dần biến thành hoài nghi.

Arte là một cô gái thông minh và nhân hậu. Dù cha cô chưa bao giờ bộc lộ nỗi lo lắng về chuyện hôn nhân của con gái, hẳn cô đã nhìn thấu điều đó. Và vì bị ghép đôi với Mercurio một cách đột ngột, cho dù có chậm hiểu đến đâu, cô cũng sẽ nhận ra toan tính của cha mình. Thế nên ông đã nghĩ rằng, có lẽ Arte trở nên thân thiết với người thừa kế của gia tộc Cedano phồn thịnh chỉ để giữ thể diện cho cha—không, là vì gia đình mình, một gia tộc chỉ còn mỗi cái tên cổ xưa và hoàn toàn bất tài trong chuyện làm ăn.

Nếu không phải như vậy, thì tại sao Arte, người trước đó chưa từng đọc nổi một câu thơ, lại có thể vui vẻ nói chuyện thơ ca với Mercurio đến thế? Từ khi nào con lại hứng thú với thơ ca thế?

Đó là điều cha Arte đã nghĩ sau khi giới thiệu Mercurio cho con gái.

Vì không có cơ hội xác nhận cảm xúc thật sự của Arte, Mercurio cũng nảy sinh tình cảm với cô, và người cha ấy chỉ có thể bất lực nhìn mọi thứ tiếp diễn, tiếp diễn, mà chẳng biết phải làm sao.

Không, có thật là như vậy không? Khoan đã, nhưng…

Cha của Arte đã trải qua vô số đêm không hẳn vì đau lòng khi con gái sắp kết hôn, mà vì suy nghĩ về tính cách của Arte—sự hiếu động bẩm sinh, một cô gái yêu kiếm thuật hơn cả ba bữa ăn mỗi ngày.

Nói cho cùng, ông thực sự lo sợ rằng mọi thứ có thể đổ vỡ ngay vào giây phút cuối cùng. Arte từng gây ra không ít chuyện động trời trong quá khứ, nên ông không tài nào dứt bỏ được nỗi nghi ngờ ấy.

Ngược lại, ông còn tin rằng cuộc hôn nhân này là cách Arte dùng để phản kháng ông.

Ông cho rằng Arte đang bày tỏ sự thất vọng, bởi cô nghĩ rằng cuối cùng ông vẫn xem cô như bao cô gái khác.

Ông đã bất ngờ xuất hiện sau khi Myuri và Arte rời khỏi phòng, và dù thân hình đồ sộ cùng vẻ ngoài đáng sợ đủ khiến bất kỳ cựu binh nào cũng phải chùn bước, ông lại đến gặp tôi trong tình trạng gần như rơi nước mắt, trút ra toàn bộ nỗi lo chất chứa trong lòng.

Tôi đã muốn thốt lên rằng sự hiểu lầm của cha Arte, người không nhận ra tình cảm thật sự của con gái mình, thật đáng trách biết bao, nhưng tôi lập tức nhận ra rằng mọi chuyện trở nên rối rắm như thế này cũng chính vì ông quá yêu thương con gái.

Ông chưa từng nói rằng kiếm thuật là không phù hợp với một cô gái ở độ tuổi ấy, bởi đó là thứ Arte yêu thích. Ông để con gái tự do làm điều mình muốn, không ép cô phải tuân theo những khuôn mẫu xã hội.

Và chính vì thế mà ông đã hiểu lầm ý định của Arte; và còn trớ trêu hơn nữa là Arte cũng đã làm điều tương tự.

Từ góc nhìn của Arte, những gì cô từng nói với cha mình chỉ xoay quanh kiếm và chiến tranh, vậy làm sao cô có thể đột nhiên nói với ông về tình yêu và lãng mạn? Làm sao cô có thể thổ lộ rằng mình đã xúc động sâu sắc trước những vần thơ Mercurio dành cho cô? Liệu ông có thất vọng khi thấy con gái mình hóa ra lại là một con nhỏ yếu đuối đến thế không?

Mọi chuyện bắt đầu từ đó.

Và đó cũng là lý do cha của Arte tìm đến tôi với một yêu cầu duy nhất.

“Ta không biết Arte đã nói gì với anh, nhưng xin đừng để buổi lễ này trở nên vô nghĩa.”

Có thể nói, ông gần như phó mặc tất cả cho tôi.

Bởi ông đã chuẩn bị một điều để Arte có thể yêu Mercurio thêm một lần nữa. Ông tin rằng, vì Arte yêu kiếm thuật đến vậy, cô chắc chắn sẽ bị thu hút bởi kế hoạch của ông. Và ông cũng nói với tôi rằng, Mercurio sẵn sàng làm bất cứ điều gì để khiến Arte yêu mình sâu đậm hơn.

