Volume 22: Spring Log V [Đã Hoàn Thành]

Sói Và Bánh Hạt Sồi

Sói Và Bánh Hạt Sồi

Khi Lawrence trở về từ chuyến đi và đẩy cửa quán trọ, anh thấy có người đang đứng bên trong.

Mái tóc màu lanh mềm mượt và vóc dáng thanh mảnh của cô gái cho thấy rõ cô không quen lao động tay chân, khiến người ta dễ lầm tưởng cô là tiểu thư của một gia đình quý tộc. Cô còn trẻ, có lẽ chỉ mới mười lăm, mười sáu, nhưng cách cô đứng với thân người hơi ngả ra sau, tay khoanh trước ngực, chân dang rộng bằng vai lại toát ra một khí chất đầy uy quyền.

Cô cau mày, những nếp nhăn hằn sâu giữa đôi lông mày. Trong mắt người ngoài, có lẽ cô trông chẳng khác gì một người vợ đang tức giận đến giới hạn cuối cùng, chuẩn bị cho người chồng ham chơi một bài học nhớ đời.

Thế nhưng, dù Lawrence đã đóng cửa sau lưng, cô vẫn chẳng buồn liếc nhìn anh.

Cô chỉ đứng yên bất động, dán mắt vào một tờ giấy dán trên tường.

Nếu nhớ không lầm, lúc anh rời đi, cô cũng đứng đúng chỗ đó.

Lawrence, một thương nhân lữ hành từng khá có tiếng, nay là chủ tiệm tắm ở Nyohhira, lên tiếng hỏi người vợ đã chung sống hơn mười năm của mình, Holo:

"Sao sắc mặt em trông khó chịu thế?"

Khi anh đang cởi dở túi tiền và dao găm để đặt lên bàn, Holo hít một hơi thật sâu, cúi gập người xuống và làu bàu, "Bức tranh này sẽ tồn tại qua nhiều năm tháng. Em không muốn phải nhìn thấy một bức vẽ tồi tệ về bản thân mình trong vài trăm năm tới đâu."

Lawrence không cho đó là lời nói quá.

Vì Holo không phải cô bé như vẻ ngoài. Hình dạng thật của cô là một con sói khổng lồ huyền thoại, sống trong lúa mì và cai quản mùa màng. Nếu bức tranh ấy thật sự tồn tại qua hàng thế kỷ, không chừng một ngày nào đó cô sẽ tình cờ thấy lại nó.

Lawrence hiểu rằng nếu kết quả cuối cùng không ra hồn thì đó sẽ là chuyện lớn, nhưng anh vẫn thấy có gì đó không ổn.

"Chẳng phải lúc đầu em hào hứng lắm sao?"

Holo chẳng buồn đáp lời Lawrence.

Lawrence thở dài, liếc nhìn bức tranh trên tường. Ở đó là một bản phác thảo bằng than vẽ anh và Holo, sau này sẽ là một phần trong tác phẩm lớn hơn.

Chuyện đặt vẽ bức tranh này vốn là để giải quyết rắc rối đã bất ngờ xảy ra tại thị trấn cảng Atiph, nơi họ đang lưu trú. Để bồi thường cho việc bị kéo vào vụ việc đó, Lawrence đã sắp xếp để cả hai được đưa vào tranh.

Cơ hội lưu lại hình bóng mình trong một tác phẩm nghệ thuật là điều cực kỳ hiếm hoi, trừ phi anh là quý tộc. Mà họ lại chẳng mất xu nào, nên cũng khó mà than phiền. Nhưng Holo thì vẫn có cả tá điều để nói.

Từ góc nhìn của Lawrence, nếu Holo không hài lòng thì việc được vẽ miễn phí cũng chẳng còn ý nghĩa. Mọi chuyện này vốn cũng là vì cô mà.

Holo sẽ còn sống hàng trăm năm nữa. Cô đã ghi lại từng khoảnh khắc đời thường vào nhật ký để lưu giữ cho tương lai. So với chữ viết, vốn có giới hạn trong biểu đạt, một bức tranh có thể lưu lại hình ảnh họ lúc này một cách chân thật hơn nhiều.

Đó là lý do Holo lúc đầu rất phấn khởi khi biết mình sẽ được vẽ vào tranh. Dĩ nhiên, việc được họa sĩ vẽ lại chân dung là một trải nghiệm mới lạ đầy thú vị với cô.

Sau khi nhận một trong những bản phác họa, Holo đã ngắm nhìn nó đến mức gần như dí mũi vào tranh đến nỗi suýt dính than. Nhìn nụ cười nở trên môi và cái đuôi xinh xắn bắt đầu ve vẩy là đủ hiểu cô đang nghĩ gì.

Thế mà từ hai ngày trước, cô bắt đầu nhìn bản phác với ánh mắt đầy nghi hoặc, như thể có gì đó khiến cô không vừa ý.

"Phải thừa nhận, tranh vẽ rất khéo, khó mà gọi là tồi được."

Theo Lawrence, họ trong tranh còn đẹp hơn cả ngoài đời, nhưng nếu nói ra thì chắc bị xé xác mất, nên anh chọn cách im lặng.

Không rõ Holo có biết anh nghĩ gì không, nhưng cô vẫn khẽ thở dài qua mũi.

"Vẻ đẹp của em được thể hiện rất rõ, không thể phủ nhận. Nhưng bức tranh này sẽ còn tồn tại hàng thế kỷ. Bao người sẽ ngắm nhìn nó, có kẻ thậm chí biết rõ em. Nếu tất cả những gì bức tranh lưu lại chỉ là nhan sắc này, thì oai phong của Hiền Giả Sói còn đâu nữa!"

Cô chống hai tay lên hông, phụng phịu. Động tác đó khiến cô trông càng trẻ con hơn cả trong tranh.

Holo có thể rất trẻ con, bất chấp hàng thế kỷ tuổi đời.

Lúc mới quen nhau, Lawrence từng nghĩ cô chỉ đang cố đóng vai phù hợp với vẻ ngoài của mình. Nhưng sau khi điều hành nhà tắm ở Nyohhira và tiếp xúc với nhiều khách lớn tuổi quyền lực, anh nhận ra một điều: càng già, người ta càng cư xử như trẻ con.

Huống chi đây lại là một con sói sống đã trăm năm.

"Em nói thế cũng đúng, nhưng chủ đề và bố cục tranh đã định sẵn từ đầu rồi. Em thấy họ làm việc mà, đúng không? Một chủ tiệm tắm như anh làm gì dám góp ý. Mà quy mô dự án này lớn thật đấy."

Bức tranh là đơn đặt hàng từ một tập đoàn thương nhân giàu có đến từ khắp nơi, tất cả đều tham gia vào buôn bán trứng cá trích ở cảng Atiph. Thị trường này rất nhiều biến động, chẳng khác gì trò đỏ đen hợp pháp, đến mức cứ đến mùa cá trích là thương nhân lớn khắp nơi lại kéo về.

Tình trạng này đã thu hút sự chú ý của một linh mục trẻ muốn dẹp bỏ những thói hư tật xấu giữa lúc Giáo hội đang cải cách trên diện rộng. Đúng lúc mọi người chuẩn bị đặt cược và háo hức mong chờ, thị trường bỗng đóng băng. Chính Lawrence với đầu óc nhanh nhạy và Holo với bàn tay giúp sức đã khiến vị linh mục thay đổi suy nghĩ.

Việc đặt vẽ bức tranh cũng là một phần trong kế hoạch đó, nhưng đây không phải kiểu tranh ký họa vội vàng để trưng trong khung rồi xong. Đây là một dự án hoành tráng: người ta quét vữa lên một bức tường trong sàn giao dịch trứng cá, rồi vẽ bức bích họa khổng lồ lên đó. Tính cả nghệ nhân và học trò, có hàng chục người đang tham gia.

Hiện tại, giàn giáo phủ khắp nơi trong tòa nhà nơi bức tranh đang thi công. Thợ xây và thợ mộc trong vùng đều được huy động, làm việc dưới sự chỉ đạo của hiệp hội nghệ nhân.

Một công trình đồ sộ thế này mà hoàn thành thì chắc chắn sẽ nổi danh khắp nơi.

Lawrence cũng chẳng hiểu mình, một ông chủ nhà tắm bình thường sẽ mở miệng thế nào để nói rằng, Vợ tôi không muốn bị vẽ dễ thương quá mức và chỉ thế thôi đâu…, trước một dự án đồ sộ tốn kém đến thế.

"Nhưng chẳng phải anh vẫn luôn nhận làm những chuyện không tưởng vì lợi nhuận lớn sao?! Mà em chẳng phải là bạn đồng hành quý giá nhất của anh à?! Còn gì quý hơn niềm vui của em chứ?!"

Holo chỉ tay vào anh một cách dữ dội, nhưng Lawrence chỉ nhún vai:

"Thì đúng là anh vẫn hay bị mắng vì mấy trò làm giàu nhanh mà."

Mà người mắng anh không ai khác chính là Holo, với lối suy nghĩ bất ngờ thận trọng.

"Vả lại, trông em trong tranh vẫn rất oai mà."

"…"

Đôi tai thính nhạy của Holo không bao giờ để lọt lời nói dối.

Cách cô mím chặt môi cho thấy rõ ràng cô biết Lawrence không nói dối. Nhưng chính vì không hiểu sao anh lại không nói dối mới khiến cô nghiến răng đến mức mặt mày cau có.

Lawrence khẽ cười rồi tiết lộ bí mật:

"Ít nhất với anh thì—mỗi lần nhìn bức tranh này, mặt anh lại cứng đờ."

Dù gì thì chuyện họ bị cuốn vào rắc rối dẫn đến bức tranh này cũng bắt nguồn từ việc Lawrence suýt đặt cược vào thị trường trứng cá. Thêm vào đó, Holo lại đắm chìm trong công việc làm thêm cô mới tìm được, còn làm rất hăng say trong lúc vụ việc xảy ra. Thế là quá đủ để anh toát mồ hôi hột.

Tóm lại, anh là gã chồng vô tích sự đã đem số tiền vợ mình tằn tiện tích cóp từ việc làm ăn đàng hoàng đi ném vào trò đỏ đen.

"Anh toàn lừa em thôi!"

"Mười năm chung sống với nhau rồi. Anh cũng biết vài chiêu để đối phó em chứ."

"Đồ ngốc!"

Lawrence thì thầm, "Anh quả đúng là đồ ngốc," rồi nhún vai, nhìn ra cửa sổ khung gỗ.

"Mà thôi, mình đi tìm chỗ ăn tối đi? Thợ thuyền đang đổ về thị trấn đông lắm, chậm chân là tới tối chỉ còn cháo lúa mì với tỏi sống thôi đấy."

Cả hai từng sống đời lữ hành trước khi mở tiệm tắm, nên Holo hiểu rõ điều đó. Nếu cứ mải cãi nhau thì có khi bữa tối chỉ còn cháo nhạt với tỏi sống thật.

"Hừm. Coi như anh vừa thoát chết trong gang tấc đấy!"

"Chắc không sống lâu đến kỳ thanh toán tiếp theo đâu ha."

Holo nhướng mày rồi đập mạnh vào lưng Lawrence một cái. Sau đó, cô kéo áo choàng trùm đầu, nhét cái đuôi đang ve vẩy của mình vào trong rồi lầm bầm đi theo.

~~~

Thị trấn cảng Atiph nơi Lawrence và Holo đang lưu trú từ lâu đã là một trung tâm buôn bán sầm uất, nhưng dạo gần đây lại càng trở nên náo nhiệt hơn bao giờ hết. Quảng trường chính đông nghẹt người từ nơi khác kéo đến, bị cuốn hút bởi bầu không khí nhộn nhịp nơi bến cảng. Cả những nông dân quanh vùng cũng đổ về, mang theo lợn gà để bán, đồng thời muốn mua ít cá đem về. Và để bức tranh ấy thêm phần náo nhiệt, từng đoàn thuỷ thủ và phu khuân vác không ngớt ra vào bến tàu.

Với lượng người đổ về quá lớn, thức ăn ở các quầy hàng bị mua sạch với tốc độ đáng báo động, đến mức Lawrence và Holo phải chia nhau đi kiếm bữa tối. Là một phụ nữ xinh đẹp duyên dáng, Holo thường được đối đãi ưu ái mỗi khi đi mua đồ ăn, nên cô đảm nhận việc lượn qua các sạp bán cá và thịt cừu, còn Lawrence thì đi kiếm rượu.

Anh chọn một sạp chuyên bán rượu lẻ, nơi khách hàng chen nhau tranh mua từng thùng từng vò. Quả không sai khi có câu Ăn mà không có rượu thì chẳng còn vị gì. Cuối cùng thì Lawrence cũng xoay xở mua được một ít.

Vừa loạng choạng bước đi, anh đã nghe thấy một giọng quen thuộc gọi vang lên:

“Bên này, anh yêu! Bên này nè!”

Với đôi mắt tinh tường, Holo đã nhanh chóng chiếm được một góc bàn đứng nằm trong con hẻm giữa hai quán trọ.

“Ồ hô, rượu thơm phức đấy. Em cũng đang phát chán với thứ rượu táo núi rồi.”

Holo vốn thích loại rượu chua làm từ quả lý gai hay các loại trái rừng khác, nhưng với bữa ăn có cá chiên giòn và thịt cừu vẫn còn xèo xèo nóng hổi thế này, thì rượu lạnh hay vang là lựa chọn hiển nhiên.

“Không có bia à?”

Cô hỏi ngay, chẳng ngoài dự đoán.

“Cái thứ anh vớt được đây cũng là hàng đắt đỏ đấy. Người ta gần như đánh nhau để tranh mua cho được mấy loại bia hay rượu táo rẻ tiền.”

Holo chẳng hề cho rằng anh đang nói quá. Chỉ cần một cái vẩy tai ẩn dưới mũ trùm là cô đã đủ biết khung cảnh ngoài cảng náo nhiệt đến chừng nào. Nếu có nghĩ gì, thì chắc cô đang nghĩ rằng Lawrence cũng giỏi xoay xở đấy chứ.

“Trông anh gom được khối chiến lợi phẩm nhỉ. Nhìn cũng hoành tráng ra phết.”

Lawrence vừa nói vừa cầm lấy một xiên thịt cừu thì Holo đã khui nắp rượu. Anh không khỏi mỉm cười khi thấy cô tu ừng ực từ chiếc thùng rượu to bằng cả khuôn mặt mình. Mặc dù anh định dành số rượu này cho vài ngày tới, nhưng dạy dỗ cô lúc này thì cũng chỉ vô ích.

Đám đàn ông ở các bàn lân cận nhìn chằm chằm đầy ngạc nhiên khi thấy Holo ngửa cổ uống một hơi. Đến lúc cô buông vò rượu ra, thở phào khoan khoái “Haaaah!” và nở nụ cười rạng rỡ, thì cả đám đồng loạt vỗ tay hò reo.

Cái cách Holo ăn uống luôn làm khán giả xung quanh thích thú mỗi khi hai người đi đến đâu đó, có lẽ vì nó trái ngược hẳn với vẻ ngoài của cô—nếu ngồi yên lặng, trông cô chẳng khác gì một nữ tu đang hành hương. Lawrence không nhớ bao nhiêu lần anh đã muốn biến chuyện này thành một màn trình diễn có bán vé để kiếm thêm tiền ăn.

“Ợ. Ừm, rượu ngon đấy,” Holo vừa nói vừa liếm mấy giọt rượu tràn ra khóe miệng rồi gắp lấy miếng cá chiên. Mặc dù trước đây cô từng kêu ca rằng cá chẳng bao giờ khiến bụng cô thấy no, nhưng kể từ khi sống ở thị trấn cảng, cô đã dần mê mẩn hương vị hải sản tươi sống—tất nhiên cá muối thì vẫn là chuyện khác. Lawrence liếc nhìn cô từ khoé mắt, rồi nâng vò rượu lên, để mặc hương nho lan tỏa khắp khoang mũi.

“Chà, em kiếm đồ ăn dễ thật đấy.”

“Hử?”

Lawrence vừa cắn miếng cá chiên giòn tan vừa ngước mắt lên khi nghe Holo cất tiếng.

“À, em đang kể chuyện kiếm đồ ăn chứ gì.”

“Ừ. Em cứ đứng rụt rè ở mép đám đông, thì một gã to như gấu tiến tới, nhấc bổng em đặt lên vai, rồi quát mấy người khác tránh ra. Em đứng trên vai gã, gọi món xong thì đưa cho gã một xiên thịt để cảm ơn, gã vui thấy rõ.” Cô kể lại bằng giọng đầy tự mãn.

Dù diễn vai nữ tu đi mua thức ăn rất ra dáng, nhưng Holo vẫn ranh mãnh như thường. Lawrence thừa biết rằng nếu anh có lộ ra một chút ghen tuông vì cảnh vợ mình cưỡi vai người đàn ông khác, thì thế nào cô cũng sẽ vẫy đuôi khoái chí rồi lao đến trêu chọc ngay.

Vì thế, anh đành giả vờ như chẳng hề để tâm và phản đòn.

“Em cũng biết tận dụng vẻ đáng yêu của mình nhỉ, dù trước đó cứ kêu ca chuyện bức tranh cơ.”

Vừa chuyển từ cá sang thịt, Holo cắn miếng thịt, ánh răng nanh sắc loáng.

“Đồ ngốc. Em chỉ kêu vì sợ người ta nghĩ em chỉ có mỗi cái mã thôi.”

“…Vậy à?”

Lawrence thở dài, với tay định lấy vò rượu thì Holo nhanh tay chộp lấy trước.

Ực, ực... phì! Mà mấy hôm nay anh cứ để em ở phòng một mình ban ngày, anh đi đâu vậy hả?”

Các món ăn ở đây có vị khá mặn, có lẽ vì biển gần sát vách, nên càng khiến người ta khát. Sợ Holo uống nhiều lại đau bụng, Lawrence chuẩn bị sẵn bánh mì lúa mạch rồi vừa trả lời vừa xé bánh, “Anh đi đổi tiền.”

“Ồ?”

Anh khoét một lỗ giữa ổ bánh mì, nhét vào đó vài miếng thịt cừu xiên, một lát phô mai, thêm ít sốt hạt cải, rồi đặt phần bánh kẹp hoàn chỉnh trước mặt Holo. Nếu không bị nhắc nhở, thể nào cô cũng chỉ ăn toàn thịt. Một trong hai tai ẩn dưới mũ trùm khẽ giật khi cô mở ổ bánh ra, nhét thêm vài lát thịt nữa rồi mới cắn một miếng lớn.

“Lúc rời Nyohhira, anh mang theo một khoản lớn, nhớ không? Giờ gặp được giám mục ở đây, anh định nhờ mối quan hệ của ông ta để đổi thành tiền lẻ.”

Thời buổi phồn thịnh kéo theo việc khan hiếm tiền xu, khiến chuyện buôn bán trở nên khó khăn. Khi rời khỏi Nyohhira, Lawrence đã bị giao nhiệm vụ phiền phức là tìm cách đổi lấy thật nhiều tiền lẻ.

“Mn. Măm, măm...ực. Mà sao ngày nào anh cũng đi? Không xong trong một chuyến được à?”

“Người ta cũng có nhu cầu như mình, nên xếp hàng dài dằng dặc. Anh đứng từ ba hôm trước, đến hôm nay mới gặp được.”

Dòng người xếp hàng dài đến mức lính canh phải phát thẻ gỗ mỗi chiều để hôm sau giữ nguyên thứ tự. Lawrence tranh thủ ngủ một giấc ở quán trọ, rồi hôm sau lại tiếp tục đứng.

Thậm chí, đã có kẻ mở dịch vụ đứng hộ để kiếm tiền boa. Lawrence chỉ còn biết nhẩm niệm câu thần chú tiết kiệm rồi kiên trì đứng một mình.

“Ra vậy nên nửa đêm anh cứ rên rỉ vì chuột rút. Đúng là lố bịch.”

“…Em nói đúng thật. Giờ mà được ngâm mình trong suối Nyohhira thì tuyệt. Mà khổ nhất là đến giờ vẫn chưa đổi được xu nào.”

“Hử? Nhưng chẳng phải anh bảo xu lẻ đều nằm trong thùng quyên góp của Giáo hội sao?”

“Đúng. Nhưng ai cũng biết chuyện đó. Nếu cả đám kéo nhau đến đòi đổi thì người ngoài như mình không có phần đâu.”

Chạy đến chỗ người đổi tiền thì dễ thôi, nhưng phí họ đưa ra chắc chắn trên trời. Bản thân bọn đổi tiền cũng có thể đang phải mua xu từ Giáo hội với giá cắt cổ.

“Rốt cuộc anh lại quay về trắng tay; ngày em gọi anh là phu quân đáng kính chắc còn xa lắm.”

“Như thể em từng định gọi anh như vậy vậy. Mà nếu em đột nhiên đổi tính, gọi anh ngọt xớt, chắc anh nổi da gà mất.”

Holo nhe răng cười ha hả, tâm trạng tốt hẳn sau khi men rượu ngấm vào máu.

“Thôi thì, tuy không đổi được gì, nhưng cũng có manh mối dẫn đến một cơ hội.”

“Ồ?”

Lawrence lấy từ túi áo ra một mảnh giấy, mở ra trên bàn. Đó là bản đồ khu vực.

“Những nơi đổi tiền thì ai cũng biết, nên tranh nhau ghê lắm. Giờ thì phải làm sao nào?”

“Dễ thôi. Mình chỉ cần đến chỗ không ai biết.”

“Chính xác.”

Lawrence xoay cây xiên thịt còn vài miếng về phía Holo, cô cúi người qua bàn gắp lấy.

Om, nom... Nhưng liệu có chỗ nào tiện như thế không?”

“Không nhiều, nhưng vẫn có. Và muốn vào được thì phải có quan hệ. Mà anh thì có đấy.”

Holo chẳng buồn để ý đến vẻ tự hào của Lawrence, chỉ tiếp tục nhai bánh mì và nhìn bản đồ.

Đã quá quen với thái độ xỏ xiên của cô, Lawrence vẫn bình thản nói tiếp:

“Em nhớ ông lão thương nhân quý tộc từng giúp mình vụ trước không?”

“Có. Ăn mặc sang trọng lắm, đúng là đàn ông ra dáng, chả như gã thương nhân lưu động nào đó đâu.”

“…Ahem. Ông ấy từng chỉ huy tàu buôn cho một hội thương nhân quyền lực, một thời được gọi là đô đốc. Ông ta đã dùng ảnh hưởng để giới thiệu mình và chuyển lời nhờ từ phía giám mục.”

“Ồ?”

Lawrence đặt ngón tay lên Atiph, nơi hai người đang ở, rồi trượt xuống dưới bên phải.

Đó là một đồng bằng lớn, vùng đất được mệnh danh là vựa lúa.

Ngón tay anh dừng lại nơi chân núi, giữa vùng đồng cỏ và khu vực ven biển.

“Phía đông nam nơi này có một thành trấn lớn nối liền lục địa và duyên hải. Dân ở đó sống nhờ buôn ngũ cốc chất lượng cao.”

“Hừm, nghe hay đấy. Cơ mà lúa mì của em vẫn là ngon nhất.”

Holo huých túi vải đeo trước ngực, rồi kiêu hãnh hít mũi.

Thấy cô đã ngà ngà say mà cuộc nói chuyện còn dài, Lawrence tiếp tục giải thích:

“Giờ là mùa cao điểm, thương nhân buôn lúa đổ về như kiến, nên họ đã mở một phiên chợ lớn.”

“Ồ hô, càng hay!”

Holo tươi rói như hoa, Lawrence cũng cười đáp lại, rồi trượt ngón tay về phía tây nam khỏi thành trấn lớn.

“Nhưng chỗ mình tới lại là đây, từ thị trấn tổ chức hội chợ đi về phía tây nam. một giáo phận nhỏ nằm sát đường núi ít ai qua lại.”

Vẻ rạng rỡ của Holo vụt tắt như bị hắt tro vào mặt.

Trước cảnh ấy, Lawrence cố giữ cho đôi môi không cong thành nụ cười rồi tiếp tục:

“Giáo phận này có quan hệ mật thiết với nhà thờ chính tòa bên đây, gần như là nhà thờ chị em. Nhưng người địa phương gặp rắc rối trong chuyện buôn bán và giấy tờ, và dù họ muốn tìm một thương nhân đến giúp, hầu hết đang bị chuyện kinh doanh riêng làm cho bận tối mũi ở thời điểm này rồi. Họ đã yêu cầu một thương nhân không chỉ uy tín mà có năng lực, nên anh trở thành một lựa chọn khả dĩ.”

Anh vừa nói vừa lén nhìn sang thì thấy Holo vì cơn say đã ngấm mà hai mắt đã khó còn mở nổi. Cô cứ thế mơ hồ nhìn vào hư không, mặt đỏ lựng lên trong khi miện còn đang khẽ nhai miếng cá khô. Lawrence thở dài, bèn lấy cốc rượu khỏi bàn, đặt dưới chân.

“Nếu em muốn thưởng thức hội chợ thương mại náo nhiệt...”

Đôi tai sói dưới mũ trùm của Holo khẽ giật, ánh men trong mắt cô cũng nhạt đi đôi chút khi anh tiếp lời:

“...thì mình phải nhanh chóng giải quyết xong chuyện ở giáo phận. Nếu để đến khi hội chợ kết thúc, mấy tay buôn khác thế nào cũng sẽ nhúng tay vào.” 

Holo đang chăm chú nhìn bản đồ thì từ từ nhắm mắt lại, rồi gật đầu thật mạnh.

“Xem ra mình phải đi sớm thôi...”

“Em hiểu như vậy là anh mừng lắm. Vậy thì bức tranh không còn vấn đề gì nữa, em cũng không ngại nếu mình lên đường luôn chứ?”

Holo quay sang nhìn Lawrence, đôi mắt đỏ hoe vì rượu. Cái cau mày bực bội—giống như khi mọi thứ không ở đúng vị trí—là vì cô đang cân nhắc giữa một hội chợ mà cô vẫn chưa kịp khám phá và việc ở lại thị trấn này để tiếp tục loay hoay với bức tranh và ăn cá chiên cho thỏa thích.

“Thế nào?” Lawrence hỏi. Holo khẽ thở dài, gật đầu, rồi bất chợt hắt hơi một cái rõ to.

~~~

Ngay sáng hôm sau, sau khi Holo say bí tỉ và được Lawrence cõng về quán trọ, họ đã lên đường. Dù đã lâu rồi không còn những chuyến hành trình dài ngày, cả hai vẫn luôn giữ thói quen sẵn sàng rời đi bất cứ lúc nào.

“Ài... cá tươi đánh từ biển vào ngon bất ngờ đấy chứ... Hay là mình nên ở lại lâu hơn chút nữa đi.”

Vào một ngày bắt đầu hành trình, thời tiết thật chẳng chiều người đi đường. Gió lạnh buốt thổi từ phía tây ùa đến.