Khi ông nói vậy, tôi chợt nhận ra Mercurio cũng đã mắc vào cùng một cái bẫy.

Tôi không biết điều gì sẽ được giải phóng từ đó, ngoài một tiếng thở dài nặng nề.

Có lẽ Chúa biết hết mọi thứ, nhưng con người thì không. Con người chỉ có thể phán đoán người khác từ một góc nhìn hẹp hòi, đầy hạn chế.

Điều đó đúng với việc người cha trông hung dữ của Arte thực chất lại nhút nhát hơn tôi tưởng, và cũng đúng với Mercurio, kẻ không thể tin rằng Arte hoàn toàn không hề quan tâm đến kiếm thuật của chồng mình. Và cả Arte nữa, cô đã tự thuyết phục bản thân rằng Mercurio đang tìm kiếm một người vợ với bờ vai mảnh mai, vòng eo thon thả và dáng vẻ đoan trang.

Người cha không hề biết rằng cô con gái hiếu động của mình đã thực sự yêu, còn cô con gái thì tin rằng cha mình chỉ cho rằng một người đàn ông dữ dằn mới xứng đáng với gia tộc Pristol.

Người ta cần nhớ vì sao bánh cưới lại được phủ đầy kem và đường.

Bởi vì quỷ dữ ghét những thứ ngọt ngào mà.

~~~

“…Vậy thì rốt cuộc chúng ta là gì cơ chứ?”

Myuri, sau khi trả thanh kiếm về cho đúng chủ, ngồi xếp bằng trên sàn, vẻ mặt hờn dỗi. Vài con chó vây quanh em, vẫy đuôi rối rít, mong cô sói nhỏ sẽ xoa đầu chúng.

“Có lẽ chỉ là chút gia vị thôi. Dù sao thì ngay từ đầu, chúng ta cũng đã được gọi tới chỉ vì vẻ ngoài mà.”

Myuri thở dài, lần lượt xoa đầu từng con chó rồi nói tiếp.

“…Nhưng tiểu thư Arte xinh đẹp thật.”

Em ngẩng lên, nhìn thấy người nhà Cedano và Pristol đang vỗ vai nhau khi rời khỏi nhà nguyện. Họ đã thống nhất xong mọi chuyện, chuẩn bị để buổi lễ cưới kỳ lạ này tiếp diễn suôn sẻ. Ai nấy đều có vẻ thật sự nhẹ nhõm khi thấy đôi tân hôn tay trong tay bước ra khỏi thánh đường.

Tôi đưa tay về phía Myuri đang ngồi, còn em thì chăm chú nhìn bàn tay ấy, rồi hỏi, “Anh này, anh có mơ những câu chuyện kiểu hiệp sĩ và công chúa như vậy không?”

Tôi không rõ vì sao em lại hỏi thế, nhưng vẫn trả lời thật lòng.

“Anh không hợp làm hiệp sĩ đâu.”

“…”

Myuri lặng lẽ nắm lấy tay tôi và đứng dậy.

“Vậy thì khi anh nắm tay em và đi thế này, anh đang đóng vai gì?”

“Chính em đã nói rồi mà. Vai anh trai.”

Myuri phồng má, lè lưỡi, rồi siết chặt tay tôi.

Rồi em trừng mắt nhìn tôi nói, “Quan sát hết trận đánh vừa rồi mà anh vẫn nghĩ chỉ mình anh nghĩ như thế thôi sao?”

Con người đánh giá nhau qua vẻ bề ngoài, và một khi ấn tượng đã hình thành thì rất khó thay đổi; nhiều khi chính họ cũng chẳng hiểu nổi bản thân mình.

Điều đó phần lớn là đúng; nhưng dĩ nhiên không phải là tất cả.

“Cho dù anh có nhầm đi nữa, thì cũng vẫn đáng tin hơn việc em tự cho mình là người lớn mà.”

“Hả, ý anh là sao?!”

“Ý đúng như anh nói thôi. Thật tình, em còn chuẩn bị sẵn cả kiếm cho mình; chẳng lẽ em định thực sự xông vào đánh nhau à?”

Lẫn lộn giữa chuyện phiêu lưu và thực tế không phải là việc người lớn sẽ làm.

“Chừng nào em còn là trẻ con, thì với anh, em vẫn là em gái.”

“Anh trai đúng là đồ ngốc!” Myuri hét lên, khiến cả đám chó giật mình dựng tai.

“Ừ, ừ, anh biết rồi. Giờ thì tập trung giải quyết nốt việc trước mắt đi. Em còn phải cắt bánh và đưa cho cô dâu ở sân trong nữa đấy.”