Holo ngồi co mình trong thùng xe chất đầy hàng hóa, chiếc khăn choàng len phủ ngang vai. Vừa viết nhật ký như thường lệ, cô vừa lẩm bẩm:

“Thị trấn có hội chợ thương mại ấy nằm dưới chân dãy núi chia cắt vùng đồng bằng trù phú với đường bờ biển. Từ đồng bằng lẫn núi, từ phía bắc và phía nam, đông và tây, mọi sản vật đều đổ về đó, bởi vậy mà hoa quả ở đấy ngon chẳng kém gì trên núi.”

Lawrence vừa điều khiển cương xe, vừa nói thêm:

“Tất nhiên rồi, rượu làm từ những loại trái cây tuyệt hảo ấy thì không thiếu, mà đã là trung tâm buôn bán ngũ cốc thì thợ làm bánh cũng đầy rẫy. Chắc chắn sẽ có đủ loại bánh trái thơm lừng dùng cả đống trái cây thôi.”

Tiếng sột soạt nhẹ vang lên như tiếng chổi quét, có lẽ là đuôi của Holo đang vẫy vì háo hức.

Lawrence khẽ bật cười thì bất ngờ bị đánh vào gáy một cái rõ đau.

“Á! Này, đánh anh làm gì hả?”

“Đồ ngốc! Là vì anh lại dùng đồ ăn để dụ em!”

“Anh không nói vậy để dụ đâu. Chỉ là vì sắp tới hành trình hơi chán, nên nghĩ rằng nếu có gì đó để mong chờ ở đích đến thì em sẽ dễ chịu hơn một chút.”

“Rồi thì anh lại bắt em tiết kiệm dù đã chịu khổ xong xuôi! thôi”

Lawrence suýt thì nói, Em từng tiết kiệm bao giờ đâu mà lo?, nhưng nghĩ lại thì cô đã làm việc chăm chỉ ở Atiph và cũng có phần tiền của mình, nên dù bản tính thương nhân không cho phép anh quên chuyện tiền nong, anh cũng không buông lời châm chọc như trước kia nữa.

“Anh đã tính toán đầy đủ tiền em kiếm được từ công việc vừa rồi, cộng cả khoản thắng cược vụ trứng cá trích nữa. Lần này mình dư dả, không cần khắt khe chuyện tiêu xài đâu. Em cứ thoải mái mà tận hưởng.”

“Hứ,” Holo hừ một tiếng rồi nhanh nhẹn nhảy lên ghế đánh xe ngồi cạnh anh.

Vì chưa đi được bao xa từ Atiph, nên đường vẫn còn nhiều người qua lại.

Tuy họ vẫn cẩn trọng không để ai thấy tai hay đuôi của Holo, nhưng vì hôm đó trời nhiều mây, lạnh như mùa đông đến sớm, nên người ta mặc toàn da lông dày. Đuôi của Holo thò ra từ dưới áo choàng chỉ khiến người ta tưởng đó là một vật phẩm độc lạ cô ôm để làm ấm người mà thôi.

Ngồi bên cạnh Lawrence, Holo lục lọi, chỉnh lại lớp len dưới người và trên vai giống như một chú chó con đang xoay chỗ nằm để tìm tư thế ưng ý. Lawrence nhìn cô, thầm cười trước sự cầu kỳ đó, và khi cuối cùng cô đặt cái đuôi mượt mà của mình lên đùi, Holo cất tiếng, “Hay là em kiếm thêm ít tiền bằng cách cho thuê đuôi nhỉ?”

Cái đuôi ấy thực sự rất mềm, rất mượt. Holo chải chuốt mỗi ngày, lại còn thoa dầu thơm. Vì hấp thụ nhiệt từ cơ thể cô, nên vào những ngày lạnh thế này, đó là thứ ấm nhất trên đời. Có hay không có đuôi dưới chăn đùi, cảm giác khi đi đường khác nhau một trời một vực.

“Tham vừa thôi chứ...”

Lawrence thở dài khi cô phá lên cười khanh khách, rồi giục ngựa tiến bước.

“Thôi thì... dù em không cho thuê đuôi, có khi anh vẫn cần em giúp vụ lần này. Nếu em chịu hỗ trợ, anh hứa sẽ hậu tạ đàng hoàng.”

“Ồ?”

Có vẻ đã chán trò đùa lúc nãy, Holo chải đuôi một lần cuối rồi nhét nó lại dưới chăn đùi của hai người.

“Vậy vụ lần này là gì? Hôm qua em uống hơi quá tay nên nhớ không rõ mấy.”

Lawrence mấp máy môi, Hôm qua còn gọi là hơi quá à…, nhưng thay vì nhắc lại chuyện anh phải cõng cô về phòng khi cô ngất ngư, anh đáp:

“Vẫn là ở Atiph thôi—cuộc náo động mà Col và Myuri đã gây ra ấy.”

Holo ngoái đầu nhìn về phía Atiph, thị trấn đang dần khuất xa, rồi quay lại nhìn Lawrence.

“Từ xưa, các nhà thờ và tu viện đã quen tích trữ của cải. Ban đầu không phải vì tham lam, mà vì họ muốn làm việc thiện với của cải được người ta gửi gắm. Nhưng rốt cuộc, phần lớn đều trở nên thối nát. Rồi thì họ bắt đầu trọng kẻ biết buôn bán, để rồi những kẻ còn giỏi hơn cả lái buôn cũng trở nên lộng quyền, khiến mọi thứ càng rối hơn.”

Holo gật đầu, ngáp dài, rồi dụi mắt vào vai Lawrence. Trông như thể chẳng muốn nghe thêm gì, nhưng tai cô dưới mũ trùm vẫn khẽ động, cho thấy cô vẫn đang lắng nghe.

“Vì những vấn đề đó ngày càng nghiêm trọng, nên giờ Giáo hội đang điều chuyển các chức sắc lớn để xoa dịu sự bất mãn trong dân, nhất là ở mấy vùng có xu hướng nổi loạn. Nhưng điều đó lại gây thêm phiền phức.”

“Ừm. Em bắt đầu hình dung được rồi. Họ chỉ thay người quản lý, nhưng em đoán là vẫn chưa nghĩ đến bước tiếp theo nhỉ.”

Ánh mắt Holo lơ đãng như đang tìm khô bò hay gì đó tương tự.

Chẳng mấy chốc cô đoán được món đó để ở thùng xe phía sau, bèn bĩu môi.

“Chính xác. Để chứng minh với dân rằng họ thực sự cải cách, Giáo hội lại bổ nhiệm mấy người cực đoan vào chức vụ mới, khiến vấn đề càng phức tạp.”

“Col thông minh thật, nhưng chuyện buôn bán thì chắc cậu ta không rành. Mấy cậu trai trong thị trấn vừa rồi định bắt chước cậu ấy, tự dấn thân vào chuyện buôn bán trong thị trấn mà họ còn chưa hiểu rõ là vì thế phải không?”

Họ có cảm giác rằng cậu linh mục trẻ ở Atiph, người muốn áp dụng sự cứng rắn nhân danh giáo lý, thậm chí còn bắt chước cả cách nói của Col.

Do thắc mắc về liệu Col và Myuri đã thu hút được bao nhiêu sự chú ý trên khắp nơi, Holo và Lawrence từng thử gom góp các câu chuyện về hành trình của chúng, và càng nghe càng không biết nên tin phần nào. Giai thoại được thêm thắt đến mức chẳng biết đâu là thật. Sau khi chiến tranh giữa dân ngoại giáo và Giáo hội kết thúc, thiên hạ yên bình lại khiến người ta thèm chuyện giật gân để đàm tiếu.

Myuri thì rất thích gây chú ý, còn Col thì chắc đang mệt lử vì tất cả những điều đó.

Lawrence nhún vai, Holo lại ngáp dài lần nữa.

Nói cho cùng, Holo chỉ có hai trạng thái là ăn và ngủ.

“Óaaap... Nhưng mà vụ này, anh đâu cần đến sức em làm gì đâu.”

“Thì anh cũng mong là không cần dùng đến.”

Vừa dứt lời, cô đã rút đuôi ra khỏi chiếc chăn đang phủ đùi.

“Này, anh không có ý là không muốn thưởng cho em đâu.”

Holo liếc anh một cái đầy nghi ngờ, rồi miễn cưỡng nhét đuôi lại.

“Trời ơi... Em làm ơn đừng lấy đuôi ra làm con tin nữa.”

“Anh đúng là thích bị vợ bắt nạt quá nhỉ?”

Holo nhịn cười, còn Lawrence thì thở dài. Cô ăn, uống, ngủ đã đời hôm trước nên hôm nay thừa năng lượng đùa giỡn.

“Dù sao thì, chuyện rắc rối lần này là do linh mục mới phát hiện ra một mảnh đất kỳ quặc khi kiểm tra giấy tờ tài sản của giáo phận.”

“Là chỗ nào thế?”

Lawrence quay sang nhìn hóa thân của sói già hàng trăm năm tuổi và đáp, “Một ngọn núi bị nguyền rủa, nơi người ta đồn là có thiên thần sa ngã trú ngụ.”

◇◇◇

Giáo phận Vallan chính là cái tên được nhắc đến trong bức thư.

Nơi ấy nằm trong một vùng đất hẻo lánh gần như không có người ở, nhưng vì có một con đường—dù thực chất chỉ là một lối mòn do thú rừng qua lại—nối sang khu chợ lớn bên kia núi, nên họ mới miễn cưỡng cầm cự được.

Thế rồi, vào một ngày nọ, một thương nhân vô cùng giàu có trong lúc băng qua khu vực này đã nghỉ lại ở một quán trọ tồi tàn do một nông dân điều hành và trút hơi thở cuối cùng tại đó. Người thương nhân ấy nổi tiếng keo kiệt, đã cố đi đường vắng để khỏi mất tiền thuế lộ phí trên đường đến hội chợ lớn. Thế nhưng, vào giây phút cuối đời, ông ta hối hận vì đã sống quá hà tiện nên để lại toàn bộ tài sản cho người nông dân đã chăm sóc mình. Tâm nguyện duy nhất của ông là hãy xây dựng một nhà thờ tại đây.

Nếu số tiền để lại chỉ là vài đồng vàng lẻ còn sót lại trong túi, có lẽ người nông dân đã lẳng lặng bỏ túi cho riêng mình. Thế nhưng, đó lại là một gia tài khổng lồ, đủ để dựng nên cả một tòa thành.

Người nông dân cho rằng đó là sứ mệnh Thiên Chúa giao phó, nên đã hết lòng thực hiện di nguyện bằng cách triệu tập giáo sĩ địa phương, xây nhà thờ, cải tạo đường sá, mua lại đất đai và xin mọi loại giấy phép cần thiết để bảo đảm tài sản được sử dụng đúng mục đích.

Dường như nhờ con mắt tinh tường của người nông dân vốn ngày ngày chăm chỉ làm ruộng, hoặc giả có sự dẫn lối của thần linh, người ta phát hiện trong vùng đất vừa mua có trữ lượng muối đá và quặng kim loại. Nhà thờ nhỏ ven đường ấy nhanh chóng thu được lợi nhuận khổng lồ, được nâng cấp thành một giáo phận độc lập, và xây dựng một thánh đường đồ sộ.

Vallan chính là tên của người nông dân huyền thoại ấy, sống vào khoảng hai trăm năm trước.

“Mình đã chọn sai chồng mất rồi.”

Hôm ấy là ngày thứ tư trên đường sau khi rời khỏi Atiph. Đó là lời Holo thốt ra trong lúc viết nhật ký, ghi lại những điều hai người đã nghe kể về giáo phận Vallan tại quán trọ đêm qua.

“Thật luôn đấy à? Mà này, Vallan ấy đã nhịn cả thịt lẫn rượu, làm việc từ tinh mơ cho đến quá nửa đêm. Nghe đâu ông ta còn bắt vợ con phải sống y hệt như vậy.”

Lawrence liếc sang Holo, người hôm trước lại một lần nữa uống no say ở quán trọ.

Holo, một tay cầm bút lông bằng ngón giữa và áp út, tay kia kẹp cây xúc xích giữa ngón cái và trỏ liếc qua liếc lại giữa anh và món thịt, rồi nhoẻn miệng cười.

“Em yêu anh.”

“Chỉ khi anh tiếp tục chu cấp thịt với rượu thôi chứ gì,” Lawrence thở dài, và Holo thì vui vẻ đụng vai anh như thể đắc thắng. “Ừ thì, dù câu chuyện có hơi được thêm mắm dặm muối, nhưng giáo khu ấy quả thật lớn lên như vậy. Trải qua bao thế hệ, họ luôn ra sức kiếm thật nhiều tiền. Nhưng nỗ lực ấy cũng chỉ duy trì được khoảng trăm năm là cùng.”

“Là vì cạn kiệt nguồn lợi sao?”

“Trước tiên, mỏ muối bị bỏ hoang vì nước ngầm tràn vào. Giờ mà chui xuống hầm mỏ, người ta bảo nó chẳng khác gì một hồ nước mặn ngầm.”

“Vậy thì dùng ướp đồ ăn là tuyệt vời chứ còn gì.”

“Cũng đúng,” Lawrence mỉm cười nhẹ, rồi kể tiếp những gì chủ quán trọ đã nói. “Vì dân số khi ấy tăng mạnh, giáo phận buộc phải dồn toàn lực vào buôn bán kim loại để xoay sở.”

Khuôn mặt Holo tối lại khi cô viết tiếp vào nhật ký; là một con sói sống nơi rừng thẳm, cô luôn căm ghét những mỏ khoáng phá rừng tàn hại.

“Và rồi nguồn ấy cũng cạn theo thời gian?”

Và cái ác đã bị tiêu diệt? là điều Holo muốn hỏi,và Lawrence chỉ khẽ gật đầu.

“Cái cạn đầu tiên không phải kim loại, mà là rừng.”

“…”

Gương mặt Holo thoáng buồn như công chúa khi thấy hiệp sĩ mình yêu thất thế trên đấu trường, rồi ánh mắt cô cúi trở lại trang nhật ký.

“Nghe đâu người ta khai thác quặng, tinh luyện, rồi đúc thành đồ thủ công ngay tại chỗ. Vì không bị ràng buộc bởi quy tắc công hội như trong các thị trấn lớn, rất nhiều thợ thủ công bị hấp dẫn bởi sự tự do ấy mà đổ về đây. Nơi ấy từng vô cùng phồn thịnh.”

Holo hậm hực thổi hơi qua mũi, nét bút cứ thế cào mạnh lên trang giấy.

“Nhưng luyện kim thì cần vô số nhiên liệu. Mỏ cần rất nhiều gỗ để làm xà chống, làm bánh xe nước để thoát nước. Người làm mỏ thì cần củi nấu ăn, gỗ dựng nhà.”

“Và thế là, sau khi đốn sạch rừng quanh vùng, họ nhận ra đất đai chẳng dễ gì hồi phục sau khi bị đầu độc bởi mỏ quặng.”

Holo chu môi như thể muốn nói, “Họ tự chuốc lấy thôi”.

“Thế là thị trấn khai khoáng từng phất lên như diều lại sụp đổ nhanh chẳng kém lúc phát triển. Chuyện đó chắc cũng phải bảy, tám chục năm trước rồi.”

“Ừm.”

Với Holo, đó chỉ là chuyện của hôm qua. Nhưng với Lawrence, thì là thời xa xưa trước cả khi anh chào đời.

“Khi không còn gỗ, không còn kế sinh nhai, mỏ cũng buộc phải đóng cửa. Sản lượng giảm mạnh. Không còn củi để luyện kim, họ đành vác những cục quặng nặng trịch đi bán tận các thị trấn xa. Lợi nhuận tụt dốc, người ta bỏ đi càng nhiều, vùng đất ấy chẳng mấy chốc biến thành thị trấn ma.”

“Và núi vẫn trọc trơ, đúng chứ?” Holo cau mày hỏi.

“Không, nghe đâu không phải vậy.”

“Hửm?”

Holo ngẩng lên, bất ngờ.

“Xem ra em chẳng nhớ gì cả nhỉ? Dù cứ khăng khăng Em không có say! cơ.’”

Dù tự nhận là con sói kiêu hãnh, vẻ mặt Holo lúc này lại trống rỗng như chẳng hiểu anh đang nói gì. Rõ ràng cô chẳng nhớ mình đã uống say đến mức nào.

Dẫu vậy, Lawrence hiểu rõ vì sao Holo chẳng bao giờ ăn năn chuyện uống nhiều. Đơn giản vì cô hiểu anh quá rõ—rằng anh thật ra cũng thích chăm sóc cô khi cô say.

Lawrence thở dài, nửa buồn cười nửa bất lực, rồi kể tiếp:

“Sau khi để lại những hầm mỏ cạn kiệt, những kẻ cháy túi buộc phải ở lại, cùng một ngọn núi trơ trọi. Rồi thì một nhóm giả kim sư đã xuất hiện.”

Holo, khi nãy còn quay đi trong dáng vẻ giận dỗi như cô nhóc được cưng chiều, giờ đã quay lại nhìn Lawrence bằng ánh mắt nghiêm túc.

“Cái cuốn sách cấm về kỹ thuật khai khoáng mà ta từng truy tìm hồi đó cũng do một giả kim sư viết, nhớ không?”

Chuyện thế giới được thần tạo dựng ra thì không bàn tới, nhưng từ thuở xa xưa, chính các giả kim sư là những kẻ chặt phá rừng nơi các linh hồn cổ xưa như Holo ngự trị, rồi sáng chế ra kỹ thuật trói buộc chúng dưới tay loài người.

Vì vậy, với Holo, danh xưng giả kim sư còn khó ưa hơn cả người chăn cừu.

“Nhưng mà, mọi chuyện bắt đầu kỳ lạ từ đây,” Lawrence nói, tay tranh thủ lấy miếng xúc xích trên đĩa gỗ cạnh Holo đưa lên miệng. “Thay vì dùng công cụ để lấy kim loại từ lòng đất, họ dùng phép thuật để tinh luyện.”

“Phép thuật á?”

Bản thân Holo đã là một truyền thuyết sống; từng có người hỏi cô rằng có thấy phù thủy trong rừng đen không, cô chỉ lạnh lùng đáp rằng những kẻ ăn nấm ảo giác có lẽ đã thấy cô.

Thế nhưng nếu lời chủ quán trọ kể là thật, thì mấy gã giả kim kia quả thực là phù thủy chính hiệu.

“Nghe đâu họ đã có thể luyện kim mà không cần củi.”

Holo sống mấy trăm năm đâu phải để chơi, và cô từng đặt chân đến vô số thị trấn trên đường phiêu lưu cùng Lawrence. Cô thông minh bẩm sinh, lại ít khi quên điều mình nghe thấy—trừ phi cố tình. Trước khi chấp nhận chuyện có phép thuật, cô đưa ra giả thiết khác.

“Không phải là bằng thứ than bùn hôi rình đó sao?”

“Than bùn thì đốt được, nhưng lửa yếu lắm. Với lại vùng đó đâu có mỏ than. Nhựa đường thì càng không.”

Nhựa đường là thứ chất lỏng đen đặc, được biết đến là nước bốc cháy. Thứ ấy rất đắt, nên Lawrence thường chỉ thấy người ta dùng nó để chống thấm cho thuyền hoặc công trình chứ không để đốt.

“Nghe nói bọn giả kim sư ấy tạo ra được phép luyện kim không cần lửa, rồi dùng nó để luyện chỗ quặng ít ỏi còn sót lại. Nhờ thế cứu được những người mắc kẹt lại vùng đất ấy. Nếu có thể luyện kim không cần củi, thì tiền vào như nước cũng chẳng quá lời. Hơn nữa, việc không cần đốt củi còn giúp cây cối trở lại trên đỉnh núi trọc.”

“Ừm.” Holo tỏ ra đặc biệt quan tâm câu cuối, rồi hỏi: “Thế rừng có thực sự mọc lại không?”

“Có đấy.”

“Ồ hô.”

Nét mặt đó đúng là một nụ cười rạng rỡ. Lawrence thấy lòng nhẹ bẫng khi nhìn cô cười tươi như thế, nhưng chính Holo cũng hiểu rõ chuyện chưa kết thúc ở đó.

“Nhưng nếu mọi thứ chỉ đơn giản là sống hạnh phúc mãi về sau, thì hẳn anh đã chẳng nói là có thể cần đến sức em rồi, đúng chứ?”

“Ừ. Và họ cũng đã chẳng gọi đó là ngọn núi bị nguyền rủa.”

Hàng mày thanh tú của Holo chợt nhíu lại, tạo thành nếp nhăn sâu giữa trán. Cô chớp mắt liên tục, như đang cố tìm sợi dây liên kết tất cả lại với nhau.

“Chẳng lẽ có người như nhóc Col cho rằng luyện kim không dùng lửa là tà thuật?”

Thứ gì đi ngược với lẽ thường của con người thì dễ bị gán là dị đoan hay báng bổ thần linh.

“Anh cũng từng nghĩ vậy, và vị giám mục từ Atiph, người đã nhờ anh nhận vụ này, xem ra cũng có suy nghĩ tương tự. Rằng kẻ đến ngọn núi ấy không phải là giả kim sư, mà là những thiên thần sa ngã tới để dẫn lạc con người.”

“Thế chẳng phải nghĩa là có sinh vật mọc cánh, đầu dê và chân ngựa đang lảng vảng trên núi sao?”

Đây là một con sói khổng lồ sống trong cánh đồng lúa mì, giờ lại đang bàn luận về những truyền thuyết quỷ dữ mà Giáo hội truyền miệng. Những sinh vật không phải người mà Lawrence từng biết đều là hiện thân của những loài động vật gần gũi hơn nhiều.

“Anh không nghĩ vậy. Nhưng nghe nói chúng vẫn xuất hiện trên núi.”

“Ý anh là gì?”

Lawrence nhớ lại cảnh ngồi lặng nghe chủ quán trọ nói chuyện dưới ánh nến, dù Holo lúc đó đã ngã lăn ra ngủ vì say.

Những lời thoát ra từ kẽ miệng phủ đầy ria mép và râu quai nón của người đàn ông ấy là như sau:

“Có thứ gì đó cố chấp ngăn cản không cho ai tiến vào ngọn núi. Kỹ thuật luyện kim không dùng lửa ấy vẫn còn đang ngủ yên ở đó. Ai nắm được bí kíp này thì chắc chắn sẽ nắm trong tay một gia tài kếch xù, nên từng có rất nhiều người tìm cách điều tra…”

“Nhưng không ai quay trở lại?”

“Không chỉ vậy, mà người ta còn nghe thấy tiếng chát chúa của dụng cụ va vào đá, và đêm nào cũng có hồn ma hiện về làm việc trong cái mỏ đã từ lâu cạn kiệt.”

Đây là một câu chuyện dân gian thường thấy, nhưng Lawrence biết nhiều điều mà người thường không biết.

Chẳng hạn như, có một con sói khổng lồ thỉnh thoảng vẫn lảng vảng trong các nhà tắm ở suối nước nóng Nyohhira.

Chuyện vượt ngoài sức hiểu của con người là có thể tồn tại.

“Chuyện ma quỷ thì chưa nói, nhưng nếu anh bảo là có ghi nhận về gì đó trên núi, thì em hiểu ý anh rồi đấy, phải không?”

Tai và mũi của Holo là của loài sói. Nếu cô nghiêm túc tìm kiếm, thì dù là sinh vật gì đi nữa, trên đỉnh núi cao nhất cô cũng lần ra được.

“Có thể là vậy…” Thế nhưng Holo đáp lại bằng giọng vòng vo, rồi đặt hai chân lên ghế xà ích, co gối lên sát người. “Nếu thật sự phát hiện ra điều gì đó, thì anh định làm gì?”

Đôi mắt cô ánh lên vẻ bất an. Em ấy không có sợ ma đâu nhỉ? Lawrence tự hỏi, nhưng rồi lập tức cảm thấy bực với chính sự ngây thơ của mình. Bởi sinh vật nào sống trên ngọn núi ấy hẳn cũng sống trong cùng một thế giới với Holo. Và nếu thế, hẳn chúng cũng có lý do riêng để tồn tại ở đó.

Chẳng hạn như, biết ơn những giả kim sư đã hồi sinh cánh rừng nên vẫn tiếp tục bảo vệ những gì họ để lại đến tận ngày nay.

Dù hành xử thường ngày chẳng giống chút nào, nhưng Holo là một cô gái nhân hậu và dễ bị tổn thương.

Cô hẳn là không nỡ bóc lớp vỏ lịch sử còn sót lại trên ngọn núi ấy.

“Anh hiểu cảm giác lo lắng của em, nhưng điều vị giám mục từ giáo phận Vallan muốn là thông tin xác thực để ông ấy quyết định bước tiếp theo. Mà việc ông ấy đi tìm một thương nhân là dấu hiệu tốt. Nó có nghĩa là ông ấy muốn căn cứ vào lãi lỗ để đưa ra quyết định.”

Holo nhìn chằm chằm Lawrence, rồi từ từ nhắm mắt lại.

“Thế có nghĩa là cái miệng dẻo của anh sẽ có ích lần này?”

“Chà, còn tùy xem giám mục tin tưởng anh đến mức nào nữa.”

Holo hít sâu một hơi, rồi thở dài đầy vẻ bực bội.

“Chuyện này liệu có xong trước khi hội chợ lớn bên kia núi kết thúc không đấy?”

“Cái đó còn tùy thuộc vào thứ đang có trên ngọn núi ấy đã.”

Anh thoáng nghe một tiếng sói gầm phát ra khe khẽ từ cổ họng Holo, nhưng cô biết rõ đó là tất cả những gì anh có thể nói vào lúc này.

Chẳng mấy chốc, cô phì mũi, tựa má lên đầu gối, rồi ngồi co ro lại như một cô bé đang giận dỗi.

“Em đoán chuyện này sẽ chẳng có kết cục tốt đẹp đâu.”

Holo thường bi quan mỗi khi nghĩ đến tương lai—có lẽ vì cô đã quá lâu sống một mình trong cánh đồng lúa trước khi gặp Lawrence, hoặc cũng có thể vì đó là bản tính vốn có của cô.

Trái ngược hoàn toàn, Lawrence là một thương nhân chưa bao giờ biết rút kinh nghiệm, lúc nào cũng lạc quan tiến về phía trước với niềm tin rằng lần sau mình sẽ gặp vận may.

“Dù vậy, chỉ riêng chuyện bọn anh đến đó thôi cũng có thể giúp được điều gì đó cho kẻ hay thứ gì đang sống trên ngọn núi ấy. Em thử tưởng tượng xem, nếu không phải bọn mình mà là người khác đến thì sao.”

Chuyện giám mục tìm một thương nhân rõ ràng đồng nghĩa với việc khả năng từ bỏ hoàn toàn vùng đất đó vẫn đang được cân nhắc. Ông sẽ bán cho ai, bán bằng cách nào đều là những câu hỏi quan trọng với tương lai của cả vùng.

“Hơn nữa, nếu lại là một sinh vật không phải người mà em hợp cạ, thì bọn mình có thể mời về làm việc ở nhà tắm hơi cũng được chứ sao.”

“…”

Holo quay sang nhìn Lawrence với ánh mắt mỏi mệt, bởi cô biết anh đang nói đúng.

“Lúc nào anh cũng là đồ ngốc lạc quan.”

“Nếu không thì sao anh dám nắm tay em đi đến tận đây chứ?”

Holo nhìn anh với đôi mắt đỏ bình thản, rồi nở một nụ cười chịu thua.

“Ngốc thật mà.”

Lawrence nhún vai, siết lại dây cương, rồi điều khiển cỗ xe ngựa tiếp tục lăn bánh.

~~~

Dù đã rời khỏi sâu trong núi để xuống biển, giờ đây họ lại đang men theo những triền núi, dẫu là dãy núi khác, không phải nơi họ gọi là quê nhà.

Họ vốn đã quen với vách đá dựng đứng, rừng sâu hun hút và những khe núi bị đục khoét bởi suối ngầm khiến việc di chuyển trở nên khó khăn ở dãy Nyohhira. Thế nhưng cảnh vật trải ra trước mắt giờ đây giống như những ngọn đồi thoai thoải nối dài tưởng chừng bất tận.

“Cỏ cao mọc chen lẫn vài cụm cây rải rác cho thấy những vết sẹo kinh hoàng còn hằn trên đất. Đây là hậu quả khi người ta đốn rừng mà chẳng chút cẩn trọng đó.”

Đám cỏ lau xào xạc lay động trong gió thoáng trông giống như một cánh đồng lúa mì, điều này khiến người ta thấy buồn lòng. Trên những chuyến hành trình trước đây với tư cách là một người buôn dạo, Lawrence cũng từng bắt gặp những cảnh tượng tương tự ở những vùng từng bị lửa chiến tranh thiêu rụi.

Con đường trước mặt khá rộng và đã được người ta giẫm nát đến mức mòn nhẵn, và nếu phải đánh giá, thì Lawrence sẽ xếp nó vào hàng những con đường tốt nhất mà anh từng đi qua. Thế nhưng ngoài cỗ xe kéo của họ ra thì chẳng thấy một bóng người nào khác. Có lẽ tuyến đường này từng được hình thành khi việc khai thác muối đá và kim loại còn hưng thịnh, một tàn tích còn sót lại từ thời kỳ hoàng kim đã qua.

“Mảnh đất thật thê lương, chẳng đem lại thu hoạch gì. Nhưng cũng có thể là nơi thích hợp cho thỏ, rắn và cáo đến làm tổ đấy chứ.”

“Gần như khiến người ta muốn đốt sạch rồi cải tạo thành ruộng luôn cho xong.”

“Em không thấy có sông suối nào cả. Bởi vì ngọn núi nơi nguồn nước đã từng bị phá hoại đến thế, em nghi là kể cả có đào giếng thì cũng chẳng tìm được bao nhiêu nước.”

Đây đã là ngày thứ sáu kể từ khi họ bắt đầu chuyến hành trình bằng xe ngựa, và dù chủ đề trò chuyện đã dần cạn kiệt, nhưng sự im lặng giữa họ không phải vì mệt mỏi.

Holo ngồi trên ghế đánh xe, nhìn thẳng về phía trước, và Lawrence nhẹ nhàng đặt tay lên đầu cô. Dù bình thường cô sẽ gạt ra như thể đó là điều phiền toái, lần này cô chỉ lặng lẽ nghiêng vai tựa vào người anh. Những nơi từng một thời huy hoàng nhưng đã qua đi để lại một nỗi u sầu rất riêng, và nỗi buồn ấy càng trở nên nặng nề hơn trong lòng Holo, kẻ luôn cảm thấy mình bị thời gian bỏ lại phía sau.

Cuối cùng, họ cũng trông thấy một gò đất nhô lên giữa biển cỏ lau, thứ trông giống như một ngọn núi thật sự. Từ khoảng cách này thì khó mà nhìn rõ, nhưng đúng như lời người ta kể, ngọn núi ấy giờ đây không còn vẻ trọc lóc nữa.

Những công trình xây dựng bắt đầu lác đác xuất hiện hai bên đường, dù khá đơn sơ, nhưng đã có giếng nước, và những cánh đồng cỏ giờ đã được cải tạo thành ruộng trồng trọt. Một vài đàn cừu cũng lộ diện, và khi cảm nhận được những dấu hiệu của sự sống, không khí xung quanh họ dường như cũng trở nên tươi sáng hơn.

Họ đến một ngôi làng với những dãy nhà giản dị, trông không mấy khá giả, và sừng sững ở giữa là một tòa kiến trúc bằng đá khổng lồ, cao vút, được bao quanh bởi tường thành phòng thủ.

Đó chính là Nhà thờ chính tòa Vallan, nơi khởi đầu của Giáo phận Vallan.

~~~

Cánh cổng sắt cao và uy nghi, rất phù hợp với một nơi từng kiểm soát cả một mỏ khai thác, duy chỉ có điều giờ đây nó đã bị bỏ mặc cho gỉ sét. Có lẽ chẳng còn ai bảo trì nữa, và người ta cũng chẳng đủ sức mà cứ đóng mở liên tục cánh cổng ấy. Bên trong khuôn viên nhà thờ, cũng vắng lặng chẳng khác gì, chỉ có vài con heo và dê thảnh thơi gặm cỏ. Dòng nước đá, nơi mà khách hành hương ngày trước có lẽ từng dùng để rửa chân và dắt ngựa uống, giờ đã cạn khô từ lâu; chỗ đó giờ toàn là cỏ dại mọc lởm chởm.

Lawrence buộc ngựa vào nơi mà anh cho là chắc chắn nhất, cầm theo bức thư từ Giám mục Atiph, rồi cùng Holo tiến về phía nhà thờ.

“Thật là một tòa nhà đồ sộ,” 

Holo ngẩng đầu lên, ngạc nhiên thốt lên khi hai người đứng trước cửa chính. Tòa tháp chuông liền kề cũng cao vút—đến mức họ phải ngửa cổ hết cỡ mới thấy được đỉnh tháp, gợi lên cảm giác về một thời đại huy hoàng đã qua.

“Nhưng mà, hình như chẳng có ai quanh đây cả.”

“Ừ. Nhưng vẫn có mùi người ở. Và trên cánh cửa bên kia còn có dấu đất từ bàn tay người chạm vào.”

Cánh cửa lớn dẫn vào chính điện có lẽ cũng đóng lại vì lý do giống như cổng ngoài. Cửa phụ thì không khóa, nên họ cứ thế đẩy cửa bước vào.

“Ồ hô.”

“Thật tuyệt vời…”

Bên trong mang dáng vẻ vô cùng tráng lệ, rõ ràng từng được đầu tư rất nhiều tiền của để xây dựng; hàng cột trụ và trần nhà nối liền nhau bằng những đường cong uốn lượn, được trang trí bằng vô số họa tiết tinh xảo.

Dọc theo tường là những tủ kính trưng bày các bức tượng Đức Mẹ và các món đồ trang trí khác. Những chuỗi dây dài buông xuống từ trần nhà cao vút hẳn là để treo lư hương trong các buổi tế lễ. Khi Holo tiến lại gần hít thử hương lư, cô liền hắt xì một cái.

“Người ta có lau dọn đấy.”

“Những chân nến gắn trên tường và cột đều dùng nến sáp. Quả là quy mô lớn.”

Mọi thứ được chăm sóc cẩn thận, nhưng vẫn chẳng thấy bóng dáng ai. Lawrence và Holo nắm tay nhau bước đi, tiếng bước chân họ vang vọng khắp chính điện một cách khó chịu.

Họ đi qua một hành lang nơi các ô kính màu khắc họa cảnh Đức Mẹ ôm Chúa Giáng sinh, rồi dừng lại khi đến một ngã ba.

Trên sàn lát đá tại đó là biểu tượng của Giáo hội được tạo nên bằng những viên đá đủ màu sắc khác nhau.

“Anh này.” Holo chỉ lên phía cao trên bức tường gần trần nhà.

“…Cái này…”

Lawrence vô thức đưa tay che miệng khi nhìn thấy bức bích họa khổng lồ. Nó không phải là loại tranh hiện thực đang thịnh hành trong giới quý tộc. Với lối vẽ cực kỳ đơn giản và cường điệu, các nhân vật trong tranh đều giơ cao đôi tay to hơn cả đầu trong những tư thế lạ lùng như con rối, gương mặt vô hồn, ánh mắt trống rỗng hướng về trời. Sự thiếu trau chuốt đó lại mang đến một sức mạnh khó diễn tả, và chỉ cần liếc qua là có thể đoán ra nó đang kể điều gì.

Đó là huyền thoại xoay quanh Nhà thờ chính tòa Vallan.

Người cầm cái cày có lẽ chính là Vallan, người nông dân khai khẩn đầu tiên, còn cánh tay vươn ra từ những tầng mây kia hẳn là Thánh Ý Chúa. Cảnh tiếp theo cho thấy Vallan thịnh vượng, miêu tả sự thành lập thị trấn nhà thờ, và Lawrence có thể thấy ân huệ từ Chúa tuôn trào xuống mặt đất, còn dân làng thì tạ ơn vì nơi ở mới được phát triển.

Nhưng rồi thị trấn trong tranh lại bắt đầu suy tàn; dân chúng giơ tay hướng lên trời, có lẽ đang cầu xin sự can thiệp. Và thiên thần đáp xuống lại đang thổi sáo.

“Thiên thần đó có sừng kìa.”

“Chỉ có cặp sừng ấy là được tô màu. Chi tiết đó chắc bị thêm vào sau. Có lẽ người đời sau cho rằng đó là thiên thần sa ngã.”

Đám người choàng áo trùm đầu, che khuất mặt mày, trông chẳng khác gì pháp sư dị giáo, chắc là nhóm giả kim thuật sĩ. Nhưng những gì sau đó mới thật kỳ lạ. Cảm giác sai lệch mà Lawrence từng có khi nghe chuyện trong quán trọ giờ đây đã được vẽ ra thành tranh.

Những giả kim thuật sĩ cầu nguyện trên đỉnh núi, và khuôn mặt có râu của Chúa hiện ra ở đó, ánh sáng xuyên qua mây từ đỉnh chiếu thẳng xuống thị trấn bên dưới, hòa cùng điệu múa hoang dại của thiên thần.

“Anh từng thấy những bức tranh ở vùng mưa kéo dài, nơi dân làng cầu xin trời quang, và bức này cũng giống thế.”

“…Mọi người trong làng có đang cười không?” 

Holo nheo mắt, mặt nhăn nhó vì mắt cô không đủ tinh để nhìn được những chi tiết nhỏ của đám đông.

“Không, nét mặt họ vô cảm. Cách họ giơ tay khiến người ta khó phân biệt giữa mừng rỡ và cầu xin tuyệt vọng.”

“Hừm, vậy cũng chẳng khác gì nhau,” cô buông một câu cụt lủn.

Holo từng ở lại trong cánh đồng của một thị trấn suốt hàng trăm năm để giữ lời hứa cổ xưa. Cô từng nói đôi khi phải cố tình khiến mùa gặt thất bát để rồi về lâu dài, dân làng có thể hưởng trọn mùa vụ bội thu nhất. Còn dân làng thì chỉ mong được mùa mỗi năm và hay cho rằng việc được hay mất mùa là do sự thất thường của cô.

Lawrence đặt tay lên lưng Holo. Cô hít một hơi sâu rồi mạnh mẽ thở ra bằng mũi.

“Thượng Đế đang chiếu ánh sáng lên mấy người cầm búa lớn đang đập vào khối gì đó đang cháy. Chắc là kim loại. Có ngựa thồ hàng, và mấy người trông như thương nhân giơ tay lên… chắc là biểu hiện niềm vui.”

“Cạnh đó, rừng đã mọc lại trên núi.”

“Ừ, nhưng—”

Lawrence bỗng cắt ngang, vì dưới chân ngọn núi vừa được tái sinh ấy, dân làng đang quỳ cầu nguyện, rõ ràng là đang tiếc nuối điều gì đó.

Khuôn mặt có râu của Chúa vẫn lơ lửng ở đỉnh núi, còn thiên thần sa ngã với đôi cánh kì dị thì đứng bên cạnh, trong mắt ánh lên điều gì đó khó đoán định, một nét đặc trưng thường thấy trong lối hội họa này.

Nhưng chí ít thì họ cũng chẳng nhìn xuống những con người dưới chân núi.

Kết thúc chuỗi bích họa kéo dài theo hành lang là dòng chữ Lạy Chúa Đấng Nhân từ.

“Cái mặt râu kia là gì vậy?”

Dù nhìn buồn cười thật, nhưng khuôn mặt ấy lại xuất hiện ngay từ cảnh mở đầu và chiếm một vị trí nổi bật, khiến nó càng thêm rợn người.

“Có lẽ ý là có một sinh vật kỳ dị như thế sống ở đây.”

“Sao chỉ có mỗi cái đầu vậy?”

Tất cả những nhân vật khác, dù nhỏ đến đâu, cũng có thân hình đầy đủ.

Anh tự hỏi liệu có lý do gì không khiến nó chỉ là cái mặt không hơn không kém.

“Ừm… Nếu là phi nhân, vậy thì…” Holo trầm ngâm suy nghĩ, rồi bất chợt ngẩng lên. “A, ta từng ăn nó ở thị trấn trước. Không phải là nó sao?”

“Hả?”

Họ đã ăn đủ thứ đặc sản từ biển ở Atiph, từ thịt cừu, thịt lợn cho tới gà.

Nhưng sau khi nghĩ đến việc chẳng món nào trong số đó có hình thù như vậy, Holo hỏi:

“Chẳng phải là cua sao?”

“Cua?!”

Lawrence trợn mắt, quay khỏi ánh nhìn đắc ý của Holo để ngó lại bức tranh. Đúng là nếu cái mặt ấy hiện ra trong mai cua thì sẽ trông chẳng khác là bao. Những sợi râu xoã ngang hai bên còn có thể được hiểu là chân cua vẽ cách điệu, giải thích tại sao không có phần thân.

Thật ra, anh có thể tưởng tượng một con cua với khuôn mặt vô cảm đang kẹp chặt những kẻ dám xâm phạm núi bằng càng của nó rồi cắn nát họ.

Ý nghĩ ấy khiến Lawrence rùng mình, rồi lập tức lắc đầu.

“Không, không…”

Anh tự nhủ bản thân phải lý trí.

Một con cua ở trên đỉnh núi thì liên quan gì đến chuyện luyện kim?

Vả lại, anh vẫn chưa hiểu tại sao nó lại phát ra ánh sáng từ đỉnh núi.

Đột nhiên, có một giọng nói vang lên từ phía trên.

“Một giả thuyết khá thú vị đấy.”

Giọng nói xuất hiện bất ngờ đến mức khiến Lawrence giật nảy mình, vội vàng ngẩng lên nhìn trần nhà nhưng chẳng thấy ai.

Ngay cả Holo với đôi tai sói cũng không xác định được nguồn phát ra âm thanh. Cô đảo mắt qua lại, nhìn trần nhà với vẻ bối rối.

Thế nhưng, có lẽ không ai qua mắt được mũi sói của cô.

“Phía sau cây cột xa kia.”

Holo kéo tay áo anh và quay người lại, chỉ về cây cột nằm ở đầu hành lang.

Lawrence đặt tay lên chuôi dao găm của mình, rồi ngay lập tức nhớ ra đây là một nhà thờ lớn.

Bình thường mà suy nghĩ, thì người vừa cất tiếng hẳn là thành viên trong giáo hội. Nhưng đầu óc anh đã bị đảo lộn cả lên sau cuộc trò chuyện về mấy con cua quái đản. Lawrence hít sâu một hơi để lấy lại bình tĩnh, rồi cất giọng:

“Chúng tôi là lữ khách! Chúng tôi nhận nhiệm vụ từ giám mục tại Atiph và đã đến đây!”

Giọng anh vang vọng giữa không gian đá với trần nhà cao vút, nghe như hợp xướng dội lại từ các hướng.

“Chúng tôi có mang theo thư giới thiệu của giám mục Atiph. Chúng tôi hy vọng có thể diện kiến giám mục ở đây.”

Giọng nói của Lawrence còn vang vọng vài lần nữa trước khi tan biến nơi cuối hành lang. Có lẽ do âm thanh dội lại kỳ lạ khiến họ cứ ngỡ như có người nói từ phía trên.

Người đang ẩn sau cây cột kia vẫn chưa lên tiếng.

Hoặc cũng có thể đó là một ai đó mà họ cần dùng đến sức mạnh của Holo mới giải quyết được?

Họ đang đứng giữa thánh đường, nơi những bức tranh đầy vẻ kỳ dị bám đầy trên tường—một nơi mà vinh quang trong quá khứ vẫn còn phảng phất.

Lawrence nghĩ rằng hoàn toàn có khả năng đang tồn tại ở đây một thứ gì đó vượt ngoài sự hiểu biết của loài người.

“Có vẻ như đây thực sự là một sự trùng hợp rồi.”

Họ nghe thấy một giọng nữ trầm tĩnh. Điều khiến anh ngạc nhiên không phải là vì âm thanh ấy như thể phát ra sát bên, mà chính là vì chất giọng ấy vừa pha chút bực dọc, lại như mang theo niềm vui.

Lawrence nhớ rõ giọng nói này.

“Anh.” Holo quay sang nhìn anh, vẻ mặt khó chịu. “Em có linh cảm không lành.”

Ngay sau lời nhận xét đó, người chào đón họ ung dung bước ra từ phía sau cây cột.

Cử động ấy như một điệu vũ nhẹ nhàng, bởi người ấy có phong thái vô cùng chuẩn mực.

Và đúng như anh nghĩ, Lawrence biết rất rõ người này. Cô ấy trông trưởng thành hơn so với ký ức của anh, nhưng nếu tính số năm tháng từ lần gặp cuối thì điều đó cũng hoàn toàn hợp lý.

“Con người chẳng bao giờ hiểu được ý định của Chúa đâu.”

Một người phụ nữ bước về phía họ. Tóc cô ấy búi gọn sau đầu, mắt có màu mật ong, dáng người tuy mảnh mai nhưng lưng thẳng tắp, toát lên vẻ đoan nghiêm. Chỉ cần nhìn cổ áo giáo phục được nhuộm màu đặc trưng cũng biết cô ấy đang giữ cương vị linh mục. Cô ấy là hiện thân hoàn hảo của hình ảnh giáo sĩ mà nhiều người hình dung.

“Lâu rồi không gặp, anh Lawrence,” người phụ nữ nhoẻn miệng cười, rồi quay sang người đứng cạnh anh. “Còn cô thì, tốt hay xấu gì thì cũng vẫn như xưa. Nồng nặc mùi rượu.”

“Đồ ngốc này,” Holo lập tức vặn lại, khoanh tay trước ngực và quay mặt đi, vẻ giận dỗi.

Một nụ cười méo mó hiện lên trên mặt Lawrence khi anh nghĩ thầm, Hai người này chưa bao giờ hợp nhau cả…, nhưng rồi anh lập tức chỉnh lại suy nghĩ.

Bởi vì chính xác thì chỉ có Holo là người không chịu nổi mối quan hệ này.

Col từng kể rằng người phụ nữ kia là một tín đồ trung thành và từng là người dạy cậu những điều cơ bản về thần học. Trong khi đó, Holo thì sẵn sàng uống hết sạch rượu trên đời nếu có thể, và luôn chọn phần thịt nhiều mỡ nhất, thế nên chẳng lạ gì chuyện hai người chẳng ưa nổi nhau.

“Tôi không ngờ lại gặp cô ở nơi như thế này,” Lawrence đáp, rồi nói tên cô. “Lâu thật rồi, Elsa.”

“Mọi thứ đều theo ý Chúa cả.”

Elsa, người họ từng gặp trong chuyến hành trình buôn bán năm xưa, người từng dẫn dắt họ vào một bước ngoặt lớn, mỉm cười gật đầu.

Lawrence và Elsa tiến lại gần nhau, bắt tay và ôm nhẹ như chào hỏi.

Chuyện đó là từ hồi mới gặp Holo, hơn mười năm về trước, khi cô còn chưa nhớ được đường về Yoitsu. Trong lúc theo đuổi cuộc điều tra về quê hương Holo, họ đã gặp Elsa. Và cũng chính Elsa là người đã chủ trì nghi lễ hôn phối của hai người họ.

“Lá thư từ anh có ghi ‘Sớm gặp lại,’ nhưng tôi không nghĩ là lại gặp sớm như thế này.”

“Có vẻ anh ngựa mang thư đã đến nơi an toàn rồi.”

Một trong số các phi nhân từng đến tắm ở suối nước nóng Nyohhira là người chuyên chuyển thư đi xa. Người đó vốn là hiện thân của loài ngựa, nên vai trò ấy rất hợp.

“Nhân tiện, có thật là cô vừa sinh con không, cô Elsa?”

“Cũng đã hai năm rồi. Đứa thứ ba đó. Hai đứa lớn đang trông em bé giúp tôi. Thằng con cả to xác nhà tôi thì sắp tới cũng phải học cách sống mà không cần mẹ quát mắng mãi rồi.”

Chồng Elsa là Evan, một chàng trai hiền lành có phần trái ngược với cô ấy—một người hào sảng, không hay bận tâm tiểu tiết. Lawrence nghĩ bụng Đúng kiểu chồng bị vợ quản, và cũng thấy mình chẳng khác mấy.

Khi Lawrence và Elsa đang mải chuyện trò, Holo xen vào, giọng không giấu nổi bực bội.

“Trước hết thì bọn tôi đã đi đường dài mệt mỏi. Giáo lý của Giáo hội các người vẫn luôn nhấn mạnh việc chăm sóc lữ khách, đúng chứ?”

Elsa ngẩn người trước lời phàn nàn chua cay ấy, nhưng rồi đáp lại bằng nụ cười nhẹ như thể đã quá quen với tiếng mè nheo của trẻ con.

“Đúng vậy. Hiện tại không có ai đến ở hay giúp đỡ cả, nên phòng trống còn nhiều.”

“Tôi muốn rửa bụi đường bằng nước nóng. Ở đây có bồn tắm nóng chờ sẵn không?”

Holo đã quen với cuộc sống ở Nyohhira, nơi có suối nước nóng. Hồi ở Atiph, cô còn thường than khóc vì chẳng được ngâm mình trong bồn nước nóng đàng hoàng.

“Có chứ.”

“Thật sao?!”

Đôi mắt Holo sáng rực lên, và Elsa điềm nhiên tiếp lời:

“Nếu cô tự đi lấy nước, chẻ củi, và nhóm lửa nữa.”

“…”

Với ánh mắt màu mật ong và dáng đứng thẳng tắp, Elsa nói:

“Ở đây không chấp nhận lười biếng. Một ngày đầy công việc là một ngày đáng sống.”

Khi Lawrence còn là thương nhân, Elsa là hình mẫu lý tưởng cho một nữ tu chân chính. Chính Elsa là người dạy Col phép tắc, hồi cậu còn là một đứa trẻ đi cùng họ trong chuyến hành trình.

Ngày ấy, Elsa cũng hay rầy Holo, mà lễ nghĩa của cô thì cũng chẳng hơn gì con gái mình là Myuri.

“Anh Lawrence, anh để ngựa ngoài kia đúng không?”

“Phải rồi.”

“Khi nào dỡ đồ xong, tôi sẽ chuẩn bị nước rửa chân và bữa tối cho hai người. Đừng lo. Sẽ không phải là đậu rang và cỏ ngoài vườn đâu.”

Câu cuối cùng ấy Elsa vừa nói vừa liếc Holo đầy nghịch ngợm.

Holo quay mặt đi, vẻ hậm hực, khiến Lawrence cảm giác như sắp quên mất ai mới là hiền giả sói từng sống qua bao thế kỷ.

Các cơ sở lớn của Giáo hội thường xuyên đón tiếp quý tộc và tu sĩ đi đường, nên luôn có sẵn phòng nghỉ. Lawrence và Holo được cho mượn một căn phòng, cất đồ đạc xong xuôi thì cùng nhau đi ra ngoài.

Elsa đang ở khu vườn rau trong khuôn viên nhà thờ, xắn tay áo lên múc nước từ giếng.

“Rửa chân đi, xong sẽ thấy sảng khoái ngay.”

Trong Kinh Thánh cũng có vài câu chuyện kể về các thánh nhân rửa chân cho người nghèo, nhưng Holo thì chẳng phải kiểu người sẽ thấy biết ơn vì điều đó.

Cô đứng đó với vẻ mặt cau có thấy rõ, còn Elsa thì quay sang nhìn Lawrence.

“Thấy hai người thân thiết như vậy tôi cũng mừng, nhưng chẳng phải anh đang nuông chiều cô ấy quá rồi sao?”

Elsa nhắc nhở, Lawrence đành mỉm cười gượng gạo và cúi đầu xin lỗi.

“Đấy, Holo—nước lạnh cũng dễ chịu lắm đó.”

Lawrence rửa tay trong chậu nước đầy tràn. Holo ngồi phịch xuống tảng đá lớn bên cạnh, mặt mày nhăn nhó đưa chân ra cho Lawrence.

Giữa lúc tai anh còn đang ong ong vì tiếng thở dài ngao ngán của Elsa, thì Lawrence đã tháo giày cho nàng công chúa, xắn gấu quần cô đang mặc dưới áo choàng lên rồi cẩn thận rửa chân cho cô. Dù miệng vẫn cằn nhằn nhưng xem ra cô cũng khá thích, chiếc đuôi phía sau ve vẩy nhè nhẹ.

“Vậy, hiện giờ cô đang quản lý chỗ này một mình sao, cô Elsa?”

Elsa vừa bảo cần nhóm bếp chuẩn bị bữa tối vừa đi về phía đống củi, nên Lawrence nhận lấy phần việc bổ củi. Holo hôm nay không càm ràm gì đặc biệt, chắc là vì được anh rửa chân nên hài lòng, cũng lặng lẽ đi theo mà không kêu ca.

“Anh biết khu chợ lớn bên kia núi rồi chứ? Mọi người trong làng và nhà thờ đều dồn cả về đó để buôn bán. Phải bán được nông sản với giá cao, mua đồ dùng cần thiết cho mùa đông với giá thấp nữa, nên ai cũng bận bịu. Tôi thì không rành đất đai vùng này, cũng chẳng có mối quen nào, nên quyết định ở lại trông coi.”

Lawrence vừa bổ củi vừa lắng nghe Elsa nói chuyện. Holo thì có vẻ thích tiếng rắc nhịp nhàng khi gỗ bị bổ ra, nhanh nhẹn nhặt từng khúc đem sang và kê gỗ mới lên đúng chỗ cho anh.