Myuri đang bám chặt lấy tay tôi, áp mặt vào như sắp cắn, rên rỉ một lúc lâu rồi cuối cùng cũng ngẩng đầu lên.

“Aaaah! Em cũng muốn lấy chồng nữa!”

Nói xong, em kéo tay tôi chạy đi.

“Đi thôi anh! Không nhanh là đồ ăn hết mất!”

“Hả? N-này, Myuri!”

“A ha ha ha!”

Thế là chúng tôi chạy ra sân trong. Gánh nặng lo lắng thừa thãi đã được trút bỏ, mọi người đều sẵn sàng tiếp tục buổi tiệc vui vẻ.

Rượu bắt đầu chảy, không khí trở nên náo nhiệt hẳn lên.

Arte và Mercurio đến cảm ơn chúng tôi, rồi cả họ hàng hai bên cũng lần lượt nói lời cảm tạ.

Nhưng thực ra tôi chẳng làm gì cả. Cuối cùng thì tất cả chỉ đơn giản là hành động vì nghĩ cho cảm xúc của người khác mà thôi.

Và thế là, một đám cưới diễn ra ở góc nhỏ của Rausbourne đã khép lại trong yên bình. Chúng tôi cũng tìm được chú chó con có bộ lông giống hệt Myuri như mong muốn, rồi trở về dinh thự mà Hyland đang mượn mà không gặp sự cố nào.

Chúng tôi có chạm mặt Hyland, vừa trở về từ công vụ. Thấy chúng tôi mệt mỏi rã rời, ngài tròn mắt ngạc nhiên, nhưng chúng tôi hẹn sẽ kể chi tiết sau rồi lập tức rút về phòng. Myuri, mệt nhoài sau khi nhảy múa, ôm chú chó con trong lòng rồi ngã vật xuống giường.

Cảnh tượng đó khiến tôi vừa buồn cười vừa bất lực. Myuri xoa đầu chú chó đang bám lấy mình, đặt nó xuống dưới gầm giường, rồi nhìn tôi bằng ánh mắt pha lẫn mệt mỏi và dư âm phấn khích.

“Anh, anh còn nhớ lời hứa không?”

“Lời hứa gì?”

Vẫn nằm trên giường, Myuri dang rộng hai tay.

“Anh hứa sẽ ôm em khi về tới dinh thự mà.”

Mái tóc tết gọn cho buổi lễ và gương mặt ửng đỏ vì hưng phấn khiến em trông như vừa lớn lên trong chớp mắt. Em đúng là con sói tinh quái, chuyên làm bối rối những chú cừu đang cố sống theo con đường đức tin mà.

Có lẽ em muốn tôi nghĩ như vậy, nhưng tôi đã sống cùng Myuri hơn mười năm rồi.

“À, đúng rồi—thật ra anh có lén chuẩn bị cho em một món quà.”

“…Hửm?”

“Chẳng phải em muốn mấy cái dụng cụ to to đó sao?”

“Khoan đã, cái gì cơ?!”

Tôi đang nói tới đạo cụ lớn dùng để ban phúc cho tương lai no đủ của đôi vợ chồng mới cưới.

Myuri bật dậy, bò qua giường hệt như con chó được cho xem miếng thịt.

“A-anh, anh lấy được…cái đó cho—?”

Gương mặt thiếu nữ của em tràn đầy mong đợi, và tôi đưa món đồ ra.

“Em cũng ăn rồi còn gì? Anh nghe nói mì lúa mì là đặc sản quê của Arte. Dụng cụ này dùng để luộc mì đó.”

Thứ tôi lấy ra là một tấm ván dài, trên đó có vài mấu nhô lên.

Nghe nói người ta đặt nó vào nồi, dùng để khuấy mì rồi kéo ra.

“Ồ… Whaaa…?”

Sức sống trong người Myuri như bị rút sạch trong nháy mắt.

Tai và đuôi em rũ xuống một cách buồn cười. Tôi ngồi xuống bên cạnh em và nói, “Thấy không, lúc anh nhìn cái này, anh liền nghĩ tới luôn. Nó có hình dáng hoàn hảo để chăm sóc bộ lông của em đó.”

Myuri ngẩng đầu nhìn tôi.

Cảm giác chẳng khác nào vàng đã rơi ra từ nơi em không ngờ tới nhất vậy.

“Kích thước của nó rất hợp để chải lông cho em, kể cả khi em trở lại dạng sói. Anh nghĩ em nên chăm sóc bản thân thật tốt khi ở dạng sói—bộ lông của em đẹp lắm—chứ không chỉ mỗi mái tóc đâu.”