Trông cô chẳng khác gì một chú chó hí hửng nhặt que gỗ về trong mắt Lawrence, nhưng tất nhiên anh sẽ không dại gì nói ra điều đó.

“Nhưng một mình thì tôi lại thấy yên tâm hơn. Có thể giữ nhà cửa sạch sẽ theo ý mình nữa.”

Giọng nói rành mạch của cô ấy khiến Lawrence không khỏi bật cười khẽ.

Khi đã chẻ xong củi, Elsa dẫn cả hai vào bếp.

“Dù sao thì tôi cũng ngạc nhiên khi thấy hai người rời Nyohhira để đến tận đây. Có chuyện gì vậy?”

Cô ấy vừa nói vừa lấy bùi nhùi và đá đánh lửa từ trên giá xuống.

“Nói ra thì hơi dài dòng… Nhưng mà tôi cũng muốn hỏi ngược lại, sao cô lại ở đây, cô Elsa? Chỗ này cách quê cô xa lắm đấy.”

“Tôi cũng không định tới đây đâu. Ban đầu chỉ là giáo hội vùng lân cận nhờ giúp đỡ vì họ thiếu người đọc được sách. Tôi đến chỉ để tạm thời kiểm tra giấy tờ, tài sản của nhà thờ. Chuyện này xảy ra ngay trước mùa hè năm nay thôi.”

Vừa kể chi tiết về sự có mặt của mình, Elsa vừa gõ đá lửa một cách điêu luyện, lập tức phát ra tia lửa.

Holo thấy thế liền chọc ghẹo: “Anh ra mà xem kìa!” Lawrence tức thì bị khích—vì lúc đầu khởi hành anh đã loay hoay mãi mới nhóm được lửa.

“Sau đó, tôi nghe nói cậu Col có liên quan đến việc Giáo hội đang gấp rút cải tổ, chẳng biết nên ngạc nhiên hay nên thấy mọi chuyện đều hợp lý.”

Elsa chọn một khúc củi dễ bén lửa từ mớ gỗ Lawrence chẻ rồi bỏ vào bếp. Nhìn thì tưởng cô làm qua loa, nhưng khúc gỗ được đặt khéo léo, đảm bảo cháy đều.

“Tụi tôi cũng vì chuyện đó mà tới. Cô con gái duy nhất của tôi, Myuri, đi theo Col lên đường, mà dạo này thư từ lại ít hơn trước, nên tôi và Holo quyết định đích thân đi xem thế nào.”

Elsa quay đôi mắt màu mật ong về phía hai người, khẽ mỉm cười với hàm ý sâu xa.

Có vẻ cô ấy xem hai người là những phụ huynh hơi bao bọc con quá mức.

Lawrence liền ho nhẹ đánh trống lảng: “Ahem. Vậy là cô được mời đến giúp một thời gian, rồi ở lại do tình hình rắc rối đúng không?”

“Đúng là vậy, nhưng lý do lớn nhất lại chính là bức tranh hai người vừa xem. Nó là nguyên nhân quan trọng khiến chúng ta gặp nhau ở đây.”

Bức tranh mô tả lịch sử phát triển và suy tàn của giáo phận Vallan—những nhà giả kim với kỹ thuật chẳng khác gì ma thuật, và ngọn núi bị nguyền rủa mà người ta vẫn đồn rằng ẩn chứa một sinh vật thần bí.

“Khi nghe nói giáo phận Vallan đang cần người giúp, tôi còn chần chừ vì khoảng cách xa xôi. Nhưng lúc biết về câu chuyện hình thành nơi này, tôi lập tức bị thu hút. Tôi đã nghĩ, biết đâu mình có thể góp thêm một câu chuyện mới vào bộ sưu tập thần thoại của cha tôi.”

Lawrence và Holo từng ghé làng Elsa thuở trước chính vì kho sách đồ sộ của cha cô ấy.

“Và kết quả thì sao?”

Elsa đặt nồi sắt lên bếp, rót nước từ bình vào, nhún vai.

“Thì hai người xuất hiện. Hai người nhận được thư ở Atiph phải không?”

“…Vậy ra cô là người thay mặt vị giám mục đang gặp rắc rối ở đây sao?”

Elsa chỉ vào cổ áo mình.

“Tôi là một linh mục. Có được chữ phụ tá trong danh hiệu linh mục phụ tá đã là một thành tựu lớn đối với một người phụ nữ trong Giáo hội rồi. Nhưng đây chỉ là vị trí tạm thời. Dù sao thì Giáo hội cũng không thể chính thức bổ nhiệm một người đã có chồng và con cái làm linh mục chính quy. Họ đã thiếu người đến mức phải nhờ cả tôi.”

Dù nói vậy, nhưng Elsa biết chữ và từng tự mình lên đường đi tìm người thay thế để giao lại nhà thờ làng mình. Người phụ nữ này đã luôn được dân làng kính trọng vì tính cách nghiêm túc và sâu sắc; họ hoàn toàn có lý khi tin tưởng cô.

“Nhưng nếu tôi đến Atiph và trình bày mọi chuyện, thì người ta chắc gì đã tin. Họ có thể sẽ nghĩ tôi là kẻ từ ngoài tới muốn giành quyền quản lý. Thế nên trong thư, tôi đã viết tôi chỉ là người đại diện tạm thời. Không sai đâu.”

Cuối phần giải thích, Elsa, một người phụ nữ nghiêm trang, luôn đặt giáo điều lên hàng đầu, lại nở một nụ cười tinh nghịch. Lawrence lúc ấy mới nhận ra cô ấy đã trở nên mạnh mẽ hơn nhiều so với lần cuối gặp nhau.

“Vẻ mặt như vậy là sao? Tôi cũng học được chút cách xoay xở ngoài xã hội rồi đó.”

Cô ấy nêm muối và tỏi vào nồi một cách hào phóng. Qua vài thao tác, Lawrence đoán chắc trong ngôi nhà của mình, Elsa cũng là người điều hành cực kỳ gọn gàng.

“Không phiền nếu chúng ta ăn món hầm chứ?”

“Cô có cho thịt không?” Holo hỏi, Elsa nhún vai.

“Tôi là người mời hai người đến, nên sẽ không mắng vì cô ăn thịt đâu.”

“Cô chu đáo thật đấy. Thịt gì vậy?”

“Cô là sói đúng không? Lúc tới đây có nhìn thấy đồng cỏ chưa?”

Thái độ điềm đạm của Elsa chẳng khác gì đang dỗ trẻ con cứ nằng nặc hỏi mẹ tối nay ăn gì vậy.

“Thỏ!”

“Đặc sản hiếm có của vùng này đấy.”

Đôi mắt Holo sáng rực lên, chiếc đuôi đong đưa vui sướng.

Elsa mỉm cười khô khốc trước cơn thèm ăn của Holo.

“Tất cả những gì cô kể càng khiến tôi ngạc nhiên khi thấy cô lại đi nhờ đến một thương nhân như tôi,” Lawrence nhận xét, rồi Elsa bảo Holo đi nhờ người trong làng đem thịt thỏ tới. Vì có thịt, nên Holo vui vẻ bước nhanh khỏi bếp.

Dù cô hay nổi ghen đến buồn cười mỗi khi Lawrence ở cạnh người phụ nữ khác, nhưng rõ ràng lần này cô không hề nghi ngờ gì về quan hệ giữa anh và Elsa.

“Người dân ở đây gọi vùng đất đó là núi bị nguyền, nên chẳng ai dám vào lấy củi. Nếu tôi triệu tập một giáo sĩ đến thì mọi chuyện chỉ thêm rắc rối thôi. Còn thương nhân thì sao? Miễn có thể kiếm lời, họ chẳng ngán gì mấy lời đồn đại ma quỷ, nên tôi nghĩ có thể tìm được người dám đi lên núi để điều tra.”

Cách nói của Elsa cũng phần nào thể hiện cái nhìn của cô về thương nhân, nhưng quả thật, cô không sai.

“Vậy nghĩa là cô cũng không biết trên núi có gì?”

“Không. Tôi vốn được gọi đến đây chỉ để kiểm kê tài sản và giấy tờ. Công việc ở làng mình còn chồng chất, nên tôi muốn quay về trước khi mùa đông tới. Tôi đơn giản là không thể nào tự đi vào núi được. Cho dù tôi có gác lại mọi việc để thu thập thông tin, thì những người đang làm việc ở nhà thờ này đều là người học giáo luật từ các thành phố khác, không ai là dân bản địa cả. Mà nếu tôi tự mình đi hỏi thăm người làng, e rằng cũng khó tránh khỏi ánh mắt dò xét từ người khác.”

Một nữ giáo sĩ đến từ vùng đất xa xôi mà lại đi thu thập những câu chuyện dị giáo được lưu truyền bao đời ở vùng này  hẳn sẽ khiến người ta sinh nghi. Có kẻ còn có thể cho rằng cô ấy là một dạng điều tra dị giáo mới, hoặc một gián điệp từ xa tới nhằm chiếm đoạt nơi đây.

“Trong kho sách cũng không có tài liệu nào hữu ích. Những chuyện tôi nghe được ở các quán trọ ven đường thậm chí còn chi tiết hơn nhiều. Hai người đã thấy bức tranh vẽ trong nhà thờ rồi đấy; rõ ràng người xưa đã cho rằng đây là câu chuyện nhất định phải lưu lại cho hậu thế.”

“Cô có tra cứu về các giám mục trước kia không?” Lawrence hỏi, và Elsa chỉ khẽ nhún vai.

“Xét cho cùng, đây là một thị trấn có mỏ từng phồn thịnh nhưng đã cạn kiệt, lại gắn với những dị truyện tà đạo. Coi như nơi này chưa từng tồn tại vẫn là quyết định khôn ngoan hơn cả. Nếu để một nhân viên của tòa án dị giáo đánh hơi thấy, thì chẳng có điều gì tốt đẹp chờ đợi cả.”

Nói cách khác, họ đang cố che giấu sự tồn tại của thị trấn này.

“Mặt khác, chuyện này không đơn thuần vì sự tò mò của tôi. Một vấn đề hết sức thực tế cũng đang hiện ra. Giữ trong tay một vùng đất chẳng thể tận dụng gì quả là phiền toái. Chỉ cần nhìn sơ qua cũng đủ thấy giáo phận này xuống cấp đến mức nào, đúng không? Nếu bán đi ngọn núi vốn chẳng còn bao nhiêu quặng ấy, rồi lấy tiền để đào giếng, sửa đường, thì chắc chắn cuộc sống người dân sẽ tốt hơn nhiều. Nhưng vì dân làng đều biết những truyền thuyết về vùng đất này, nên họ vẫn còn lưỡng lự. Và đó cũng là lý do tôi cần một thương nhân từ phương xa.”

Cuối cùng thì những gì ghi trong bức thư giới thiệu từ giám mục ở Atiph cũng đã xâu chuỗi lại được với nhau.

Lawrence chỉ biết thở dài cảm phục trước sự suy xét hợp tình hợp lý của Elsa.

“Chỉ có một thương nhân đến từ nơi khác mới tìm được người mua chưa từng nghe đồn về ngọn núi bị nguyền rủa, cũng chẳng biết gì về lịch sử nơi đây, đúng không?”

Elsa không trả lời, chỉ mỉm cười.

Không có gì khó hiểu khi một người ngoài như cô ấy lại được giao phó trông coi một nhà thờ đồ sộ thế này.

Ai cũng có thể yên tâm khi biết rằng cô ấy sẽ lo chu đáo chuyện này.

“Chà, còn chuyện leo lên núi điều tra thì cứ để bọn tôi lo vậy.”

Lawrence nhìn ra ngoài qua khung cửa bếp, thấy Holo đang chạy lại, trên tay ôm một con thỏ bị buộc bằng dây gai.

Cô nở một nụ cười vô tư lự đến mức khiến người ta phải tự hỏi vì sao một kẻ như thế lại tự xưng là hiền giả sói.

“Chỉ cần cô ấy có được thịt và rượu, bọn tôi sẽ làm việc đàng hoàng.”

Elsa chỉ khẽ nhún vai, thêm một nhúm muối nữa vào nồi.

Holo là kiểu người cực kỳ thích ăn ngon uống say.

Có vẻ như lần này Elsa đã chọc đúng chỗ đau của Holo rồi.

~~~

Sau khi đã no nê với món thỏ hầm và nhấp chút rượu vang, Elsa đưa Lawrence và Holo xuống hầm lưu trữ của nhà thờ. Tầng hầm lát đá ban đầu trông chẳng khác nào ngục giam, mà những bức tượng quỷ to lớn dựng rải rác để xua đuổi tà ma càng khiến ấn tượng ấy thêm phần rợn người.

Khi đến nơi sâu nhất, Elsa tra một chiếc chìa khóa kim loại lớn, to đến nỗi khó mà cầm gọn trong lòng bàn tay, vào ổ của cánh cửa kim loại nặng trịch.

Khi cửa vừa mở ra, Holo cất lời, “Làm em nhớ đến cái hang có con rắn đó quá.”

Ngày trước ở làng Elsa có truyền thuyết về một con rắn khổng lồ, và tầng hầm nhà thờ nơi ấy từng nối với hang của con rắn ấy. Tầng hầm chất đầy kệ sách và giấy tờ ở đây quả thực cũng gợi cảm giác tương tự.

“Chỗ này toàn giấy phép sao?”

“Chỉ khoảng một phần tư thôi. Địa phận khá đa dạng, nên nửa còn lại là danh sách thuế cư dân, giấy chứng nhận quyền sở hữu, cùng nhiều giấy tờ tỉ mỉ khác. Sách thì chủ yếu là hướng dẫn kỹ thuật. Từ quy trình khai thác muối mỏ, quặng, đến các phương pháp tinh luyện. Phủ đầy bụi, tức là chẳng ai đụng đến lâu rồi—giờ đã vô dụng cả. Tôi đang tính đem bán bớt đây.”

Kho sách ám mùi ẩm mốc, có lẽ vì vậy mà Holo hắt hơi liên tục, rồi dúi mũi vào ống tay áo cho đỡ khó chịu.

“Đây là thứ tôi muốn cho hai người xem.”

Elsa dẫn đường với cây nến trên tay.

Trong lúc dùng bữa, Elsa đã kể hết những gì mình tìm hiểu được về ngọn núi bị nguyền. Dù cô ấy đã đọc gần hết sách của cha mình về các vị thần ngoại đạo, vẫn không sao lý giải nổi bí ẩn trong bức tranh vẽ kia.

Hơn nữa, tin đồn về những quái vật đáng sợ ẩn mình trong núi rừng thì ở đâu cũng có. Lawrence biết rõ phần lớn những chuyện như thế chỉ là bịa đặt, thậm chí còn do con người dựng nên vì mục đích riêng.

Ví dụ, dân làng có thể bịa chuyện núi rừng quanh vùng có thú dữ, rồi nói rằng không thể tiếp tục khai thác được nữa. Nhờ vậy họ có cớ xin miễn thuế, trong khi vẫn âm thầm hưởng lợi từ vùng đất ấy. Hoặc cũng có khi họ dựng chuyện để ngăn kẻ ngoài dòm ngó kho báu thiên nhiên nơi họ canh giữ. Chính vì thế, những lời đồn kiểu ấy rất phổ biến.

Không hề có ghi chép gì về vùng đất bị nguyền trong ngôi nhà thờ này, và Elsa từng nghĩ dân làng cố tình tung tin vì mục đích chính trị nào đó, điều ấy hoàn toàn có thể xảy ra.

Nhưng một ngày nọ, khi cô ấy vào hầm tra cứu giấy phép, cô phát hiện một vật bị giấu kỹ như thể người từng đặt nó ở đây muốn vùi lấp nó đi.

“Là cái này sao?”

Elsa kéo tấm vải phủ ra, để lộ trước mắt Lawrence và Holo một quả chuông mạ vàng, to đến mức có thể gọi là khổng lồ.

“Trong sổ sách cách đây năm mươi năm có ghi đơn đặt chuông mới. Quả treo trong tháp chuông hiện giờ chính là chuông đúc mới khi ấy.”

“Vậy đây là chuông cũ à?”

Elsa gật đầu, châm thêm một cây nến nữa từ cây nến trên tay, rọi xuống phần chân quả chuông.

“Nhìn kỹ chỗ này đi.”

Lawrence và Holo cùng cúi xuống, và cả hai không khỏi nuốt khan.

“Đây là… dấu răng à?”

Một bên quả chuông, lớn đến mức đủ chỗ để Holo chui vào trốn, có bốn lỗ sâu đều tăm tắp.

“Trông có vẻ thế. Hai người thấy sao?”

Mỗi lỗ không đủ lớn để nhét cả nắm tay, nhưng đặt hai ngón tay vào cũng không khó. Ai từng thấy răng nanh của Holo đều không thể không liên tưởng đến cô.

“Lũ sói bọn tôi ghét vàng,” Holo nói, cúi sát mặt vào mấy cái lỗ trên thân chuông. “…Vẫn còn vương mùi… Hắt xì!

Holo lau mũi sau cơn hắt hơi xong lại dụi tay vào tay áo Lawrence.

Có vẻ cô thực sự ghét mùi ấy.

“Nếu đây chỉ là một truyền thuyết thì tôi đã không bận tâm. Nhưng quả chuông này có thật, nên tôi không thể không thắc mắc được.”

Lawrence nhìn xuống quả chuông, khẽ rên rỉ. Nếu kẻ nào đó để lại dấu răng này còn tồn tại, thì câu chuyện họ nghe ở quán trọ về những người lên núi rồi không trở về có lẽ không phải bịa đặt.

Nhưng rồi một tiếng thở dài ngán ngẩm vang lên, là Holo vẫn còn sụt sịt mũi.

“Ngốc quá,” cô nói giọng nghẹt mũi, rồi đá vào quả chuông vang một tiếng dong. “Quả chuông này từng treo ở tháp chuông cao tít kia chứ gì? Làm sao một kẻ như bọn tôi có thể cắn trúng được?”

““Ồ…””

Lawrence và Elsa đồng thanh thốt lên khi hiểu ra, còn Holo thì quay đầu sang chỗ khác đầy vẻ chán nản.

“Chim thì đâu có răng. Mà có vuốt đi nữa thì cũng chẳng có dấu vết kiểu này.”

“…Phải rồi. Nếu là vuốt thì hẳn phải ba dấu, mà mặt sau cũng phải có vết mới đúng.”

“Vả lại, mấy cái lỗ này không phải do dùng sức cắn mạnh tạo ra.”

“Hả?”

Chưa kịp hiểu, Lawrence đã bị Holo siết mạnh vào hông.

“Ai da! Gì thế?!”

“Nếu anh không có nhiều mỡ thế này, chắc em đã bóp dập người rồi.”

Holo buông ra, còn Elsa thì gật đầu tán đồng.

“Đúng vậy, quả chuông vẫn còn giữ hình dạng nguyên vẹn.”

“Nếu có thứ dùng lực cắn mạnh đến mức tạo lỗ, thì chuông phải biến dạng hoặc có vết nứt rồi mới đúng. Nhưng không hề có dấu hiệu nào. Mà hình dạng các lỗ này cũng lạ.”

Holo soi kỹ bốn lỗ dưới ánh nến, nheo mắt.

“Làm sao mà có kẻ lại tạo được mấy lỗ thế này chứ?”

Lawrence lại nhìn lần nữa nhưng vẫn không hiểu cô định nói gì. Bốn cái lỗ kì lạ kia khiến anh chỉ nghĩ đến cảnh một con chó cắn vào kim loại để lại dấu.

Nhưng lời cô nói cũng đúng, nếu quả chuông từng treo cao, thì khó mà tưởng tượng cảnh bị cắn thế được. Hơn nữa, chẳng có vết biến dạng hay vết nứt nào cả.

“Thực lòng thì em nghĩ quả chuông này chẳng liên quan gì đến truyền thuyết cả…”

Đó là suy luận hợp lý, nhưng bản thân Holo cũng không hoàn toàn tin vào nó.

Lawrence hỏi, “Trước hết thì, dù có nhiều điểm bất thường như vậy, nếu ta chấp nhận khả năng đây là dấu răng thì…”—Holo và Elsa cùng nhìn Lawrence—“…liệu chuyện này có nằm trong khả năng của em không?”

Ánh nến chập chờn lay động dù không có gió.

Có lẽ là do Holo nở nụ cười bất khuất.

“Em là Hiền giả Sói Holo. Trừ phi gặp Gấu Săn Trăng, chứ mấy chuyện này không dễ hạ gục em đâu.”

Cô là hiện thân của một con sói khổng lồ sống trong lúa mì.

Và đó là lý do họ quyết định bước đi tiếp theo.

Khi mặt trời lặn, người dân làm đồng trở về nhà, dùng bữa xong thì để tiết kiệm nến, họ đều chuẩn bị cho ngày mới rồi đi ngủ sớm.

Chính vào thời điểm đó, Holo mới để lộ hình dạng sói.

“Anh cứ ở đây đợi.”

“Ngốc này. Em là người hay mất bình tĩnh đấy. Làm sao ạnh để em tự mình lo liệu được?”

Lawrence bắt chước giọng cô, lập tức bị quất một phát bằng chiếc đuôi to lớn.

Dù anh bị đánh ngã lăn ra đất, nhưng Holo chẳng buồn để tâm. Elsa bấy giờ cũng lên tiếng.

“Tôi muốn tránh mọi xung đột. Nếu thật sự có gì ở trên núi, ta vẫn có thể lựa chọn không đụng đến.”

“Tùy thuộc đó là ai hay cái gì đã. Nếu có thể đối thoại thì tốt.”

Elsa gật đầu, đỡ Lawrence lên lưng Holo, rồi nắm chặt biểu tượng Giáo hội của mình.

“Nguyện Chúa phù hộ cho hai người.”

“Cô gan thật đấy.”

Vị thần của Giáo hội vốn chỉ mới xuất hiện sau các linh hồn cổ xưa của rừng già. Nhưng Elsa, có lẽ do thói quen, chỉ chớp mắt trước lời Holo rồi nở một nụ cười bất lực.

“Nghe này—nếu anh bị văng xuống thì em sẽ không quay lại đón đâu đấy.”

“Anh sẽ không rơi, trừ khi em cố tình bày trò đâu.”

Ngay khi Lawrence vừa dứt lời, Holo liền rung mình như thể cố ý rồi lao đi ngay.

Lawrence ngoái nhìn lại, thấy Elsa vẫn đang vẫy tay chào. Anh liền vội ôm chặt bộ lông mềm mại của Holo và cúi rạp người xuống. Họ càng lúc càng nhanh, tiếng gió lùa bên tai át đi cả tiếng chân Holo. Mặt trăng chỉ ló ra thỉnh thoảng từ sau đám mây, khiến cánh đồng cỏ trinh nữ lúc đêm tối trông như một mặt hồ đen ngòm.

Trên lưng Holo, khi cô lao vun vút qua phong cảnh hiện lên lờ mờ dưới trăng, Lawrence như thoáng chạm đến thế giới mà cô đang sống.

Lawrence, dù luôn tin rằng mình và Holo đã hiểu rõ mọi điều về nhau, lại một lần nữa nhận ra rằng anh đang yêu một người không phải con người, mà là một con sói.

Bình thường thì điều đó hiếm khi khiến anh bận tâm, nhưng những lúc như thế này, sự khác biệt giữa họ lại ập đến thật rõ rệt.

Nếu anh nói với cô rằng, mặc dù như vậy nhưng anh lại cảm thấy rất ổn khi được ôm chặt lấy một thân thể phủ đầy lông mềm mại và mạnh mẽ, thì thế nào Holo cũng sẽ làm một khuôn mặt vừa ngượng ngùng, vừa khó chịu, lại vừa tổn thương, đuôi thì ngoe nguẩy qua lại. Nghĩ đến cảnh tượng đó khiến anh bật cười, và nhờ vậy mà anh chịu đựng được chút sợ hãi còn vương lại trong lòng.

Anh không biết mình đã nằm nép vào người cô bao lâu, nhưng một lúc sau, tiếng gió rít bên tai cũng dần biến mất, và anh nghe được những tiếng bước chân vững vàng của Holo trên mặt đất.

Lawrence ngẩng đầu lên. Từ bao giờ họ đã đến một khu cây cối mọc thành cụm, và phía trên tán lá, mặt trăng lẩn trốn sau những đám mây. Có vẻ họ đã đến chân núi.

Anh nhớ rằng đi ngựa phải mất vài tiếng mới đến nơi, nhưng tất nhiên, bước chân của Holo dài và mạnh hơn nhiều.

“Chúng ta cứ đường đột vào lãnh địa của nó thế này có ổn không?”

Nếu trên núi thật sự có thứ gì đó, có lẽ việc quan sát từ xa trước khi đến gần sẽ tốt hơn.

“Em chỉ ngửi thấy mùi hươu quen thuộc mà thôi.”

Ngồi trên lưng Holo nên anh không nhìn rõ dưới chân cô, nhưng cơ thể sói mềm dẻo ấy nhún nhảy tránh từng mô đất, từng phiến đá mà chẳng hề làm anh xóc nảy.

Dù ngoài miệng bảo thế, nhưng cô lúc nào cũng âm thầm đảm bảo anh được an toàn.

“Em có xác định được chỗ cái mặt trên bức tranh nằm không?”

“Trước hết chúng ta sẽ lên nơi cao nhất trước. Từ đó nhìn xuống có khi sẽ hiểu thêm nhiều chuyện.”

“Hợp lý đấy.” Lawrence vừa đáp thì Holo tăng tốc. Hoặc có thể chỉ là vì đang leo lên đoạn dốc đứng hơn, nên cảm giác nhanh hơn. Nếu là anh leo bằng đôi chân người, chắc chắn chỉ có con đường gãy chân chứ chẳng vui nổi. Nhưng Holo thì phóng lên như ngựa chạy trên đồng bằng. Chỉ cần cảm nhận qua từng bước chân, từng hơi thở, từng cú vẫy đuôi đầy hứng khởi, Lawrence biết cô đang thích thú vô cùng.

Nơi thuộc về Holo không phải là những thị trấn của loài người.

Anh biết rõ quê hương thật sự của cô luôn ở sâu trong rừng.

“Đến rồi.”

Holo dừng lại ở một khoảng trống thưa thớt cây cối. Trông qua chẳng khác gì một quảng trường tự nhiên. Lawrence chợt nhận ra tay anh đang bám chặt lấy bộ lông cô hơn anh tưởng. Anh từ từ nới lỏng ngón tay, rồi thận trọng trượt xuống khi Holo nằm sấp xuống đất.

Ở đó có nhiều lớp lá mục mềm mại đắp dày lên nhau; chỉ cần đào một chút chắc chắn sẽ có được đất tơi tốt.

“Nhìn chẳng giống một ngọn núi từng bị khai mỏ trơ trụi nhỉ. Chắc nhờ vậy họ mới có thể đào giếng lấy nước dễ dàng như thế.”

Anh hờ chân đá lá khô dưới chân, mấy quả sồi văng ra lăn lóc; khi đã quen dần với bóng tối, anh còn thấy những chồi non đang vươn lên đây đó.

“Không đúng. Đá có lẫn khoáng nằm rải rác khắp nơi, mùi khó chịu của kim loại cứ xộc vào mũi em. Nếu ban ngày, mắt anh chắn chắn sẽ thấy nhiều điều lạ hơn nữa.” Holo vừa cọ mõm vào người Lawrence như đang tìm mùi quen thuộc, vừa nói. Hiểu ý cô, anh đưa tay gãi sống mũi cô, và chiếc đuôi lớn lại phe phẩy đầy vui thích.

“Không biết cái lời nguyền họ nói đến là gì nhỉ… nhưng nếu là phế thải khai mỏ thì chắc họ muốn nói đến ô nhiễm à? Nhưng cây cối vẫn còn nhiều thế này, yên bình đến mức không giống chuyện chính là vậy…”

Ngược lại, cảm giác cứ như nơi đây sẽ có ma nhảy ra bất cứ lúc nào.

“Ừm.”

Holo thôi cọ sát vào anh, ngẩng đầu lên, ánh mắt sắc bén đảo quanh.

“Em không chắc có còn thứ gì nơi đây nữa không… nhưng có một điều chắc chắn là đã từng có.”

Lawrence ngạc nhiên nhìn cô. Holo đáp lại ánh mắt ấy, như đang thúc anh quan sát kỹ khu rừng.

“Những cây mọc trên núi này rất kỳ lạ.”

“Vậy sao?”

“Tự nhiên không thể tạo ra một khu rừng như thế này. Cây ở đây đều là loại rụng lá vào đông và cho quả dạng hạt. Và từ chân núi trở lên, chúng được trồng ngay hàng thẳng lối.”

Cây rụng lá có hạt dùng làm củi rất tốt, lại có thể làm giàn trồng nấm. Và vì chúng đã được trồng một cách đều đặn, khiến Lawrence hiểu ngay:

“Nghĩa là có người trồng chúng. Tức là rừng không tự mọc lại.”

“Hẳn vậy. Và trải dài xa đến mức em nhìn cũng không hết. Em chưa từng thấy khu rừng nào như thế cả.”

Holo, người đã sống cả trăm năm trong rừng sâu, khẳng định điều kỳ quái này.

“Nếu để tự nhiên hồi phục khu quy mô lớn thế này, phải mất hàng thế kỷ. Núi này mới bị khai phá dở dang vài chục năm trở lại đây thôi, đúng không? Chắc chắn có ai đó chăm sóc nó.”

“Dân làng làm à?”

Holo hừ mũi vào Lawrence.

“Họ phải đông bằng tổ kiến thì may ra. Và loài người thông minh lắm. Họ đâu dại chỉ trồng loại cây họ thích. Chỉ trồng một loại duy nhất là điều tệ hại cho đất.”

Cách cô nhấn mạnh từ thích khiến anh chú ý.

“Em đoán được ai làm chuyện này rồi à?”

“Thêm một điểm vô lý trong bức tranh đáng ghét kia được giải rồi đó.” Holo hừ đầy khó chịu rồi đưa ánh mắt trách móc nhìn Lawrence. “Em đã nói phải sửa lại nó từ lúc ở cảng rồi mà. Bức tranh phải được làm cẩn thận; vẽ sai, đời sau hiểu sai câu chuyện là phải.”

Lawrence kinh ngạc vì cô vẫn còn bận tâm chuyện bức tranh, nhưng vẫn hỏi:

“Điểm vô lý nào? Cái mặt ở đỉnh núi? Hay?”

“Thiên sứ bên cạnh cái mặt ấy. Đó đâu phải thiên sứ gì.”

“Nhưng nó có cánh mà?”

“Chỉ do vẽ tệ nên tưởng thế thôi. Đó không phải cánh.”

Có một thứ trông giống cánh đính sau lưng người đang nâng đỡ khuôn mặt Chúa. Nhưng nếu mọi thứ lại không như lầm tưởng ban đầu của họ thì sao?

Lawrence nhìn Holo, và nữ vương rừng già mỉm cười hé ra đáp án:

“Đó là sóc. Đuôi sóc dựng cao lên tận lưng, nhìn xa trông như cánh vậy.”

Ngay khoảnh khắc ấy, Lawrence chợt hiểu điều khiến khu rừng này tạo cảm giác bất thường từ lúc anh đến. Tại sao cây mọc nhanh đến vậy. Tại sao toàn là cây có hạt.

“Bới đất giấu hạt là sở trường của chúng. Một con sóc có thể nhét cả nắm hạt vào miệng rồi mang đi. Nhờ vậy mà công việc trồng rừng mới nhanh đến thế. Không nghi ngờ gì nữa, rừng này là do sóc tạo nên.”

Một phần góc tối của bí ẩn đã được thắp sáng.

Nhưng anh vẫn đau đáu một điều.

“Nếu là sóc, thì dấu răng trên chuông vẫn là ẩn số. Hay có khi đó là dấu móng của nó?”

“Sóc mà phải đi nghiền chuông để khoe khoang sức mạnh hả? Nếu mấy cái móng sóc nhỏ xíu ấy làm ra được lỗ này… thì chắc nó phải to bằng cả ngọn núi mất.”

Thật khó mà tưởng tượng nổi, và dù vậy, anh vẫn không nghĩ ra nổi vì sao chiếc chuông vẫn giữ được hình dáng ban đầu mà không có vết nứt rõ ràng nào.

“Cách nhanh nhất là hỏi chính con sóc ấy thôi. Em có nhận ra nó đang ở đâu không?”

“Mũi em bị mùi kim loại che mất rồi nên không nhạy nữa. Nhưng nó đã tạo ra một nơi đầy thứ ngon thế này, nó chắc chắn đang trốn quanh đây thôi. Nếu được hú một tiếng, em có thể gọi nó từ tận bên kia núi sang.”

Ngay bên kia chân núi là các ngôi làng bình thường nối tiếp nhau. Đất canh tác thì ít, có lẽ vì nguồn nước khan hiếm, nhưng đồng cỏ lại phủ đầy, nên người dân nơi đây nuôi cừu và dê là chính. Nếu họ nghe thấy một tiếng sói tru vang lên thì chẳng khác nào tai ương giáng xuống kế sinh nhai của họ.

“Ta sẽ để đó làm lựa chọn cuối cùng vậy.”

“Vậy chỉ còn cách tự mình tìm thôi. Mà em đoán con sóc đó sẽ tự mò đến nếu chúng ta ngủ lại ở đây.”

Một vùng đất yên bình đầy đồ ngon như thế này nay bỗng xuất hiện một con sói khổng lồ từ đâu đến. Bất kỳ con sóc nào cũng phải chạy tới hỏi xem kẻ lạ mặt này định làm gì.

“Ngủ ngoài trời á? Nhưng anh có mang theo gì đâu… Á!”

Lawrence còn chưa dứt lời thì chiếc đuôi xù của Holo đã quấn lấy anh rồi lật phắt anh ra sau. Nhưng lưng anh lại rơi xuống lớp lông mềm nên chẳng đau chút nào.

“Không hài lòng với việc ngủ trong bộ lông của em sao?”

Holo to lớn quay sang nhìn anh với đôi mắt đỏ và răng nanh.

Lawrence chỉ nhìn qua là biết ngay Holo đang trong tâm trạng gì. Nhưng nếu người ngoài nhìn thấy cảnh này, họ hẳn sẽ nghĩ rằng một lữ khách tội nghiệp sắp bị sói ăn thịt đến nơi rồi.

“Nhắc mới nhớ, lần đầu gặp cô Elsa, ta cũng ngủ như thế này nhỉ?”

Khi đó, họ bị cuốn vào rắc rối giữa làng Elsa và một thị trấn gần đó, rồi phải chạy trốn vội vàng, ngủ giữa rừng.

Lawrence khẽ vuốt lớp lông đuôi mềm mại, mỉm cười nhớ lại. Lập tức, đuôi Holo quất nhẹ vào người anh một cái.

“Anh gan thật đấy, nằm trong lông em mà còn nhắc đến con cái khác.”

Anh đang nằm sát bên hông sói, và từ sâu trong lồng ngực rộng lớn ấy vọng ra tiếng gầm như sấm xa dội lên lưng anh.

“Đêm nay lạnh đấy, nên anh nghĩ làm vậy sẽ ấm hơn chút…”

“Đồ ngốc.”

Holo cuộn người lại, dùng mũi húc nhẹ anh như mắng yêu.

Có vẻ chọc anh thế là đủ, cô khẽ hừ một tiếng rồi vươn vai duỗi bốn chân mạnh mẽ, đôi tai hơi giật giật thích thú.

“Lâu lắm rồi mới được như thế này.”

Holo trông rõ ràng là đang rất vui.

Ở Nyohhira, thỉnh thoảng cô sẽ nhận vài việc vặt rồi vào núi hóa sói dạo chơi, nhưng Lawrence hiếm khi cùng đi. Lại thêm việc có nhiều khách ở Nyohhira, và vài người trong đó thi thoảng lại lên núi chơi, nên số lần cô được hóa thành dạng sói ngày càng hiếm hơn.

Khi Holo siết anh lại trong cung lòng đầy lông ấm áp, Lawrence không nhịn được thì thầm, “Anh tưởng em ghét làm thế này cơ.”

Con người là con người. Còn sói là sói.

Cả hai luôn cố tránh để sự thật hiển nhiên đó xuất hiện quá rõ ràng trước mắt mình.

Holo hơi nhấc đầu lên khi nghe vậy, nhưng giữa chừng lại đổi ý; cô thả lỏng, đặt cằm lên lớp lá khô bên dưới.

“Tùy tâm trạng của em nữa.”

Đôi mắt đỏ hơi nheo lại, lấp lánh một vẻ tự giễu dí dỏm. Quả thật, mỗi khi tâm trạng xấu, dù ở Nyohhira, cô cũng sẽ hóa sói rồi đi tắm suối nước nóng để quên đời.

“Vậy đúng là đặc quyền của bậc Nữ Vương đấy.” Anh vừa nói vừa vuốt ve lông cô, và đuôi cô run lên đầy thích thú.

“Anh đúng là đồ ngốc.” Holo thở dài khe khẽ, nhưng khoé miệng lại cong lên, rồi cô nhắm mắt lại.

Lawrence khẽ cười, thả lỏng người và tựa vào cô.

Hơi ấm dịu dàng từ lớp lông thoang thoảng mùi rừng bao bọc lấy anh, khiến cơn buồn ngủ nhanh chóng kéo đến.

~~~

Ý tưởng của Holo—ngủ lại trên núi để cho bất cứ thứ gì từng sống ở đây tự tìm đến—hóa ra lại chính xác. Khi bình minh ló rạng, Lawrence để Holo dẫn mình tới một con suối không sặc mùi kim loại rồi nhóm lửa bên cạnh. Vừa lúc anh đang nướng con thỏ rừng bắt được tối qua thì Holo phát giác điều gì đó.

Holo đang chăm chú quan sát con thỏ nướng, cái đuôi to đùng cứ đập phành phạch lên xuống, thì đột nhiên ngẩng đầu lên. Lawrence còn chưa kịp mở miệng hỏi thì cô đã lao vút đi. Cách cô chuyển động hoàn toàn khác lúc cõng anh leo lên đỉnh núi. Như một cơn gió mạnh, lá khô tung bay rối loạn, còn bóng cô thì biến mất trong chớp mắt—phản xạ và sự lanh lợi chuẩn mực của một bậc thợ săn bậc thầy trong rừng.

Lawrence sững người một thoáng, nhưng rồi tự nhắc mình rằng Holo sẽ không bao giờ lạc trong núi, và càng không đời nào bỏ lỡ nơi đang có thịt nướng thơm phức. Thế nên anh lại tập trung vào miếng thịt đang chín vàng, và khi chuẩn bị cắn lén một miếng đùi bóng mỡ thì anh thoáng thấy hình như đôi tai của Holo đang ló lên bên mép vách đá cạnh dòng suối. Ngay sau đó toàn thân cô cũng lộ ra.

“Ồ, mừng… quay lại nhé?”

Holo đang ngậm trong miệng một con sóc khổng lồ mà từ trước đến giờ anh chưa từng thấy bao giờ.

“Nó đến để xem chúng ta là ai.”

Cô cắp con sóc đúng chỗ da gáy, và dù đã được đặt xuống đất, nó vẫn cuộn tròn bất động.

Chiếc đuôi to bằng cả cơ thể đặc trưng của nó run nhẹ, còn toàn thân thì co rụt lại, lấy hai tay ôm đầu.

Nếu con sóc này đứng thẳng dậy, nó chắc chắn sẽ cao vượt Lawrence, thế nhưng hiện giờ, trông nó chẳng khác gì một cục lông tròn xoe.

“Nó có hiểu tiếng người không?”

“Chui ra đi.”

Holo lấy mũi chọc vào nó một cái. Đầu nó bật lên, và khi đôi mắt nó chạm vào ánh mắt của Lawrence, anh lập tức hiểu ra. Trong ánh nhìn đó rõ ràng có linh trí.

“Bọn ta không đến đây để gây hại cho khu rừng này,” Lawrence lên tiếng, và cái miệng nhỏ xíu—hoàn toàn không cân xứng với thân hình quá khổ—hé mở nhưng chẳng phát ra âm thanh nào. “Và tất nhiên, con sói kia sẽ không lấy mạng của ngươi đâu.”

Con sóc ngậm miệng lại rồi liếc sang phía Holo.

“Còn tuỳ.”

Cô nhe răng cười, để lộ hàm nanh sắc nhọn. Chỉ từng đó là đủ khiến con sóc lại co người, cuộn tròn như lúc ban đầu.

“Này,” Lawrence cảnh cáo một tiếng, và cô liền khẽ hừ, rồi ngồi xổm xuống phía sau Lawrence, để con sóc nằm ở phía đối diện anh.

Cuối cùng, con sóc cũng ngẩng đầu lên một chút, nhìn Lawrence.

“Ngươi… là con người?”

Điều nó thật sự muốn hỏi chính là tại sao một con người lại đi cùng sói?

“Ta từng là một thương nhân, giờ là chủ một nhà tắm—tên ta là Kraft Lawrence.” Anh tự giới thiệu rồi chìa tay ra. Đôi mắt tròn xoe dễ thương của con sóc nhìn qua nhìn lại giữa khuôn mặt Lawrence và bàn tay anh một hồi lâu, rồi rụt rè đưa một chân ra. Bàn chân nó, nhỏ so với kích cỡ cơ thể, nhưng vẫn to hơn tay Lawrence một chút.

Nhân cơ hội ấy, Lawrence kín đáo quan sát móng vuốt của nó, và anh có cảm giác rằng từng ấy móng vuốt bé nhỏ thì không thể nào tạo ra các lỗ thủng trên cái chuông được.

“Rất hân hạnh được gặp. Còn đây là… ờ…” Lawrence hơi ngượng, khụ nhẹ một tiếng. “Vợ ta, Holo.”

Đó chính là lần đầu tiên trong đời Lawrence phát hiện rằng sóc cũng biết trợn tròn mắt kinh ngạc.

~~~

Con sóc, vốn vừa ngạc nhiên đến mức suýt ngất, lập tức hoàn hồn trở lại.

“Một con người… và một con sói…! Một con người và một con sói!”

Nó đảo mắt hết nhìn Lawrence lại sang Holo, cái cơ thể tròn vo như quả bóng của nó dường như cũng nảy lên theo từng tiếng kêu. 

Nếu Lawrence phán đúng, thì trông nó còn như đang hết sức mừng rỡ nữa là đằng khác.

“Vậy là giấc mơ một con người và một con sóc ở bên nhau của ta không chỉ là mơ nữa rồi!”

Đến lượt Lawrence sững người. Anh theo phản xạ quay lại nhìn Holo, cô có vẻ lại hứng thú với ý tưởng kỳ quặc ấy.

“Heh-heh… nhưng mà, nếu ta với sư phụ thì có hơi táo tợn quá không nhỉ…? Ấy nhưng mà…” nó vừa nói vừa xoa hai bàn tay bé nhỏ, còn cái đuôi thì cuộn lại phía trước ngực.

Những lời đồn về thứ gì đó trên ngọn núi nguyền rủa này canh giữ lãnh địa và giết hại kẻ xâm nhập nổi tiếng đến vậy. Thế nhưng một kẻ như con sóc này lại chẳng giống thủ phạm chút nào.

“Ờm.” Lawrence khẽ gọi để kéo nó trở lại với thực tại, nhưng con sóc giật bắn người, đứng thẳng dậy như bị điện giật, mắt chớp liên hồi.

“X-xin lỗi!” Nó cúi gằm đầu rồi ngẩng lên nhanh đến mức tưởng như gãy cổ. “Đúng rồi! Không phải lúc tám chuyện đâu!” Nó nhảy tại chỗ rồi xù cái đuôi to lên đến mức còn lớn hơn cả cơ thể. “Làm ơn dập lửa ngay đi! Thiên sứ trên núi sẽ nổi giận mất!”

Cụm từ thiên sứ trên núi lập tức khiến Lawrence chú ý, nhưng ánh mắt hốt hoảng của con sóc cho thấy giờ chưa phải lúc hỏi dồn.

Muốn nghe nó nói hết, tốt hơn hết là làm theo trước.

“Hiểu rồi. Holo?” Lawrence lên tiếng.

Với một tiếng thở dài khó chịu, Holo há miệng nuốt trọn con thỏ nướng trong một phát, rồi thò chân trước xuống suối múc nước dập tắt đám lửa.

“Như vậy được chưa?”

“Được, được rồi, giờ chắc không sao nữa đâu.” Con sóc thở phào rồi nhìn Lawrence với vẻ áy náy. “Và… hai ngươi có thể rời khỏi đây được không? Thiên sứ núi mà tức giận thì không hay đâu.”

Lại câu đó nữa, nhưng anh không thể bỏ qua được.

“Thiên sứ của ngọn núi có phải là một khuôn mặt râu ria không?”

Con sóc trợn mắt nhìn trống rỗng trong giây lát, rồi nghiêng đầu.

“Ờm… Thiên sứ thì ta chưa từng thấy bao giờ. Còn ngươi thấy chưa?”

“…”

Họ đang không nói chung một chủ đề mất rồi. Không nghi ngờ gì, chính con sóc này đã trồng những cánh rừng phủ khắp ngọn núi, và rất có thể chính nó là sinh vật đứng bên cạnh cái mặt kỳ dị trong bức tranh ở nhà thờ chính tòa.

Vậy cái mặt ấy chính là thiên sứ trên núi ư?

“Chính ngươi là kẻ đã trồng cây trên núi này, đúng không?”

“Ồ phải! Phải đó! Ngày xưa núi trọc lóc chả có gì, giờ lại xanh tốt thế này! Nhất định sư phụ sẽ khen ta cho xem!”

Nó nhún cả thân hình mập ú lên xuống đầy tự hào. Lawrence phải mất mấy giây mới hiểu là nó đang cố gắng bật nhảy. Có vẻ sống giữa một ngọn núi toàn là hạt dẻ, hạt sồi trải khắp tầm mắt khiến nó hơi ham ăn quá mức.

Nhưng Lawrence lại chú ý đến một điều khác:

“Sư phụ mà ngươi nhắc tới là ai?”

“Là sư phụ đã nhận ta làm học trò!”

Ngay cả với gương mặt sóc, nó vẫn có thể nở một nụ cười rạng rỡ đủ để khiến người đối diện mềm lòng. Lawrence cũng suýt bị kéo theo cảm xúc ấy, nhưng anh cần thông tin để giải mã bí ẩn nơi đây.

“Sư phụ ngươi… là con người? Một thợ thủ công gì đó chăng?”

“Phải. Sư phụ có một năng lực phi thường—hình như gọi là giả kim thuật!”

Con sóc nói đầy hân hoan, còn Lawrence thì nuốt khan một cái.

Giờ anh đã biết vậy là truyền thuyết khắc trong bức họa nhà thờ không hề bịa đặt.

“Ngươi cũng là một nhà giả kim sao?”

Câu hỏi ngây thơ ấy khiến Lawrence lập tức căng người. 

Một sinh vật không phải người, tính tình có vẻ thân thiện và hơi ngốc một chút.

Nhưng đó chỉ là thái độ của những kẻ vốn xem đối phương là đồng minh. Trong những câu chuyện gặp gỡ yêu quái giữa rừng sâu, việc sinh vật ấy đổi sắc mặt chỉ vì kẻ trước mặt không còn là bạn bè vốn là điều quá đỗi tự nhiên.

Nếu Lawrence lỡ lời khai rằng họ không phải là những nhà luyện kim, và con sóc đột nhiên giương móng vuốt về phía họ… Ý nghĩ ấy vừa lướt qua trong đầu anh thì…

“Chúng ta đang rất vội. Nếu ngươi không nói hết những gì ngươi biết, có lẽ ngươi sẽ cùng chung số phận với con thỏ vừa rồi đấy!”

Holo bước lên đứng chắn trước mặt Lawrence, há rộng miệng để lộ rõ bộ răng nanh sắc lẹm, dồn con sóc vào thế không còn đường lui.

Chỉ từng đó thôi đã đủ để khiến con sóc giật ngửa, đôi mắt tròn xoe ấm áp của nó mở to vì sợ hãi.

“Này, Holo,” Lawrence vội vàng nhắc nhở cô, nhưng Holo chỉ liếc sang anh bằng đôi mắt đỏ.

“Đồ ngốc. Nghĩ lại xem về những lời đồn trên ngọn núi này đi. Nếu ai bước vào mà không quay lại, vậy kẻ nào chôn họ đây? Ngay trước mắt ta đây, có một kẻ chuyên đào hố chôn đồ ăn của nó đấy!”

Người là người. Sói là sói. Và phi nhân thì… không phải con người.

Holo đã ưu tiên lo lắng cho Lawrence chính bởi cô không phải là con người.

Dù theo một nghĩa nào đó, cô đang bảo vệ anh, nhưng anh lại thấy có chút gì đó chua xót.

“T—Ta chưa từng làm chuyện đó bao giờ…” Giọng sóc phát ra từ dưới lớp lá mục nơi nó vùi đầu xuống. “T—Ta, thật ra… chỉ dọa những kẻ đi lạc lên núi bằng cách giả tiếng gấu thôi mà…” con sóc tròn ú ấy thú nhận, đầu vẫn giấu kỹ dưới lá còn chiếc đuôi thì run lên cầm cập.

Holo có thể nghe được những lời dối trá, kể cả khi đối phương là một con sóc.

“Sao?” Lawrence hướng ánh mắt sang Holo, cô chỉ thở dài qua mũi.

“Nếu nó nói là giả làm sói, em đã cắn bay cái đầu nó rồi.”

“T-tất nhiên ta không dám như vậy rồi…”

Đôi mắt con sóc ngân ngấn nước, khiến bản năng bảo vệ của Lawrence bị khuấy động.

“Holo, đừng dọa nó quá mức chứ.”

“Hứ.”

Dù có là giả vờ hung dữ đi nữa, thì bộ răng ấy vẫn rất có tác dụng, nhất là với loài sóc chuyên leo cây nhặt hạt trong rừng.

“Xin lỗi vì đã đối xử hơi thô lỗ.”

“…”

Lawrence đưa tay ra lần nữa. Con sóc nhìn anh rồi lại nhìn Holo, vẻ lúng túng rõ ràng.

“Bọn ta đến theo yêu cầu của những người trong nhà thờ. Họ biết có lời đồn về lời nguyền trên núi, nên muốn bọn ta kiểm chứng xem bao nhiêu phần là thật.”

Con sóc nắm lấy tay Lawrence, rồi vịn vào đó đứng dậy. Vẻ mặt lo lắng khiến nó trông có vẻ sợ Holo hơn là khi nghe đến chuyện Lawrence đến theo lệnh nhà thờ.

“Vậy tức là… hai ngươi định đuổi ta khỏi ngọn núi này sao…?”

Hai bàn tay nhỏ bé ôm vào trước ngực, nó ngước đôi mắt tròn xoe cầu khẩn nhìn Lawrence.

Đúng lúc đó, anh hiểu vì sao Holo từ ban đầu đã khó chịu như vậy.

Cô vốn không muốn leo lên ngọn núi này. Đó là vì cô đã biết trước sẽ xảy ra điều này nếu tất cả lời đồn đều do một kẻ phi nhân sống trên núi mà ra.

Anh quay sang nhìn Holo, cô chỉ hậm hực quay mặt đi, ánh mắt như nói thẳng, “Em đã bảo rồi mà.”

Nhưng Lawrence cũng từng bảo cô trên đường tới đây: “Nếu không phải bọn mình đi thì sẽ còn tệ hơn nhiều.”

Lawrence hắng giọng rồi hướng ánh nhìn kiên định trở lại con sóc lo lắng ấy.

“Đừng sợ. Vợ ta, Holo cũng từng bị người ta xua khỏi cánh đồng lúa nơi cô ấy sống suốt hàng trăm năm. Ta là thương nhân quen lăn lộn chốn nhân thế, còn cô ấy là một vị sói từng được xưng tụng là sói thông thái. Bọn ta chỉ muốn tìm hiểu kỹ lưỡng mọi chuyện về ngọn núi này và giúp đỡ ngươi trong khả năng của mình.”

Một con người và một con sói khổng lồ tự xưng là vợ chồng, xuất hiện chốn núi rừng hoang dã—đúng thật là một cặp đôi kỳ lạ.

Lawrence còn đang nghi ngờ liệu con sóc có tin họ hay không thì cái mũi của nó khẽ giật và nó nở nụ cười.

“Mùi của hai ngươi gần gũi lắm. Chắc chắn không phải kẻ xấu đâu.”

Ngạc nhiên trước điều đó, Lawrence bất giác cúi xuống ngửi áo, nhưng anh chẳng phát hiện ra gì. Người anh mang toàn mùi Holo vì tối qua đã ngủ trong bộ lông cô.

Trong khi họ nói chuyện, Holo thì thúc đầu Lawrence một cái.

“Mũi ngươi thính đấy chứ.”

Con sóc chớp mắt, rồi thu nhỏ vai lại như muốn bé xíu đi.

“Nhưng chúng ta không thân đến thế đâu. Chỉ là tên ngốc này không thể rời bỏ ta thôi.”

Holo huých Lawrence vào một chỗ không rõ là đầu hay lưng, nhưng xem ra cô đang vui vì hai người được nhận là một cặp thân mật. Thấy chiếc đuôi của cô vẫy qua lại rất thật lòng, Lawrence hiểu tốt nhất không nên nói thêm gì nữa.

“Còn tên của ngươi?” Holo hỏi, sau khi trêu Lawrence xong.

Con sóc chớp mắt liên tục rồi gật đầu.

“T-ta tên là Tanya!”

“Đó là một cái tên thời thượng đấy chứ.”

Lawrence thầm nghĩ đó là một cái tên vô cùng dễ thương, và khi anh nhìn thấy con sóc mỉm cười, mọi nghi ngờ rằng nó có thể mang một cái tên nào khác ngoài Tanya đều lập tức tan biến. Quả thực là một cái tên tuyệt vời.

“Đó là do sư phụ đặt cho ta. Người bảo nó hoàn toàn hợp với hình dạng con người của ta.”

Ngay chính lúc Lawrence còn ngạc nhiên vì chuyện nó có thể hóa thành người, thì sự biến đổi đã bắt đầu.

Anh chỉ cảm giác như có một cơn gió nhẹ thoảng qua, và rồi trước mắt anh là một cô gái với mái tóc xoăn mềm màu hạt dẻ xõa xuống tận lưng, cùng gương mặt hiền hòa.

“Thế nào?”

Cô gái nở một nụ cười trong sáng, nhưng gương mặt Lawrence lại hơi căng lại. Không phải vì Tanya đổi sang dáng người một cách dễ dàng như vậy. Mà vì anh đã hiểu ra, vị giả kim thuật sĩ kia không đặt cho cô ấy cái tên mềm mại như Tanya chỉ vì nụ cười kia.

Và anh cũng hiểu vì sao phía sau lưng mình, Holo đang phát ra một tiếng gầm trầm thấp và đầy đe dọa.

“Còn ta là Holo, Hiền giả Sói Holo!”

Ngay khoảnh khắc Holo nhe nanh ra, Tanya liền ngã lăn và trở lại nguyên hình sóc tròn vo.

Lawrence biết chính xác điều gì khiến Holo nổi giận như vậy.

Tanya đã ăn uống thỏa thích trên đống hạt dồi dào của khu rừng này.

Còn Holo thì vốn dĩ chẳng có được cái thân hình đầy đặn, mượt mà kia.