Miệng Myuri mím chặt, còn chú chó con thì đang leo lên chân em.

Vừa bò được lên giường, nó liền bị thắt lưng, áo khoác ngoài, quần áo đủ thứ rơi xuống trùm lên đầu. Đến khi chui ra được khỏi đống đồ, thứ nó nhìn thấy là một con sói bạc.

“…Myuri, này—làm sao anh chăm sóc cho…? Myuri…!”

Con sói lớn đè tôi xuống giường, cái mũi dụi vào người tôi, còn cổ thì cọ lên mặt tôi một cách quá mức. Đuôi em quẫy lia lịa—lòng tự trọng của một con sói đâu rồi chứ?

Tình cờ tôi quay mặt sang bên, thấy chú chó con đang tò mò ngước nhìn.

“Làm ơn bảo em ấy dừng lại đi.”

Con sói này, dù lớn đến đâu, thì vẫn cứ thích được vuốt ve.

“Gâu.”

Chú chó con mệt mỏi sủa một tiếng, ngồi xuống rồi gãi cổ bằng cái chân sau ngắn ngủn.

Những sợi lông bạc bay lơ lửng trong không khí.

Đó là khoảnh khắc khi mùa đông dài đằng đẵng đã kết thúc, và mùa xuân rộn ràng đang ở ngay trước mắt.

◇◇

Một bức thư đã được gửi tới từ đám trẻ rời khỏi nhà tắm để lên đường du hành.

Ở Nyohhira, tuyết cuối cùng cũng đã tan, nhưng sáng sớm và chiều tối vẫn còn se lạnh. Ta đang sưởi bên lò lửa gần cửa ra vào thì một vị khách quen, là một thương nhân, mang bức thư đến.

Sắp đến mùa rụng lông rồi đây, ta nghĩ, trong khi tai và đuôi được giấu kín dưới lớp áo, ta nhận lấy phong thư. Từ đó thoảng ra một mùi hương khá nồng.

“Mm.”

Ta tháo sợi dây buộc cuộn giấy, bóc lớp sáp niêm phong, rồi nhìn vào bên trong. Nét chữ gọn gàng của nhóc Col và những dòng chữ ngày càng ra dáng của Myuri hiện ra trên trang giấy. Đọc xong, khóe miệng ta cong lên đầy ẩn ý.

“Nààày, Holo, có cần anh hâm lại rượu không?”

Người bạn đời của ta, tay cầm một chiếc cốc thiếc, ló đầu ra từ căn phòng bên cạnh.

“Ừ, có, làm ơn nhé.”

“Biết rồi… Khoan, đó là thư à? Của Myuri sao?!”

Đã khá lâu rồi không có tin tức từ nhóc Col và con gái chúng ta, Myuri, nên mắt anh mở to, như thể sắp lao tới giật lấy bức thư.

Vì chút tử tế, ta nói cho anh biết nội dung.

“Trong đó viết rằng nhóc Col và con ngốc Myuri đã tổ chức một đám cưới.”

Ta lược bỏ rất nhiều chi tiết, nhưng cũng chẳng hề nói dối.

Tên bạn đời ngốc nghếch của ta, kẻ có điểm yếu chí mạng là con gái, hẳn sẽ giật mình lắm… và đúng như vậy, liền sau đó là tiếng kim loại chói tai và âm thanh chất lỏng đổ tràn.

“Ááá! Sao anh dám! Rượu của em!”

Tên ngốc làm rơi chiếc cốc thiếc vì quá sững sờ, đứng đờ ra đó với ánh mắt trống rỗng.

“Myuri… Myuri…!”

“Đồ ngốc! Nhóc Col chỉ giả làm linh mục trong đám cưới của người khác thôi, còn Myuri thì đóng vai người hộ tống cô dâu!”

“Hả? C-có vậy thôi à? Thật không?”

Dù đôi lúc anh cũng thể hiện sự nhanh trí và gan dạ đến mức khiến ngay cả sói thông thái cũng phải liếc nhìn, nhưng phần lớn thời gian anh vẫn chẳng hơn gì một con bò đần độn.

“Phí phạm quá… Chính vì thế nên tên ngốc này mới…”

“Này, cho anh xem thư đi. Myuri không thật sự lấy chồng chứ?”

“Bình tĩnh đi! Đây! Muốn đọc thì đọc!”

Ta dúi bức thư vào tay anh rồi cúi xuống nhặt chiếc cốc thiếc mà tên ngốc ấy đánh rơi.