~~~

Tanya thì sợ Holo đến muốn xỉu, nhưng sau khi Lawrence giải thích rằng không mặc quần áo trước mặt khác giới chẳng khác nào quyến rũ người ta, cuối cùng anh cũng dỗ dành được Tanya bình tĩnh lại.

Còn có một lý do khác hoàn toàn khiến Holo tức giận, nhưng cô cũng hiểu chính mình đang bực bội một cách ngớ ngẩn. Khi Tanya líu ríu xin lỗi, nói rằng cô ấy không hề có ý quyến rũ Lawrence, Holo mới chịu miễn cưỡng bỏ qua.

Mọi chuyện đã giải quyết xong, nên rốt cuộc họ có thể quay lại điều quan trọng nhất—ngọn núi.

“Sư phụ và những người khác đột nhiên xuất hiện trên núi một ngày nọ. Khi đó cũng chưa lâu kể từ khi con người rời khỏi nơi này. Chính lúc ấy ta mới bắt đầu gieo hạt cây.”

Tanya đi phía trước, dẫn Lawrence và Holo đến một nơi có thể là điểm khởi đầu của cả truyền thuyết này.

“Khi ấy vẫn còn người đến moi móc mấy mẩu kim loại sót lại, và ta chẳng biết phải làm sao. Họ cứ nhổ hết những mầm cây ta vừa trồng lên…”

Đuôi của Tanya cụp xuống, ủ rũ.

“Rồi sư phụ nói với ta rằng việc ta trồng cây là rất tốt, phải tiếp tục nữa. Vì ở trên núi này có một thiên sứ rơi xuống từ bầu trời, và dù đang ngủ, nhưng sẽ nổi giận kinh khủng nếu toàn bộ cây cối biến mất.”

Đó chắc là nguồn gốc câu chuyện thiên thần sa ngã. Nhưng Lawrence khó tưởng tượng ra thiên sứ nào lại tức giận vì mất cây cối.

“Sau đó người bảo, nếu làm thiên sứ nổi giận thêm thì sẽ nguy to, nên chúng ta cần giúp con người hiểu ra và đừng để họ lên núi nữa.”

Tanya lại loay hoay trèo qua một tảng đá chắn đường. Holo tóm được cô ấy nhanh đến vậy có lẽ chẳng phải do bản năng săn mồi.

“Rồi sư phụ và mọi người kiếm đâu ra than củi, trích kim loại từ mấy tảng đá còn sót trên núi, rồi tạo ra một cánh cổng lớn. Ta đã canh giữ cánh cổng ấy suốt từ đó đến giờ.”

“Cổng ư?”

“Vâng. Chắc sắp thấy rồi đấy.”

Sóc Tanya dĩ nhiên đi bằng bốn chân, còn Lawrence thì nỗ lực không nhìn vào chỗ thịt mềm mỗi khi nó lắc lư lúc cô ấy bước đi, vì ký ức về hình dạng con người kia khiến anh mất bình tĩnh không ít. 

Anh còn nghe thấy tiếng Holo gầm gừ phía sau, nên đã ra sức nhìn thẳng về trước.

“Sư phụ đã gọi thiên sứ từ cánh cổng xuống và cho con người thấy nó đáng sợ thế nào. Ta thì không thấy thiên sứ đâu, hehe… Nhưng cảnh mọi người hoảng loạn thì thật tuyệt. Sư phụ đúng là đại giả kim thuật sư.”

Tanya quay lại, nụ cười đầy hãnh diện.

Có vẻ Tanya đã chứng kiến ngọn núi bị khai thác đến cạn kiệt, chỉ biết bất lực nhìn rừng núi tàn lụi. Khi con người cuối cùng rời đi, cô ấy liền tất bật trồng lại rừng. Nhưng thỉnh thoảng vẫn có người quay lại tìm kiếm chút kim loại thừa, giẫm nát công sức của cô.

Rồi nhóm giả kim thuật xuất hiện và đã cứu Tanya.

Có lẽ mọi chuyện đã diễn ra như vậy.

“Thiên sứ đó có phải đã làm gì cái chuông ở nhà thờ không?”

Lawrence hỏi, Tanya liền dừng lại rồi quay phắt lại.

“Đúng! Ta giật mình lắm đó! Khi thiên sứ xuất hiện từ cổng, ngài đã phóng ra ánh sáng phán xét!”

Ánh sáng gì cơ?

“Nó không phải cắn chuông à?”

“Cắn?” Tanya nghiêng đầu, mũi giật giật. “Ừm. Ta không rõ… Có thể ta không để ý thôi. Nhưng ta nhớ là khi sư phụ mở cổng, thiên sứ xuất hiện cùng ánh sáng rực rỡ, rồi người dưới tháp chuông hoảng loạn. Mấy người quan trọng của nhà thờ quỳ mọp trước sư phụ. Sau đó thì gần như chẳng ai dám đến núi nữa. Đúng như sư phụ nói!”

Nó nghe chẳng khác gì một câu chuyện cổ tích, một tích truyện về thánh nhân bị trộn lẫn lung tung. Ví như có truyền thuyết kể rằng thánh nhân từ trong hang, giữa nguồn sáng chói lòa, hiện ra và chữa lành thứ dịch bệnh đang hoành hành trong dân chúng.

Tương tự như vậy, cô ấy nói rằng thiên sứ xuất hiện từ cánh cổng do các giả kim thuật sư tạo ra và đã phóng ra ánh sáng phán xét lên tháp chuông của nhà thờ, khiến mọi kẻ chứng kiến phải run sợ. Nếu vậy thì Lawrence có thể hiểu được vì sao họ lại miêu tả thiên sứ ấy như kẻ từ bầu trời rơi xuống.

“Nhưng tại sao sư phụ của cô… ý tôi là những giả kim thuật sư, lại ở đây?”

“Sư phụ và những người khác đang nghiên cứu bầu trời.”

“Bầu trời?”

“Họ xây cổng thiên sứ vào ban ngày, rồi dành suốt đêm ngắm sao. Chắc họ đang tìm xem thiên sứ rơi xuống từ nơi nào đó.”

Tanya hồn nhiên cười. 

Mọi lời kể đều khớp với điều họ đã biết. Nhưng Lawrence càng nghe càng khó hiểu.

Bởi giả kim thuật sư là những người chẳng tin thần thánh. Nếu phải kể tên một nhóm người trên đời này chẳng có một chút đức tin nào vào sự tồn tại của Chúa hay các thiên thần, thì các giả kim thuật sư sẽ đứng đầu hàng.

“Giờ sư phụ của cô đang ở đâu?” Lawrence hỏi, và vẻ mặt Tanya lập tức sa sầm. Đuôi cô ấy rũ xuống như lá héo.

“Ta không biết… Họ rời đi không lâu sau đó, bảo rằng phải nghiên cứu bầu trời khắp thế gian. Ta muốn họ ở lại mãi… Trời ở đâu mà chả giống nhau chứ?”

Tanya ngước nhìn bầu trời, nhận ra hôm nay lại là một ngày trời mây xám xịt nữa.

Cô ấy thở dài rồi lại tiếp bước.

“Cánh cổng ở ngay phía trước thôi.”

Lawrence nối bước, lá mục mềm lún dưới chân. 

Holo đi chậm phía sau; suốt từ nãy không nói gì.

“Đây rồi. Xin chờ một chút.”

Tanya chạy lên phía trước, cật lực hất những lớp lá khô sang bên. 

Holo lách qua Lawrence, phì mạnh một hơi.

“É!”

Làn gió đủ mạnh làm thân thể tròn xoe của Tanya rung lên, toàn bộ lá rụng lập tức bị thổi bay sạch. Lawrence hơi bất mãn vì cô hơi mạnh tay, nhưng anh lập tức mở to mắt trước thứ lộ ra bên dưới.

“Đây là cánh cổng ư?”

Một chiếc đĩa kim loại khổng lồ màu xám đậm, đường kính cao ngang người Lawrence bị chôn xuống đất. Những hoa văn khắc trên đó vô cùng tinh xảo. Có lẽ đây chính là gương mặt kỳ dị xuất hiện trên bức tranh trong nhà thờ?

Nhưng mà…

Lawrence do dự vì hình chạm khắc là một thiếu nữ.

“Đây là thiên sứ ngươi nói đến sao?” Holo hỏi.

Cô gái được chạm khắc trên cánh cổng có độ tinh xảo tương xứng với kích thước đồ sộ cùng tay nghề điêu luyện của tác phẩm—trông hệt như một bức họa được vẽ phủ lên bề mặt vậy. Cô gái ấy với mái tóc dài và biểu cảm dịu dàng, đôi mắt khép lại như đang ngủ say, trông giống một vị thánh hơn là một thiên sứ.

“Không, đó là đệ tử xuất sắc nhất của sư phụ,” Tanya nói trong khi nhấc một bên của chiếc đĩa khổng lồ ấy dựng đứng lên. Điều khiến Lawrence kinh ngạc không phải là sức mạnh của Tanya, mà là trước đó anh đã cho rằng vì được gọi là cổng, nó phải che chắn một lối đi dẫn xuống lòng đất.

Thế nhưng, nó chỉ là một chiếc đĩa đơn thuần.

Holo cúi đầu sát vào để đánh hơi, men theo mép vòng ra phía sau, rồi đôi mắt đỏ của cô trợn lớn.

“Nhìn đi.”

Theo lời gọi của Holo, Tanya xoay chiếc đĩa lại.

“Ồ.”

Ở mặt sau là hình điêu khắc gương mặt dữ tợn của một người đàn ông râu rậm chiếm trọn toàn bộ chiếc đĩa.

“Họ đã chạm khắc thứ này để dùng khi triệu hồi thiên sứ.” Tanya nói với giọng vô tư đầy hào hứng, nhưng Lawrence và Holo thì chỉ lặng lẽ nhìn nhau.

Cuối cùng, phần lớn những vai trò từng xuất hiện trong bức bích họa đã được xâu chuỗi lại với nhau.

“Nhưng họ cũng phải đảm bảo thiên sứ sẽ không thoát khỏi cổng sau khi hoàn thành việc, nên sư phụ đã chạm khắc hình đệ tử ưu tú nhất ở mặt còn lại.”

“…Cô gái này có liên quan đến việc giữ thiên sứ trong cổng sao?”

“Vâng. Đệ tử ưu tú nhất của sư phụ có hình dạng con người, nhưng giống như ta, sư tỉ không phải người. Cô ấy là một con mèo đến từ tận phương nam xa xôi, nơi chẳng có gì ngoài cát.”

“Ồ?”

Sự hứng thú của Holo lập tức bị khơi dậy khi nghe nói người đệ tử ấy không phải người. Một giả kim thuật sư đi cùng phi nhân thì rõ ràng cũng sẽ chẳng lấy làm lạ khi gặp Tanya trong núi, và chắc hẳn cũng sẵn sàng giúp đỡ.

“Vì thiên sứ có cánh, nên nó yếu đi trước loài mèo.”

Tanya vẫn cười tươi rói, còn Lawrence thì mải mê nhìn những đường nét chạm trổ người con gái kia. Không chỉ có chất lượng nghệ thuật tuyệt hảo, mà còn có một thứ không chỉ đơn thuần là nét kiều diễm nhưng là cảm giác hạnh phúc của người mẫu như tỏa ra cả trong hình ảnh tĩnh lặng ấy.

Một giả kim thuật sư nhân loại cùng một phi nhân đồng hành.

Dẫu vậy, lý do mèo chế ngự thiên sứ có cánh chim nghe khá gượng ép.

Ngọn lửa hào hứng trong lòng Lawrence khi nghe chuyện về thiên sứ bỗng nguội đi nhanh chóng. Rất có thể việc chiếc đĩa này là cánh cổng và thiên sứ bị giam giữ phía sau chỉ là thêu dệt mà thôi.

Bởi vì anh biết một lý do đơn giản hơn nhiều để vị giả kim sư ấy chạm khắc hình dáng đệ tử mèo mà ông ta hết mực tự hào lên mặt còn lại của cổng.

“Vậy thiên sứ ở bên dưới à? Đừng nói nó là côn trùng đấy?” Holo hỏi, giọng đầy chán ghét, móng vuốt cào mạnh lớp đất nơi chiếc đĩa từng nằm. Suốt lúc ở cạnh suối, cô đã lật không biết bao nhiêu hòn đá để tìm chỗ ngồi, và mỗi lần như vậy lại kêu lên một tiếng đầy đáng yêu. Không phải vì cô là gái thành thị sợ côn trùng, mà vì cô ghét bọ chét hay ký sinh nào bén mảng lên đuôi mình.

“Không… Nó không ở dưới đất đâu. Chính thứ này đây, cánh cổng ấy.”

“Hửm?”

“Em sẽ hay bắt gặp nhưng câu chuyện kiểu này trong sự tích của dân ngoại thôi. Người ta nói chỉ cần treo lên một chiếc gương đồng được đánh bóng kỹ, nó có thể trở thành cửa sổ thông đến thế giới của thần linh…” Lawrence nói rồi quay sang Tanya. “Cô Tanya, cô đã canh giữ cánh cổng này suốt thời gian qua sao?”

“Vâng. Mỗi ngày ta đều đánh bóng nó, và…”

Tanya nhẹ nhàng đặt đĩa xuống, thò tay vào khe đá cạnh đó và lôi ra một cái bao gai cũ rách. Bên trong là đủ loại búa và đục.

“Ta giữ cho đệ tử ưu tú của sư phụ luôn thật sạch sẽ, để cô ấy đảm bảo thiên sứ không thoát ra được, và dạo này ta còn chạm thêm hoa văn quanh viền nữa.”

Lúc này Lawrence mới nhận ra, chính những họa tiết hoa như vòng hoa bao lấy cô gái kia khiến toàn bộ bức chạm trở nên rực rỡ lạ thường. Độ tinh vi của những nét khắc ấy đến mức Holo, với bản tính thiếu kiên nhẫn, bỏ cuộc chỉ sau một ngày thử.

Đồng thời, trong đầu Lawrence chợt xâu chuỗi thêm hai điểm nữa.

Đó là một trong những truyền thuyết ám ảnh ngọn núi này đã bao năm.

Tiếng leng keng của những hồn ma vẫn miệt mài khai quặng giữa đêm khắp dãy núi.

“Có phải cô thường làm việc này vào ban đêm không?”

“Vâng. Ta đâu muốn để loài người nhìn thấy mình chứ.”

Tanya nói đầy tự hào, còn Lawrence đưa mắt nhìn Holo.

Holo chỉ phì mũi, ra điều hiểu rõ tất cả.

“Trong trường hợp đó, cô Tanya, như vậy nghĩa là cô không biết cách mở cánh cổng này?”

“Đúng vậy. Nhưng khi sư phụ dạy ta dùng đục, người có nói sẽ nhất định quay trở lại để dạy em tiếp. Đến khi đó, em phải bảo dưỡng cánh cổng và tiếp tục trồng cây trên núi.”

Những mũi đục Tanya đang cầm đã mòn đi trông thấy. Cái bao gai mà có lẽ chính vị giả kim ấy đã tặng cũng đã mục nát, chỉ còn vừa đủ để chứa đồ.

Theo những gì nghe được tại quán trọ, và theo ghi chép mà Elsa tìm thấy trong nhà thờ về việc đúc chuông, Tanya hẳn đã gặp vị giả kim ấy từ khoảng năm mươi đến sáu mươi năm trước.

Nhân loại đâu sống lâu như vậy. Trừ khi ông ta tìm được Hòn đá Giả kim trong truyền thuyết, thứ được đồn mang lại tuổi xuân vĩnh cửu, bằng không ông ấy chắc chắn sẽ không bao giờ quay lại ngọn núi này nữa.

Lawrence suýt nữa đã thốt câu đó, nhưng anh kịp dừng lại.

Không chỉ vì Holo đang ở đây mà còn bởi anh không muốn cướp đi nụ cười thanh khiết trên mặt Tanya.

“Những hoa văn đó thật đẹp. Tôi chắc rằng khi sư phụ trở lại, ông ấy sẽ khen cô hết lời.”