Khá may mắn khi miệng cốc không mở to lắm, nên vẫn còn sót lại chút rượu bên trong.

Phần còn lại, ta sẽ để tên ngốc đó tự lo.

“Ơn Chúa, em nói đúng—đúng là vậy thật… Anh không thể tin em được mà… Tim anh suýt thì ngừng đập đấy…”

Nhìn bộ dạng của anh, ta không khỏi tự hỏi rồi sẽ ra sao nếu Myuri thật sự đi lấy chồng. Ta chán ngán vô cùng, nhưng vì ta, hiền giả sói, là một người vợ nhân hậu, nên có vài điều ta không nói toạc ra cho tên ngốc nghe.

“Hừm, ở đây còn viết chúng nó có được một dụng cụ nấu ăn từ phương nam, rất hợp để chải lông, và sẽ gửi về khi sắp xếp được việc vận chuyển này.”

Ta không rõ đó là thứ kỳ quặc gì, nhưng ta dễ dàng hình dung được cảnh nhóc Col và Myuri trải qua mùa rụng lông nơi đất khách, nơi mà mùa xuân dường như đã đến sớm hơn ở đây một bước. Chỉ cần nhìn sợi dây buộc thư, thậm chí ngửi mùi hương đậm còn vương trên tờ giấy trong tay bạn đời ta là đã đủ hiểu.

Đó là một mùi hương thân mật, thân mật đến mức trở nên thật ngốc nếu còn hỏi han bất cứ điều gì về chuyện đám cưới.

Là con người, người bạn đời ngu ngốc của ta không thể nhận ra mùi hương ấy, và ta thầm mong anh biết ơn sự tử tế của ta vì đã không nói cho anh hay về những đám mây giông đang kéo tới.

“Hửm, sao thế?”

“Sao là sao?” Ta mỉm cười đáp lại, bước đến đứng cạnh anh. “Là dụng cụ chải lông đó. Sắp đến mùa rụng lông rồi. Em sẽ cần anh chăm sóc bộ lông của em.”

“Ừ, anh biết rồi. Anh đã đặt sẵn rất nhiều lược cho em.”

Dù anh nói với một tiếng thở dài, nhưng thật khó chịu là anh thực sự trông có vẻ mong chờ chuyện đó.

“Anh sẽ nhẹ nhàng với em chứ?”

Anh nhún vai, nở nụ cười, rồi bắt đầu lau dọn chỗ rượu bị đổ. Không còn cách nào khác, ta đành giúp anh. Một người bạn chơi chung thú vị như thế này mà để cho con bé Myuri thì thật phí phạm. Nhóc Col thiếu kinh nghiệm mới vừa vặn với con nhỏ ngốc đó.

“Sao thế?”

Anh nhận ra ánh nhìn của ta, vẻ mặt đầy thắc mắc.

Với nụ cười pha chút thích thú, ta đáp, “Không có gì.”

Mùa đông dài sắp sửa kết thúc.

Ta tự nhủ rằng cảm giác ấm áp mơ hồ trong lòng mình hẳn là do thời tiết chuyển mùa.

Nhưng dù vậy, ta cũng không thể nói rằng mình hoàn toàn không ghen tị với chuyến hành trình của đôi trẻ.

Hành trình.

Một hành trình, ư?

“Hừm,” ta khẽ lẩm bẩm, cười nhạt. “Dù ta nghĩ chúng ta sẽ không còn lên đường nữa.”

Ta vuốt qua bộ lông mùa đông trên đuôi mình, và trong khoảnh khắc ngắn ngủi, nó khẽ phồng lên như đang mong đợi điều gì đó.

Nhưng trên đời này, chưa bao giờ thiếu những mầm mống của thăng trầm.

Chẳng bao lâu sau giây phút này, ta sẽ học được rằng ngay cả lời tiên đoán của hiền giả sói cũng không đáng tin đến thế.

[note86024]

Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!

Ghi chú

[Lên trên]
Cơm sói con thì dĩ nhiên ko ngon bằng cơm sói mẹ rồi, nhưng story của 2 đứa này dịch đỡ mệt hơn hẳn, thuần tình cảm gà bông, đấu trí cũng ko nhiều, cũng ko dark deep
Cơm sói con thì dĩ nhiên ko ngon bằng cơm sói mẹ rồi, nhưng story của 2 đứa này dịch đỡ mệt hơn hẳn, thuần tình cảm gà bông, đấu trí cũng ko nhiều, cũng ko dark deep