Ngay khi Lawrence nói vậy, chiếc đuôi mềm mại của Tanya dựng thẳng lên vì vui mừng và cô bật nhảy tại chỗ.

~~~

Tanya vẫn còn rất nhiều điều muốn kể cho bọn họ, nhưng rất nhanh họ nhận ra Tanya vốn chẳng được các giả kim thuật sư dạy lại bao nhiêu chi tiết. Hơn nữa, chiếc đĩa ấy cũng không khác gì một khối kim loại lớn, hầu như không thể có cơ chế bí ẩn nào ẩn sau nó.

Khi anh ngồi nhìn Tanya cặm cụi đục khắc, Holo đánh hơi khắp khu vực nhưng cuối cùng cũng chẳng tìm được gì. Khả năng cao trên ngọn núi này hoàn toàn không tồn tại một thiên sứ sa ngã nào cả.

Vậy nên Lawrence và Holo đành đợi đến khi mặt trời lặn rồi mới xuống núi.

Tanya tiễn hai người đến tận chân núi và tặng cho họ một cái giỏ đan bằng vỏ cây, đầy ắp hạt dẻ làm quà. Lawrence suýt nữa bật cười vì trông y như truyện cổ tích, nhưng đó là tấm lòng của cô ấy để nhờ cậy họ quan tâm đến ngọn núi.

Khi nhìn Tanya quay trở lại với bóng núi trong đêm đen một mình, anh cảm thấy nhói nơi lồng ngực.

Từ trước cả khi Lawrence ra đời, thậm chí xa hơn cả thời của ông nội anh, Tanya đã sống đơn độc trên ngọn núi ấy.

Thế mà, trong khi cô ấy cứ mãi đợi người thầy giả kim mà mình kính trọng quay lại, thì chính cô ấy và cả ngọn núi đều bị thời gian vùi lấp.

“Anh yêu.” Holo gọi khẽ khi hai người lặng lẽ lướt đi dưới tán cây nơi chân núi.

“Gì vậy?” Lawrence hỏi lại, nhưng Holo chẳng nói thêm gì. Mà anh cũng không cần hỏi tiếp. Bao năm bên nhau, dù Holo có chê anh chậm chạp, Lawrence vẫn hiểu cô nghĩ gì.

Cô muốn Tanya được ở lại nơi ấy, được tiếp tục chờ đợi sư phụ, trong yên bình, càng lâu càng tốt.

Holo không cần nói ra, vì đó cũng chính là điều anh đang quyết tâm thực hiện.

“Hóa thân sóc á?”

Khi họ trở lại nhà thờ, Elsa đem bánh mì mới nướng ra đãi.

Thấy đống hạt dẻ to như núi mà Lawrence mang về, cô ấy nói rằng có thể xay trộn vào bột để tiết kiệm chi phí. Nghe đến bánh hạt dẻ, Holo rùng mình. Ngay cả sói cũng phải tránh xa cái vị kinh khủng ấy.

“Ra là vậy. Chuyện xảy ra trên núi là như thế à.” Elsa trầm giọng sau khi nghe xong báo cáo của Lawrence. “Nhờ vậy tôi phần nào hiểu được các hình tượng trong bích họa rồi… nhưng bí ẩn của chiếc chuông vẫn chưa được giải quyết.”

Holo nhai miếng bánh, cố nuốt xuống, rồi nói, “Vậy cô định làm gì với ngọn núi đó?”

Ánh mắt cô lúc này không phải kiểu hiếu thắng như mọi khi khi đấu khẩu với Elsa.

Dẫu thoạt nhìn như tức giận, nhưng đằng sau đó là một thứ khác.

Đó là nỗi lo lắng sâu thẳm cho số phận những kẻ đã từng thuộc về thời đại của rừng và trăng, nhưng bị ánh sáng của thời cuộc đẩy bật khỏi quê hương, hết lần này tới lần khác—là điều cô đã chứng kiến quá nhiều.

“Tôi trước nay thậm chí còn không nhận ra sự tồn tại của mảnh đất ấy… Anh muốn tôi cứ giả vờ như không biết ư?”

Họ đang ngồi ở phòng ăn tiếp khách của đại giáo đường trống trải. Ba người ngồi ở một góc chiếc bàn dài một cách vô nghĩa. Trên bàn có đặt một bát thủy tinh chứa nước; ánh lửa từ cây nến thả nổi trong đó sáng rõ đến mức soi cả căn phòng.

Ấy vậy mà, khi chẳng có ai chịu lên tiếng, mỗi khoảng lặng lại nặng nề đến nghẹt thở.

Lawrence nhìn vào ánh sáng phản chiếu ấy và nói, “Dù cô có trở về làng như chưa từng biết đến nó, thì ngọn núi đó cũng không tự biến mất. Rồi sẽ có người quay lại bàn chuyện đó thôi.”

Nghe vậy, Elsa khẽ nhắm mắt rồi thở dài, “Đáng tiếc, tôi tin đúng là như vậy.”

Holo cau mặt nhìn ổ bánh, chẳng buồn cắn thêm.

Dưới bàn tay chăm bón của Tanya, ngọn núi đã nhanh chóng hồi sinh thành nơi xanh tốt, phì nhiêu. Nếu không có tin đồn nguyền rủa, nó rõ ràng là một tài sản lớn.

“Nếu bán ngọn núi đi, đời sống dân chúng giáo phận sẽ dễ thở hơn nhiều. Họ có thể đào giếng mới, cải tạo con đường sang thị trấn bên kia núi, thậm chí xây cả quán trọ cho khách qua lại. Mà nếu không bán, thì cô biết thời thế rồi đấy. Giáo sĩ mới tới đây có thể cảm thấy nhục nhã khi dưới quyền mình là một ngọn núi bị đồn là bị nguyền rủa, nên họ sẽ muốn bỏ nó.”

Giáo hội muốn thanh trừng tham nhũng, nên họ đâu thể chỉ dừng lại ở việc vứt bỏ tài sản cũ. Hàng giáo sĩ sẽ muốn khôi phục cả thanh danh, đức hạnh, kỷ cương và tất cả những gì đi kèm theo.

Holo nhíu mày sâu hơn, bởi Col và Myuri, theo một nghĩa nào đó, chính là những người khiến mọi chuyện thành ra thế này.

“Vậy tức là cô vẫn muốn bán ngọn núi ấy sao, cô Elsa?”

Anh hỏi, và Elsa quay sang nhìn anh với ánh mắt sắc đến mức khiến Lawrence cũng phải khựng lại.

“Đừng nghĩ tôi tàn nhẫn đến thế. Tôi cũng có biết xót lòng chứ.”

Hình ảnh cô gái khuôn phép khép mình biến mất.

Mà chính lúc ấy, anh mới thấy Elsa trông đúng là một phụ nữ phụng sự cho Chúa.

Có lẽ tự nhận ra mình đã quá gay gắt, cô ấy quay mặt đi, thả lỏng vai trong một tiếng thở dài, rồi nói tiếp, “…Nhưng thực lòng mà nói, tôi muốn chia sẻ sự trù phú của ngọn núi ấy với giáo dân. Tôi đã dò tìm nhiều hướng, và nhận ra vùng này từ lâu đã chỉ khiến Giáo hội thất thoát tài sản.”

Ngay cả Lawrence, khi mới thấy ngọn núi, cũng lập tức nghĩ ra cả tá cách kiếm lợi. Với lượng hạt dẻ ấy, thả heo tự do chắc chắn sinh lợi; loại cây đó lại là nguồn củi đốt tuyệt vời, gỗ cũng bán được giá vì nhu cầu đóng tàu đang tăng mạnh. Than củi cũng tiêu thụ dễ dàng dù vận chuyển gỗ khó khăn.

“Nhưng đó là thành quả từ công sức của con ngốc ấy. Còn con người thì chẳng ai làm gì cả.” Holo bật lên, giọng sắc bén. “Và dù tán lá có dày thế nào, vẫn có đá chứa kim loại rải rác khắp núi. Kim loại chưa cạn đâu. Chẳng qua nước và cây đã lụi tàn nên cán cân mới lệch đi. Con người mà trở lại núi, chẳng mấy chốc họ sẽ phát hiện ra kim loại. Và rồi việc khai khoáng sẽ lại bắt đầu!”

Cũng còn rất nhiều gỗ để luyện kim. Nhưng như vậy, Tanya chỉ có thể đứng nhìn ngọn núi lại kiệt quệ thêm lần nữa. Khi con người quay lại, liệu cô có thể mãi giấu được cánh cổng? Rồi cô sẽ mất thảm rừng mà mình cực khổ gây dựng, mất cánh cổng đã được giao phó, mất luôn mọi sợi dây cuối cùng nối cô ấy với các giả kim thuật sư. Cuối cùng, cô ấy sẽ lại phải trồng cây trên một sườn núi trọc trong nhiều thập kỷ, thậm chí nhiều thế kỷ. Tất cả trong khi vẫn chờ đợi các giả kim thuật sư trở về.

Lồng ngực Lawrence thắt lại chỉ vì hình dung cảnh ấy, nhưng người bật khóc trước lại là Holo bên cạnh anh.

“…Con ngốc ấy.”

Cô đứng bật dậy, hất ghế đổ ngã rồi rời khỏi phòng ăn.

Cô chỉ mới cắn vài miếng bánh và chưa uống được bao nhiêu rượu.

Lawrence định đứng dậy đuổi theo, nhưng đôi chân lại không thể bước tiếp.

Đến nếu bắt kịp được, anh vẫn chẳng biết phải nói gì với cô.

“Thật khiến người ta bất lực phải không?”

Elsa thì thầm, và Lawrence ngồi trở lại trên ghế.

“…Phải, hoàn toàn bất lực.”

Ánh sáng tỏa ra từ chiếc bát thủy tinh khẽ run rẩy, có lẽ vì Holo đã vô tình làm lay động nó.

Những thứ con người cố giữ lấy giữa thế gian tàn nhẫn này rốt cuộc cũng chỉ là ánh sáng mong manh, run rẩy trước chút biến động nhỏ nhất.

“Nhưng… ngoài sự tàn khốc của thế giới này, tôi cũng thấy có đôi chút giận dữ dành cho tên giả kim ấy.”

Elsa đang định bẻ một miếng bánh mì thì khựng lại.

“Anh giận ư? Vì sao vậy?”

“Cô Tanya có nói, người giả kim đó từng đi cùng một hiện thân mèo. Như vậy hẳn hắn phải biết rõ tuổi thọ của phi nhân dài đến mức nào, và khác con người ra sao. Vậy mà…”

Chắc chắn họ đã có thể làm nhiều hơn cho Tanya.

Elsa khẽ đặt miếng bánh trở lại bàn.

“Thế thì… bức bích họa kỳ quái về ngọn núi ấy có lẽ chẳng phải do người của Giáo hội vẽ, mà là do chính vị giả kim đó thuê người làm.”

Lawrence ngẩng nhìn cô, nhận ra Elsa không nhìn anh mà dõi mắt lên các bức tường nơi có vẽ lại những đoạn trong thánh thư.

“Dù họ có giả vờ gọi ngọn núi là nơi bị nguyền rủa đi nữa, thì theo thời gian, lời đồn ấy cũng sẽ bị lãng quên, chẳng ai giữ lại trong sách vở. Nhưng nếu khắc họa nó thành tranh, thì ký ức ấy sẽ còn mãi hàng trăm năm. Hẳn đó là món quà chia tay, là cách người giả kim ấy để lại một lời nhắn cho cô sóc anh hùng kia, để không ai dám bén mảng lên núi, thay cho việc bản thân ông ta không thể quay lại.”

Phi nhân sống lâu hơn con người nhiều, rất nhiều.

Người giả kim mà Tanya tôn kính và gọi là “sư phụ” có lẽ nay đã khuất bóng, nhưng bức tranh trong thánh đường vẫn còn đó.

“Nhà giả kim đó chưa từng có ý định quay lại, đúng chứ?”

Lawrence hỏi, và Elsa khẽ lắc đầu.

“Cái đó tôi không rõ. Nhưng ông ta đã cất công khắc hình cô gái mèo mà mình gọi là đồ đệ giỏi nhất lên mặt đĩa, đúng không? Nghe anh kể lại, tôi thấy… có lẽ ông ta thực sự định quay về. Ít nhất là một ngày nào đó, khi cô gái mèo ấy cảm thấy cô độc, ngọn núi kia sẽ trở thành nơi ông ta muốn cô tìm đến.”

Lawrence cũng từng nghĩ thế khi trông thấy hình khắc cô gái ấy. Giống như anh từng muốn vẽ lại chân dung Holo ở Atiph, có lẽ nhà giả kim kia cũng muốn lưu lại tấm đĩa ấy để, dù đồ đệ của ông có bị thời gian bỏ lại phía sau, thì một ngày nào đó vẫn có thể đoàn tụ cùng cô sóc tươi vui ấy.

Và hẳn vì thế mà ông đã sáng tạo nên câu chuyện về “thiên sứ”.

Ông ta chắc chỉ dùng một chút mánh khóe giả kim để khiến người ta tin, rồi khiến dân quanh vùng sợ hãi mà không bén mảng lên núi nữa.

Nghĩ như thế hợp lý hơn nhiều với Lawrence.

“Nhưng chẳng có giải pháp nào vĩnh viễn cả. Ngay cả Thánh thư xưa kia cũng chỉ là chữ khắc trên phiến đá. Nếu người ta không sao chép lại, không chép ra hàng ngàn tờ da, hẳn đến giờ cũng chẳng ai còn biết đến nó.”

“Cô đang nói là muốn giúp cô Tanya, kẻ bị bỏ lại trên núi ấy, thì ta cũng cần một cách mới để vá lại tình thế sao?” 

“Không hẳn là vá lại mà là thay chai mới. Kinh Thánh có nói, rượu mới không thể chứa trong bầu da cũ còn gì.”

Quả thật, nếu chỉ chắp vá hời hợt, thì cũng chỉ kéo dài vấn đề thêm được nhiều nhất vài năm. Căn nguyên vấn đề vẫn là giáo phận này quá nghèo, và thực tế là bán ngọn núi ấy sẽ đem lại một khoản tiền lớn, thứ họ đang cần đến tuyệt vọng.

Họ đã sống sót đến giờ chỉ nhờ cái vỏ bọc lời nguyền ấy, nhưng giữa thời đại cải cách này, cái vỏ đó cũng sắp tiêu tan. Nếu muốn bảo vệ ngọn núi và cả Tanya, họ phải tìm một vỏ bọc mới. Một thứ có thể bảo vệ nơi ấy, ngăn mọi kẻ xâm phạm, khiến nó trở thành thánh địa bất khả xâm phạm.

Lawrence ngả lưng ra ghế, mắt nhìn ngọn nến lung linh trong chiếc bát thủy tinh, suy nghĩ miên man.

Ví như anh từng giúp Selim—người giờ đang trông coi nhà tắm ở Nyohhira—vậy chẳng lẽ giờ anh không thể dàn dựng một phép lạ nào đó, khiến ngọn núi kia được công nhận là vùng đất thánh? Ý nghĩ đó thoáng qua đầu, nhưng anh lập tức biết điều đó gần như không thể để biến một nơi bị coi là bị “nguyền rủa” bao đời lại bỗng chốc trở thành thánh địa. Hơn nữa, dấu tích của các giả kim thuật sư vẫn còn rõ ràng, khiến chuyện đó lại càng khó hơn.

Bởi dân địa phương đều biết truyền thuyết về ngọn núi bị nguyền, nên Elsa mới cho là không ai thèm mua, vì thế cô phải nhờ đến giáo phận xa xôi ở Atiph và đức giám mục của nơi đó. Chính vì vậy cô mới nghĩ, liệu có thương nhân nào dám mua một vùng đất như thế, mặc tin đồn nguyền rủa không.

Chính khi ấy, Lawrence bất chợt ngẩng đầu.

“Thương nhân ư?” anh lẩm bẩm, khiến Elsa ngạc nhiên chớp mắt. “Phải rồi… thương nhân…”

“Gì vậy?” Elsa hỏi, và Lawrence tìm cách đưa ra câu trả lời.

Anh đang trải qua cảm giác như đang vận động những bánh răng đã lâu chưa quay trong đầu.

“Nếu thế thì sao không cứ bán cho thương nhân, như kế hoạch ban đầu của cô?”

“Hả? Nhưng… Tại sao đột nhiên anh lại nói thế?”

“Chờ chút, để tôi nghĩ đã…”

Lawrence nhắm mắt, đặt tay lên trán, cố sắp xếp lại những dòng suy tính từng quen thuộc trong quá khứ.

Mạng lưới lợi ích của giới thương nhân khác hẳn việc trông coi một nhà tắm. Nó là tấm tơ nhện khổng lồ, đan giăng khắp mọi ngóc ngách.

Khi còn chu du cùng Holo, anh đã phải vất vả lần theo từng sợi chỉ ấy, lúc nào cũng chực rơi trước mắt mình.

Còn giờ đây, sau bao năm lăn lộn, với kinh nghiệm và mối quan hệ rộng rãi, Lawrence đã có đủ nhiều mối liên hệ để mà anh thường xuyên đụng phải những người không ngờ tới ở những nơi cũng chẳng thể đoán trước.

Nếu anh dùng sợi chỉ quan hệ này để may thành vải, anh thấy nó đã có thể che phủ hoàn toàn một ngọn núi.

“Phải, là thương nhân. Tôi quen một công ty chuyên về khai khoáng và có một hóa thân của thỏ tham gia quản lý ở đó. Nếu chứng minh được lợi nhuận, rất có thể ông ấy sẽ hứng thú mua lại ngọn núi.”

Đôi mắt màu mật ong của Elsa mở to, đôi tàn nhang nhạt trên má cũng đỏ hồng lên vì xúc động.

“Và có lẽ ông ấy cũng sẽ để mắt đến cô chiên lạc đàn của ta… hay đúng hơn, là cô sóc nhỏ lạc đàn, đúng chứ?”

“Nhưng nếu chỉ nhấn mạnh việc khai mỏ thì vô ích thôi. Ta cần một lý do khác, chẳng hạn bắt buộc duy trì việc đốt than bền vững, vì tôi chắc chắn công ty đó—Debau—dựa trên số lượng mỏ họ có và lượng kim loại cần phải được tinh luyện mỗi đợt, thì lúc nào cũng chẳng thiếu than đâu.”

Sắc mặt Elsa rạng lên, hy vọng lóe sáng khi tưởng tượng đến kết cục đẹp khi cô sóc nhỏ được sống yên lành, nhưng rồi khuôn mặt ấy lại dần sạm xuống.

“Cô Elsa?” Lawrence gọi, thấy cô khẽ cắn môi.

“Nhưng… một ngọn núi chỉ dùng để khai thác than củi, thì bán được bao nhiêu chứ?”

Elsa vẫn buộc tóc gọn trong búi, lưng luôn thẳng, giọng nói vẫn bình tĩnh mà cương nghị.

Người phụ nữ ấy đã tạm thời khoác lên tấm áo chùng linh mục để coi sóc cho nhà thờ chính tòa này.

“Công ty Debau chắc chắn sẽ mua nếu giá rẻ thôi. Và với hóa thân thỏ quản lý ở đó, chắc chắn ông ấy sẽ dùng quyền sở hữu đất để ngăn người ngoài bén mảng đến và bảo vệ được cô sóc Tanya. Nhưng mà, tôi có nghĩa vụ của mình. Tôi có trách nhiệm phải thanh lý tài sản với giá cao nhất có thể vì lợi ích của giáo phận này. Tôi không thể bán một ngọn núi… vẫn còn khả năng chứa quặng với giá rẻ mạt được.”

Thật mừng vì Holo không có ở đây, Lawrence nghĩ.

Rõ ràng không phải vì anh sợ cô nổi giận khi Elsa ra sức phản bác và dập tắt cơ hội tốt để cứu Tanya.

Mà là vì Holo sẽ không hiểu lầm Elsa, người mà cô thực lòng tôn trọng vì tính công minh và lòng chính trực của cô ấy.

“Tôi tuy đang làm chủ nhà tắm nhưng vẫn từng là thương nhân đấy. Tôi vẫn chưa quên việc sổ sách đâu.”

Nghe Lawrence vậy, nếp nhăn giữa hàng mày căng thẳng của Elsa khẽ giãn ra.

“Cô có ước lượng được mức giá bán mình mong muốn không, cô Elsa?”

Câu hỏi thực tế ấy lập tức đánh thức tinh thần thương thuyết trong cô ấy. Chàng Col nghiêm túc từng gọi Elsa là người tỉnh táo và cẩn trọng. Chắc hẳn cô ấy đã đọc từng con số, từng chữ trong những cuốn sổ kế toán cũ kỹ chất bụi trong nhà thờ này.

“Đúng vậy. Chúa dạy rằng, vật lớn phải đựng trong bình lớn, vật nhỏ thì trong bình nhỏ. Không phải tôi mong bán được mọi thứ với giá thật cao—tôi chỉ muốn mọi chuyện được công bằng thôi.”

“Vậy thì ta bắt đầu tính toán nhé. Tôi sẽ dốc hết trí khôn thương nhân già cỗi của mình để bán được ngọn núi ấy. Dù sao thì.” Lawrence mỉm cười. “Ngay từ đầu, cô đã gọi tôi đến đây để làm điều đó cơ mà.”

Elsa cũng mỉm cười, rồi đứng dậy.

“Xin chờ một chút. Tôi sẽ đi lấy vài dụng cụ.”

Elsa rời đi với vẻ phấn chấn, bước qua một cánh cửa khác, không phải lối mà Holo đã dùng khi rời khỏi phòng. Khi tiếng bước chân của cô dần tan trong hành lang, Lawrence mới đứng dậy khỏi ghế. Holo, người đã vội vã bỏ đi trước đó, chắc chắn đang đợi anh ở đâu đó.

Tuy nhiên, anh không định tìm Holo để dỗ dành cô. Dù có lẽ cô đang thấy mình bất lực, anh lại cần trí tuệ của cô cho những tính toán sắp tới. Mang theo suy nghĩ ấy, anh mở cánh cửa ngay sau lưng mình.

Lập tức, anh cảm thấy hương hoa nhẹ phảng phất kể cả trong bóng tối từ loại dầu Holo vẫn thoa lên đuôi.

Cô đang đứng tựa lưng vào tường bên cánh cửa, nhón chân, môi mím lại, hai tay giấu ra sau lưng, vai khẽ co lên.

“Nhìn em chẳng khác gì cô gái bị cho leo cây vậy.” Những lời ấy buột miệng bật ra trước khi anh kịp nghĩ, khiến Holo quay đôi mắt đỏ rực đang ánh lên trong bóng tối của hành lang về phía anh.

“Đồ ngốc. Em bỏ đi trong cơn đau lòng, thế mà anh lại không đuổi theo ngay lập tức.”

Lawrence thở ra một tiếng cười khẽ, mệt mỏi nhưng ấm áp, rồi dang tay ôm lấy cô.

Chiếc đuôi của Holo khẽ quất vào chân anh một cách bất mãn, song cô lại chẳng hề định trốn khỏi vòng tay ấy.

“Holo, anh cần trí tuệ của em, trí tuệ của kẻ thống trị rừng già. Nếu chặt cây trên núi, thì bao nhiêu là vừa đủ để rừng không trọc đi nữa?”

Ngay cả một tiều phu dày dạn năm mươi năm kinh nghiệm cũng không thể sánh được với hiểu biết của Holo.

Holo ngẩng đầu khỏi ngực Lawrence, khẽ hừ một tiếng.

Nếu họ đem toàn bộ tài sản của giáo phận quy đổi ra vàng, họ có thể cải thiện đời sống của dân chúng. Bởi vậy, bán đi một ngọn núi phủ kín cây cối mà vẫn còn khả năng sinh ra kim loại, với một cái giá tương xứng, cũng có thể xem là hành động hợp với ý chí công chính của Chúa. Con số mà họ cùng nhau tính ra ra đời từ suy nghĩ đó, nhưng khi Lawrence bắt đầu liệt kê mọi nguồn lợi có thể thu được từ ngọn núi, họ lập tức nhận ra khoảng cách khủng khiếp giữa lý tưởng và thực tế.

“Có thể tăng tốc độ sinh trưởng nếu thay giống cây và chăm sóc cẩn thận.”

Holo góp ý bằng hiểu biết tích lũy suốt hàng thế kỷ, nhưng ngay cả vậy, con số mà anh viết lên tấm bảng gỗ phủ sáp cũng chỉ nhích thêm được đôi chút.

Là kẻ từng lang bạt khắp nơi, Lawrence luôn lấy làm lạ về mức giá quá cao của than và củi. Khi đến Atiph, anh từng sửng sốt trước giá gỗ tăng vọt vì thương mại hưng thịnh. Và thế là trên đường đi, những kinh nghiệm đó đã giúp được một lãnh chúa nọ mà ngôi làng của ông ấy đang chịu gánh nặng bởi giá gỗ leo thang.

Nhưng khi họ ghép các con số lại, anh chỉ biết nhìn chằm chằm vào sự chênh lệch khủng khiếp giữa lợi nhuận ấy và lợi nhuận mà mỏ quặng từng mang lại.

Anh không kìm được tiếng thở dài thán phục trước những con số trong sổ kế toán cũ mà Elsa đưa cho.

“Các mỏ kim loại đúng là hái ra tiền thật…”

Những con số nhảy múa trên trang sách cứ như ánh sáng chói lòa. Người ta vẫn nói, để luyện được một nắm kim loại cỡ bàn tay, phải đốt hết một bao than to bằng cả cơ thể người. Cái chênh lệch giữa giá kim loại và than ấy đủ để thấy rõ hai thế giới khác nhau.

“Kẻ có quyền lực thì tranh giành mỏ, chứ chẳng ai đánh nhau vì một túp lều đốt than bao giờ.”

Elsa ngẩng đầu khỏi sổ, thở dài. Cặp kính nhỏ đặt bên tờ da lộn phản chiếu ánh nến mờ nhạt.

“Chăn thả lợn trên núi cũng chỉ kiếm được vài đồng lẻ, còn trồng nấm thì cũng chỉ thêm chút hương vị cho món ăn ở quán trọ thôi.”

Nghe Lawrence nói thế, Holo chen vào, “Ta có thể trồng cây ăn quả. Thương nhân buôn bánh mì khắp núi đều cần trái để làm mứt. Mấy loại trái đó chắc chắn sẽ được ưa chuộng.”

“Nhưng hái quả mất nhiều công. Với lại cô Tanya là sóc mà, giao việc đó cho cô ấy chẳng khác gì bắt em chăn cừu đâu.”

Holo vừa định phản đối thì khựng lại, môi mím chặt trong vẻ bực bội. Có lẽ cô đang tưởng tượng cảnh phải kiềm chế bản năng trước cả rừng quả chín mọng, một thử thách quả thật tàn nhẫn.

“Vậy có thể khai thác một ít quặng mỗi lần rồi bán dần được không?”

Elsa đề nghị, và Lawrence khẽ nhăn mặt.

“Muốn đưa hàng ra thị trường gần nhất thì phải vượt qua cả chuỗi núi, toàn đường hẹp và dốc. Vận chuyển quặng thô sẽ chẳng lời lãi gì, mà nếu không tinh luyện trước thì giá sẽ bị ép thảm hại. Và nếu không làm được như thế, thì tôi thấy khó mà cân đối chi phí được nếu không dùng tàu thuyền vận chuyển số lượng lớn.”

“Không có sông đủ lớn để dùng thuyền—anh nói đúng,” Elsa lẩm bẩm rồi thở dài. “Vậy tức là phải tinh luyện tại chỗ nhỉ?”

“Tôi cho là vậy.”

Để tạo đủ nhiệt luyện kim loại, họ sẽ cần một lượng gỗ khổng lồ. Cần xây lò, thuê người canh, dựng nhà cho thợ ở, rồi vô vàn chi phí khác. Mà muốn thu hút nhân công, lại phải đốt gỗ nhiều hơn, và kết cục là nếu muốn có lãi thì phải khai thác nhiều quặng, và cứ thế, ngọn núi sẽ lại bị tàn phá.

Càng tính, Lawrence càng thấy kế hoạch ban đầu của mình chỉ là giấc mơ xa vời.

“Một cách để bán núi với giá cao hơn… hừm,” Elsa, người vốn chẳng mấy quen với chuyện tính lời lãi, chán nản chống tay lên đầu.

Cô nhìn chằm chằm vào những con số trong sổ; nếu cả lời trong Kinh Thánh còn chẳng cứu nổi người, thì mấy con số này giúp được gì chứ?

Ngồi cạnh hai người đang chau mày, Holo bỗng đập mạnh tay xuống bàn.

“Chúng ta bán cho con thỏ cơ mà?! Thế thì tôi sẽ khiến hắn phải mua với giá thật cao bằng răng nanh của tôi!”

Ước gì câu nói ấy chỉ là lời kết luận rút ra trong vội vã và nóng nảy của cô.

“Không chỉ thế, tôi còn có thể tự tay đào mấy hòn đá quặng bằng vuốt, rồi mang chúng đi thật xa! Chúng ta sẽ nhanh chóng kiếm lại tiền thôi!”

Với móng vuốt và đôi chân có thể vượt qua cả dãy núi trong một đêm của Holo, điều đó hẳn không phải chuyện không tưởng. Nhưng thời của những linh hồn, thời của sức mạnh là chân lý độc tôn đã qua; ấy là chưa nói tới việc khai thác quặng có chút phức tạp hơn thế.

“Quặng không nằm rải đều trong núi đâu. Phải lần theo mạch quặng mà đào. Phải thoát nước ngầm, chống sập đường hầm, chống lở. Cần rất nhiều người và vật liệu. Đó là công việc quy mô lớn, khác xa chuyện vận hành một nhà tắm. Dù có sức mạnh của em cũng không thể một mình làm được đâu.”

Holo gầm khẽ đầy ấm ức, và Lawrence nắm lấy tay cô, siết nhẹ như để an ủi.

Thời đại mà sức lực có thể giải quyết tất cả đã kết thúc từ lâu rồi.

“Dù sao thì, ý tưởng của em cũng không tệ,” 

Nghe Lawrence nói kèm một tiếng thở dài. Holo đáp, “Đương nhiên rồi! Anh lúc nào cũng quá nhút nhát!”

Dù buông lời trách móc, Holo vẫn không rút tay ra.

Ngược lại, cô còn siết chặt hơn, tỏ rõ rằng cô đang mong anh từ chối những gì mình đã nói.

“Nếu như ngọn núi ấy đi kèm với một đặc quyền gì đó thì tốt biết mấy.” Elsa thở dài, lần lượt lật từng trang sổ cũ.

“Như là miễn thuế chăng?”

“Cũng có thể, nhưng tôi đang nghĩ đến những vùng đất đặc biệt khác trong lãnh địa của Giáo hội, những nơi quyền sở hữu đi kèm tước vị. Đất đai như thế sẽ được mấy tay thương nhân vừa kiếm đậm tranh mua.”

Những vùng đất như Elsa nói thường được phong tước, như Bá tước của xứ này, Hầu tước của xứ nọ, cho những ai cai quản khu vực đó.

Ngay cả sa mạc hoang vu cũng có thể được bán, nếu đi kèm với một tước hiệu.

“Thế sao cô không tự tạo ra một cái?” Holo hỏi, vẫn nắm chặt tay Lawrence, giọng pha lẫn tinh nghịch và thách thức.

Elsa liếc xuống đôi tay đang đan vào nhau của hai người, khẽ thở dài, rồi đáp, “Về lý thuyết thì không phải là không thể. Ta có thể nói rằng người mua mảnh đất này sẽ được ban quyền quản lý một nhà thờ nhỏ chẳng hạn. Nhưng liệu một người của Công ty Debau lại chịu bỏ tiền chỉ để tự xưng là linh mục hay viện phụ trên danh nghĩa thôi sao?”

Hilde, hóa thân của thỏ, chắc chắn chẳng hề có hứng thú với chuyện đó.

“Arghhh…” Holo rên khẽ, chiếc đuôi quất mạnh vào chân ghế, rồi cô nắm chặt vai Lawrence. “Anh không còn cách nào khác sao…?”

Hình ảnh Tanya bị bỏ lại một mình trên ngọn núi đang dần hòa lẫn với chính ký ức của cô trên cánh đồng lúa mì.

Và bởi Lawrence đủ nhạy để nhận ra điều đó, hẳn Holo cũng biết nhà giả kim kia sẽ chẳng bao giờ trở lại ngọn núi ấy nữa.

Với Holo, một kẻ có thể sống hàng thế kỷ, thì ngày chia ly với Lawrence cũng đã lấp ló nơi chân trời.

Cứu Tanya cũng chính là cứu lấy chính cô.

“Có một khả năng nhỏ thôi, nhưng anh có một cách đây.”

“Gì cơ?!”

Ngoài Holo đang sững người, Elsa cũng nhìn anh với vẻ nghi hoặc.

“Anh Lawrence?”

Ánh mắt cô như muốn hỏi, “Tại sao bây giờ anh mới nói?” Nhưng Lawrence đáp lại bằng một tiếng thở dài nặng nề. “Là vị thiên sứ trong câu chuyện cổ. Nếu thêm yếu tố đó vào, có lẽ ta có thể bán được núi với giá cao.”

Holo nhìn anh ngơ ngác một thoáng, rồi đôi mày cô chợt nhíu lại dữ dội. “Anh định đem thứ quý giá ấy của con nhỏ ngốc đó ra bán sao?!”

“Không. Miếng kim loại ấy chỉ là một cái đĩa mà thôi. Nhưng bức bích họa trong nhà thờ thì hầu như kể lại toàn bộ câu chuyện thật. Chỉ có hai điều không thể nào có thật là thiên sứ bước ra từ chiếc đĩa đó, và chiếc chuông hiện còn đang cất trong nhà kho này.” Lawrence siết nhẹ tay Holo, khẽ lắc. “Nếu nhìn toàn cảnh, thì tất cả chỉ là một câu chuyện bịa đặt mà các nhà giả kim tạo ra để ngăn người khác lên núi. Nhưng nếu đó lại là chuyện thật thì sao?”

Elsa quên cả chớp mắt, rồi nói, “…Ý anh là luyện kim mà không cần dùng than ư?”

Kim loại đắt đỏ là vì việc tinh luyện tốn kém nhiên liệu. Nếu thật sự có một thiên sứ có thể tinh luyện kim loại mà không cần lửa, hẳn những kẻ sở hữu mỏ sẽ phát điên vì muốn chiếm được nó.

“…Thiên sứ đó ở đâu? Làm sao ta bắt được nó chứ?”

Đó chính là vấn đề.

“Thiên sứ đó có thể là… ờm, một loài chim như cô chăng? Nếu tôi nhớ không lầm, trong mấy câu chuyện của ngoại giáo có loài chim phun ra lửa…”

Câu hỏi của Elsa hoàn toàn hợp lý, nhưng Holo chỉ liếc sang Lawrence để tìm lời xác nhận.

“Khuôn mặt anh nói rằng anh không đồng ý.”

“Anh nghĩ… cái danh thiên sứ đó có thể chỉ là một phương tiện các nhà giả kim sử dụng để đạt được mục đích.

Khuôn mặt râu ria nghiêm nghị khắc trên cả tấm đĩa hẳn chỉ là một phần của vở kịch họ dựng nên. Còn việc khắc hình cô gái đi cùng sau đó chắc chắn không phải để xua đuổi thiên sứ.

Tanya từng nói người giả kim thuật sư không tin vào thánh thần.

Ông ta từng bảo rằng, một khi cô ấy học được cách dùng đục thật thành thạo, ông sẽ trở lại để dạy cô ấy bí mật của cánh cổng.

Nếu chuyện về thiên sứ thật sự không phải chỉ là truyền thuyết, thì chỉ có rất ít khả năng còn lại.

“Anh đang nghĩ có khi câu chuyện về thiên sứ chỉ là một kế mưu mà những nhà giả kim dựng lên để che giấu công nghệ độc quyền của họ.”

“Công nghệ sao?”

Elsa chau mày, cúi nhìn xuống bàn. Trong tay cô là một cặp kính nhỏ tuyệt đẹp, món đồ có thể gọi là báu vật của thợ thổi thủy tinh. Nhờ nó, ngay cả người có đôi mắt kém nhất cũng đọc được từng chữ rõ ràng, và nó còn có nhiều công dụng khác nữa. Khi Lawrence từng mua một cặp kính cho Selim, cô gái đang trông coi nhà tắm trong lúc họ vắng mặt, cô ấy đã sững sờ đến mức cứ như vừa chứng kiến phép màu.

Có lẽ, thứ mà những nhà luyện kim sử dụng cũng là một loại công nghệ hoàn toàn mới mà người đời chưa từng biết đến, và đó chính là chìa khóa ẩn giấu trong thứ họ gọi là cánh cổng.

“Anh nói rằng cánh cổng đã mở ra, thiên sứ bay ra ngoài và đục thủng chiếc chuông treo trong tháp. Vậy, có thật có công nghệ có thể tái tạo chuyện đó sao?”

Lawrence, với kinh nghiệm hiện tại, vẫn không thể nói chắc nó là gì. Nhưng nếu còn một hướng đột phá nào, thì chỉ có thể nằm ở đó.

Ít ra, điều ấy vẫn khả thi hơn việc một nữ giáo sĩ, một thương nhân và một hóa thân sói ngồi cạnh nhau trong im lặng mà bàn chuyện bắt thiên sứ. Chính lúc đó, Holo bỗng bật nói:

“Luyện kim như anh nói đó… Chắc là nóng khủng khiếp lắm, phải không…?”

Lawrence và Elsa cùng quay sang nhìn Holo với đôi tai và chiếc đuôi bỗng dựng đứng lên. Cô kêu to, “Chìa khóa! Mau đưa tôi chìa khóa xuống hầm!”

“Hả, cái gì cơ?”

Chẳng buồn giải thích với Elsa đang sững sờ, Holo đã xoay người bỏ chạy.

Lawrence và Elsa chỉ biết đứng chết lặng, nhìn theo dáng cô biến mất khỏi phòng ăn, thì tiếng quát giận giữ của cô, “Còn đứng đực ra đó làm gì hả?!” liền gọi cả hai giật mình hoàn hồn mà vội vã đuổi theo.

~~~

Holo đang đứng đợi họ trước cửa hầm cất, dáng đầy sốt ruột, và ngay khi Elsa mở khóa, cô liền lao thẳng vào bên trong.

Cô kéo tấm vải phủ khỏi chiếc chuông, quỳ sụp xuống, rồi ghé sát mũi vào mặt chuông.

“Quả nhiên là vậy.” Cô đứng dậy, nắm lấy tay áo Lawrence, vùi mũi vào đó—không phải để hỉ mũi, mà để hít sâu một hơi—rồi nói, “Những lỗ này không phải do lực mạnh tạo ra. Mà là… Nhìn xem, chúng bị moi ra, như khi người ta nạo phô mai vậy.”

“Như phô mai…? Nhưng không phải do va đập sao?” Câu nói của cô như một câu đố, nhưng Lawrence nhanh chóng hiểu được ý cô muốn nói. “Ý em là… nó bị nóng chảy à?”

“Phải. Những lỗ này quá nhẵn. Không có móng vuốt, răng nanh, hay thậm chí mỏ chim nào có thể tạo nên bề mặt như thế này. Chính vì vậy mà lúc đầu em chẳng thể đoán nổi chúng được tạo ra bằng cách nào.”

Holo lại cúi xuống bên chiếc chuông, đưa ngón tay vào một lỗ, khẽ chạm vào mép.

Nhưng nếu đúng là do bị nung chảy… thì điều đó xảy ra bằng cách nào? Toàn bộ lẽ thường trong đầu Lawrence như bị đảo lộn. Nếu những lỗ đó hình thành do kim loại bị nung chảy, thì chỉ có thể là ai đó đã áp một thanh sắt đỏ rực vào, giống như khi ép một thanh sắt nóng vào miếng phô mai.

Nhưng một thanh sắt nung thì chẳng thể tạo ra những lỗ như này.

Hơn nữa, một chuyện tầm thường như thế thì chẳng thể trở thành huyền thoại được truyền qua bao thế hệ.

“Đó là tất cả những gì em biết.” Holo nói với giọng đầy tiếc nuối rồi đứng dậy. “Những thứ như công nghệ là chuyện của thế giới con người. Nó là vũ khí mạnh mẽ của các anh; thứ đã chấm dứt kỷ nguyên của bọn em, đẩy chúng em ngày càng sâu vào tàn dư của rừng già.”

Con người, nhờ trí tuệ và sức bền bỉ, đã tạo ra những công cụ có thể hạ gục những cây đại thụ mà chẳng ai một mình đốn nổi. Họ có thể lấp sông, và thậm chí là khoét cả sườn núi. Điều Holo ám chỉ là nghịch lý cay đắng rằng nếu thật sự có cách nào đó để cứu Tanya, thì nó ắt hẳn phải là sản phẩm của thứ công nghệ mà cô vẫn căm ghét ấy.

“Thì trong số đó, chắc cũng có vài thứ hữu dụng thật mà, như thứ kia ấy.” Lawrence nở nụ cười gượng, chỉ tay về phía vật bằng thủy tinh Elsa trong trạng thái kinh ngạc đang cầm—cặp kính nhỏ mà cô ấy mang theo từ phòng ăn.

“Nhưng một thiên sứ bước ra từ cổng, giáng ánh sáng phán xét, làm tan chảy chiếc chuông và cả kim loại nữa ư? Thật sự có công nghệ như thế sao…?”

Lawrence gãi đầu, cố nhớ lại từng chi tiết trong câu chuyện Tanya kể, xem mình có bỏ sót manh mối nào không. Nếu vị giả kim thuật sư đó không nói dối, và thật lòng muốn dạy Tanya bí mật của thiên sứ, thì tấm đĩa kim loại kia hẳn không phải vật vô dụng. Không nghi ngờ gì nữa, nó là công cụ quan trọng để triệu hồi thiên sứ.

Cánh cổng. Cổng kim loại.

Lawrence khẽ rên một tiếng. “Nhưng tại sao lại gọi là cổng nhỉ?”

Ngay cả điều đó, anh cũng chẳng rõ. Tanya từng nói sự phụ đã mở cánh cổng, rồi thiên sứ bước ra.”

Mở cổng? Nhưng đó chỉ là một tấm đĩa kim loại tròn trĩnh mà thôi.

Lawrence lấy ra một đồng bạc từ túi bên hông.

Trên một mặt của nó khắc khuôn mặt nghiêm nghị của một người đàn ông râu rậm, trông giống hình trên tấm đĩa.

“Anh từng nói nó giống như một ẩn dụ, đúng chứ?”

“Phải, nhưng…”

Mở cổng, và thiên sứ bước ra. Nhưng còn sau đó, họ khắc hình một cô gái mèo ở mặt còn lại khuôn mặt râu ria để ngăn thiên sứ thoát ra.

Liệu đó có phải chỉ là một lý do vô nghĩa xuất phát từ cảm xúc.

Lawrence xoay xoay đồng bạc giữa hai ngón tay, như thể đang mở một cánh cổng tưởng tượng.

“Ôi, trời, dừng lại đi.” Holo nheo mắt, càu nhàu, vì ánh nến trong tay Elsa phản chiếu lên mặt đồng bạc hắt mà vào mắt cô. Lawrence vội định xin lỗi, nhưng lời chưa thoát khỏi môi thì bỗng khựng lại.

Elsa đang lo lắng nhìn Holo, người vẫn đang chớp mắt và dụi mắt liên tục.

Còn ánh mắt Lawrence lại dán chặt vào đôi tay Elsa. Trong tay cô là món đồ thủy tinh được làm bằng kỹ thuật đặc biệt, tỏa sáng lấp lánh hơn cả đồng bạc. Ở đó là ánh sáng phản chiếu từ đồng bạc.

Mọi mảnh ghép dần khớp lại trong tâm trí anh.

“Anh yêu…?”

“Anh Lawrence?”

Cả Holo lẫn Elsa đều cất tiếng lo lắng gọi anh.

Và như được dẫn lối bởi hai giọng nói ấy, Lawrence ngẩng đầu lên nhìn trần.

Ở đó, anh thấy câu trả lời.

“Anh hiểu ra rồi.”

Holo và Elsa, hai người đứng sát bên nhau chẳng khác gì chị em gái, cũng ngẩng nhìn theo.

Một hoa văn ánh sáng đơn giản hiện ra. Hoa văn ấy đến từ ngọn nến trong tay Elsa phản chiếu lên mặt chuông sáng bóng.

Nhưng đó là một hoa văn tròn, và trong tay Elsa đang giữ thêm một vật quan trọng khác. Thứ trợ giúp cô đọc chữ nhỏ bé ấy có một cách dùng khác.

Và hình khắc cô gái mèo, theo lời Tanya, được tạo ra để thiên sứ sẽ không xuất hiện trừ khi cánh cổng được mở đúng cách.

Mọi chi tiết Tanya từng kể về huyền thoại giờ đều mang ý nghĩa.

“Cô Elsa, tôi đã tìm ra thiên sứ của chúng ta rồi.”

“Gì cơ?”

“Thứ cô đang cầm trong tay được gọi là giọt lệ của thiên sứ đó.”

Elsa, ngẩn người, nhìn chằm chằm xuống cặp kính trong tay, rồi ngước lên nhìn Holo.

Chính Holo là người phản ứng trước.

“Thứ đó có thể giúp con bé sao?”

Lawrence mỉm cười.

“Nếu anh sai, em cứ việc cắn bay đầu anh đi.”

Đôi mắt Holo mở to, rồi cô thu người lại, đôi tai và chiếc đuôi khẽ rung lên, rồi một nụ cười lộ ra hàng nanh trắng nở trên khuôn mặt cô.

~~~

Nếu phỏng đoán của Lawrence là đúng, thì việc duy nhất họ có thể làm là kiểm chứng nó khi mặt trời mọc. Anh nói lại điều đó với Holo, nhưng giờ đây, khi mọi thứ cuối cùng cũng đã có hướng giải quyết, Holo lại tỉnh táo hơn anh nhiều, và dĩ nhiên chẳng để anh có cơ hội chợp mắt.

Trước khi Lawrence kịp nói gì, Holo đã cởi bỏ quần áo, trở về hình dạng sói khổng lồ, rồi nằm sấp xuống, dán cặp mắt sáng rực vào anh.

Anh chắc rằng nếu mình không trèo lên, cô sẽ nằm yên như thế đến tận sáng, hoặc tệ hơn là há miệng nuốt chửng anh luôn.

“Cẩn thận đấy,” Elsa nói, giọng nửa trách nửa lo, khi cô nhặt đống quần áo của Holo bằng đôi tay thuần thục, như thể đã quá quen với cảnh tượng này.

“Cô cứ viết thư trình bày việc bán ngọn núi kèm đề nghị của mình và đợi bọn tôi quay lại nhé,” Holo dặn Elsa, rồi lao đi ngay cả trước khi Lawrence kịp ngồi vững trên lưng cô.

Cơn gió quất vào tai anh còn mạnh hơn cả đêm trước. Chỉ cần nghe tiếng chân dồn dập ấy, anh đã hiểu Holo đang tràn đầy quyết tâm đến mức nào. Anh cảm nhận rõ hơi nóng từ cơ thể cô, thứ nhiệt năng gần như thiêu đốt phả ra từ lớp lông dày mà anh đang bám chặt.

Holo lao đi hết tốc lực, như thể đang dâng hết sức mình cho những linh hồn đã bị thời gian nuốt chửng trong tĩnh lặng.

Cô là kẻ đã ghi lại trong nhật ký từng khoảnh khắc đời thường tuôn chảy bất tận từ ký ức dài lâu của chính mình. 

Đó rõ ràng là một cuộc vật lộn vô ích trong mắt người đời.

Nhưng lại là điều cô và anh từng thề phải nâng niu đến cùng.

Chính vì vậy, Lawrence không hề than vãn khi Holo phóng mình xuyên qua khu rừng dưới chân núi, né tránh từng thân cây, vượt qua đá tảng, rồi trèo dốc dựng đứng bằng móng vuốt và răng, gần như quên mất rằng anh vẫn còn trên lưng cô.

Họ tìm thấy Tanya ở nơi tấm đĩa kim loại được chôn giấu. Đêm nay trời quang, lần đầu tiên sau nhiều ngày không mây, nên có lẽ cô ấy đã làm việc suốt dưới ánh trăng và ngủ quên trên đĩa, những chiếc đục vẫn còn nằm trong tay.

Ngay khi vầng trăng sắp khuất sau đường chân trời, Tanya giật mình tỉnh dậy, nhận ra thân hình khổng lồ và hơi nóng tỏa ra từ Holo, rồi bật dậy hoảng hốt.

Lawrence trượt xuống khỏi lưng Holo và hỏi ngay cô sóc nhỏ đang ngơ ngác ấy, “Lúc thiên sứ bước ra khỏi cổng, nó xuất hiện từ mặt này đúng không?” Anh chỉ vào mặt khắc hình cô gái mèo, nơi Tanya đã tỉ mỉ chạm khắc những bông hoa nhỏ quanh mép.

“V-vâng, đúng rồi ạ…”

Tốt lắm.

Điều đó có nghĩa là, như lời vị giả kim thuật sư nói, hình cô gái là để ngăn không cho thiên sứ thoát ra. Điểm khác biệt duy nhất giữa huyền thoại và sự thật là chính bức chạm khắc kia đóng vai trò như một nắp đậy giam giữ thiên sứ.

“Trước khi khắc hình cô ấy, cánh cổng này được đánh bóng kỹ lắm đúng không?”

Đôi mắt tròn của Tanya mở to, mũi cô ấy khẽ run lên. Như thể linh cảm được điều gì to tát sắp xảy ra vậy.

“Đ-đúng rồi…! Ơm, vậy có nghĩa là…?”

Những chiếc đục mà cô ấy vẫn nắm trong tay từ lúc ngủ thiếp rơi khỏi lòng bàn tay nhỏ bé.

Chúng rơi xuống thảm lá dày phủ mặt đất, thứ mà Tanya đã nuôi dưỡng suốt hàng chục năm trồng cây phục sinh rừng núi.

“Phải. Tôi đã giải được bí ẩn của thiên sứ rồi.”

Khi Lawrence nói vậy, chiếc mũi đen nhỏ của Tanya khẽ run rẩy. Cô ấy đứng sững, không nhúc nhích.

Sau lưng cô ấy, bầu trời đã dần sáng, đường viền của ngọn núi hiện rõ dưới ánh lam nhạt buổi sớm.

“Cô Tanya, cô có thể nhấc cánh cổng này lên được không?”

“Đ-được ạ.”

Bối rối, Tanya cúi người nắm lấy mép đĩa và nhấc nó lên.

Hình cô gái, đôi mắt khép hờ cùng nụ cười dịu dàng, nổi bật trong sắc xanh nhạt của bình minh.

“Công nghệ này thật ra chẳng phải điều gì quá bí mật đâu.”

Tanya giữ tấm đĩa, dáng vẻ chẳng khác nào hình tượng của cô ấy trong bức bích họa ở nhà thờ, rồi quay lại nhìn Lawrence bằng đôi mắt long lanh đầy mong đợi.

“N-nhưng sư phụ ta đã khiến mọi người kinh ngạc khi triệu hồi thiên sứ mà…”

“Phải. Nhưng nó cũng giống như việc người ta thấy một con sóc trong rừng, rồi nhầm là gấu vậy.”

“Hả…?”

Lawrence bật cười, “Dù có thấy qua một thứ bao lần đi nữa, nếu được chứng kiến nó ở quy mô lớn hơn rất nhiều, người ta sẽ tin đó là phép màu.”

Một bóng đổ sâu dần hiện ra dưới chân anh. Nó trở nên đậm dần, điềm báo cho mặt trời sắp sửa ló dạng, soi rọi thế gian bằng hào quang rực rỡ, như thể đang ban phước cho ngày mới.

Tanya nheo mắt vì ánh sáng chói chang, còn hình cô gái trên đĩa vẫn mỉm cười với đôi mắt khép lại.

Cứ như thể cô ấy đang mong đợi điều sắp tới.

“Tôi nghĩ thiên sứ sẽ không hiện ra hoàn toàn đâu, vì có hình cô mèo chắn giữa mà.”

Chuyện xảy ra ngay khi Lawrence vừa nói dứt. Từ phía đường núi xa tít, nơi rặng núi ôm trọn miền đồng bằng trù phú được mệnh danh là vựa bánh của vùng, mặt trời ló dạng.

Một luồng sáng khổng lồ tuôn tràn vào phần lõm ở giữa tấm đĩa, mãnh liệt đến mức dường như cả không khí cũng vang lên tiếng xào xạc.

“Á, áaa!”

Đôi mắt tròn xoe của Tanya mở to hết cỡ, dán chặt vào cảnh tượng trước mặt.

Ánh sáng tuôn vào chỗ lõm rồi phản chiếu trở lại theo đúng quy luật tự nhiên. Dù bị những đường khắc của cô gái cản bớt, nhưng mặt đĩa vẫn hoạt động như một thấu kính hoàn hảo, gom toàn bộ ánh sáng lại thành một chùm tia rực rỡ, bắn thẳng đến một điểm duy nhất ở phía xa.

“Đó là một cái kính hội tụ đấy, Holo.” Lawrence nói, và Holo, nãy giờ đang nằm sấp, liền đứng bật dậy.

“Anh đã từng cảnh báo cô Selim khi đưa kính cho cô ấy.” Lawrence quay lại, tiếp tục giải thích. “Không được đặt kính ở nơi có ánh nắng trực tiếp, vì nó sẽ gom sáng lại và có thể khiến giấy bốc cháy.”

Holo khé hé môi, để lộ hàm răng nanh sáng lóa, rồi dán ánh mắt chăm chú nhìn tấm đĩa kim loại, thứ được Tanya đánh bóng mỗi ngày, đang lấp lánh rực rỡ đến chói mắt.

Luồng sáng phát ra từ nó mạnh đến mức khiến người ta không dám nhìn thẳng, như thể một cánh cổng thực sự vừa mở ra, và phía sau đó là một thế giới khác hẳn, tràn ngập ánh sáng, soi rọi cả những thân cây còn chưa kịp đón nắng sớm.

“Muốn đọc rõ chữ, kính phải được đánh bóng thật kỹ—nếu không, nó chẳng giúp gì, cũng chẳng thể thay thế được đá đánh lửa. Anh dám chắc cái phần lõm của tấm đĩa kim loại này hoạt động tốt như thế là vì nó đã được tinh chỉnh hoàn hảo bởi bàn tay của chuyên gia. Và cũng chính vì vậy mà họ đã khắc hình một cô gái lên nó sau khi hoàn thành.”

Để khi ánh sáng phản chiếu lại lần nữa, nó sẽ không gây ra hỏa hoạn. Một cặp kính nhỏ cầm vừa tay cũng có thể khiến giấy bén lửa; Lawrence chỉ có thể mỉm cười căng thẳng mà tưởng tượng xem một tấm đĩa khổng lồ như thế này, khi gom trọn sức nóng của mặt trời, sẽ tạo nên hỗn loạn đến mức nào.

Chắc chắn nó có thể làm tan chảy chuông đồng, thậm chí tinh luyện cả kim loại.

“Ô, ôi…”

Tanya khẽ bật tiếng nấc rồi buông tay khỏi chiếc đĩa.

Tấm đĩa kim loại khổng lồ nghiêng ngả, suýt đè lên chân Lawrence, nhưng anh thoát nạn nhờ Holo kịp ngoạm lấy cổ áo anh và kéo mạnh ra sau. Lá rừng tung bay trong không khí, rồi từ từ rơi xuống lấp lánh quanh họ. Tanya ngồi thụp xuống, úp mặt vào hai tay, bật khóc nức nở. Đó là một cách khóc kỳ lạ khi mà bí ẩn đã được giải đáp.

Và chẳng bao lâu, Lawrence cũng hiểu ra lý do.

Tanya có thể hơi ngây ngô, nhưng cô ấy không thể không biết rằng tuổi thọ của con người ngắn ngủi đến thế nào. Có lẽ bấy lâu nay, cô ấy chỉ giả vờ như chẳng hề hiểu điều đó.

Vị giả kim thuật sư ấy sẽ không bao giờ quay lại nữa.

Ý nghĩ rằng bí ẩn kia sẽ mãi mãi là bí ẩn, rằng ký ức về quãng thời gian ấy sẽ luôn còn nguyên vẹn và không bao giờ bị thay thế, rằng quá khứ đã khắc sâu trong tim cô ấy sẽ không bao giờ bị phủ lên những gam màu mới—

—chính Lawrence vừa phá vỡ phép màu cho phép Tanya tin vào tất cả những điều đó.

Trong thoáng chốc, Lawrence tự hỏi liệu mình có nên giải được bí ẩn của cánh cổng hay không. Bởi nếu không, Tanya có thể tiếp tục tự lừa dối bản thân, sống mãi trong ký ức. Dù có bị đuổi khỏi ngọn núi, cô ấy vẫn có thể mang tấm đĩa ấy trên lưng, chuyển đến một nơi nào đó mới mẻ, sống những ngày bình yên trong tĩnh lặng.

Tất cả trong khi mơ một giấc mơ dối mình—rằng bí ẩn ấy sẽ mãi mãi là bí ẩn, rằng quá khứ sẽ luôn đúng như những gì cô mong muốn, và rằng, ắt hẳn, người luyện kim sư ấy một ngày nào đó sẽ trở về bên cô.

Đó là những gì Lawrence nghĩ, nhưng Holo bất ngờ thúc nhẹ anh từ phía sau.

Và trước khi Lawrence kịp phản đối, Holo đã bước đến bên Tanya, bắt đầu liếm ướt đôi má cô ấy bằng cái lưỡi khổng lồ của mình. Nhìn qua hệt như một con sói đang kiểm tra xem con mồi của mình có ngon hay không, thế nhưng khi Tanya ngẩng đầu lên, cô ấy ôm chặt lấy chân trước của Holo. Holo tiếp tục liếm dọc lưng Tanya; rồi khi cô ấy nằm xuống, Holo cúi xuống phần lông mềm ở sau gáy của cô ấy.

“Bọn ta sống rất lâu,” Holo nói. Rồi sau khi liếc nhìn Tanya vẫn còn đang nức nở, cô quay sang Lawrence. “Nhưng bọn ta không thể mơ mộng mãi được.”

Việc ngươi làm không sai.

Đó chính là điều Holo muốn nói.

Lawrence quyết định tin vào cô.

Anh phủi những chiếc lá rơi bám trên quần áo, cúi nhìn mặt đất, và thoáng thấy hình cô gái nhỏ khắc trên tấm đĩa đang lấp lánh dưới ánh sáng.

Cô ấy đang mỉm cười hạnh phúc, cứ như một thiên sứ vậy.

~~~

Khi Lawrence thuật lại sơ lược cho Elsa về cơ chế của dụng cụ ấy và cách nó vận hành, Elsa nhìn xuống cặp kính của mình, rồi vội vàng đưa chúng ra xa ngọn nến, hơi sợ hãi.

Sau khi lời giải về thiên sứ trên núi được sáng tỏ, Tanya đang chìm trong nỗi u sầu bỗng tuôn ra như thác lũ biết bao ký ức về nhà giả kim. Họ lắng nghe cô kể mãi không dứt. Rồi khi mặt trời lặn, cả ba quay trở lại nhà thờ.

Và lần đó, không chỉ có Lawrence cưỡi trên lưng Holo, mà Tanya cũng đi cùng.

Đôi mắt Elsa mở to khi thấy con sóc khổng lồ, nhưng kinh nghiệm của cô thì nhiều vô kể. “Hay là ta làm chút bánh hạt sồi nhé?” cô gợi ý, và đề nghị ấy lập tức khiến Tanya vui hơn đôi chút. Holo biết mình không nên cản, nhưng cảnh cô ấy vừa vui vừa bối rối vì được đãi đúng món hợp khẩu vị khiến Holo cảm thấy vô cùng buồn cười.

Đêm khuya, trước khi bánh hạt sồi được cho vào lò nướng, họ buộc bản ghi chép của Elsa về giá trị ngọn núi và lá thư của Lawrence gửi Hilde quanh cổ Holo.

“Sao không đợi đến khi bánh chín rồi hãy đi?” Elsa đề nghị. Nhưng Holo bỏ đi ngay, như thể muốn chạy trốn khỏi điều gì đó.

Holo nhanh đến mức có thể chạy thẳng tới Nyohhira, nơi họ đã rời xa bấy lâu, rồi quay lại trong chỉ một đêm.

Tấm đĩa kim loại kia hẳn sẽ là báu vật đáng giá cả ngàn đồng vàng với Hilde, kẻ đang quản lý vô số hầm mỏ, nên không nghi ngờ gì việc ông ta sẽ trả giá cao cho cả đĩa lẫn ngọn núi.

Lawrence từng thoáng nghĩ rằng có khả năng Hilde đã biết đến một kỹ thuật tương tự, nhưng lời Tanya nói sau đó đã xua tan lo lắng của anh.

Dù ngọn núi có ra sao, cô ấy vẫn sẽ ở đó. Người học trò xuất sắc nhất, cô gái được khắc trên đĩa, biết đâu một ngày sẽ trở lại, mang theo những ký ức về người thầy.

Đáp lại lời ấy, Holo quả quyết rằng cô sẽ bắt con thỏ ấy trả đúng giá, kể cả có phải dùng đến răng nanh. Lawrence có thể dễ dàng hình dung cảnh đó, thế nhưng trong thư anh vẫn viết, Xin hãy báo cho tôi nếu Holo có dùng bất kỳ cách ép buộc nào với ông.

Holo, mang theo lá thư chứa biết bao suy nghĩ ngổn ngang, biến mất vào bóng đêm chỉ trong nháy mắt.

Tiễn cô đi, Lawrence thở dài mệt mỏi, ngước nhìn bầu trời.

Câu chuyện của họ, được vẽ thành một bức họa mang hình hài huyền thoại, vẫn chưa kết thúc.

“Anh Lawrence, bánh chín rồi đây!”

Tanya, khi ấy đang ở dạng người và đã giúp nướng bánh, gọi anh, kéo tầm mắt anh trở về từ bầu trời xa thẳm.

Anh quay lại, thấy Tanya, thân hình tỏa ra một vẻ đẹp khác hẳn với Holo, đang vẫy tay với anh.

Lawrence vẫy lại và lầm bầm với chính mình, “Có lẽ mình nên ăn hết chỗ bánh này để chứng tỏ mình yêu vợ mình đến thế nào.”

Bánh hạt sồi thì vừa đắng vừa cứng.

Giống hệt như những câu chuyện con người vô tình để lại trong thế gian này.

Không, có lẽ mình nên để lại cho Holo ít nhất một ổ, Lawrence nghĩ, rồi khẽ mỉm cười.

Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!