Heaven's Haven

Chương 1: Thursday's Bizzare Adventure

Chương 1: Thursday's Bizzare Adventure

Nó là một đoạn tóm tắt ngắn nằm gọn ghẽ ngay trang đầu của tờ báo chiều. Người phát ngôn vừa lên sóng truyền hình và đọc to thông báo ấy. Chẳng có gì đặc biệt. Thị trường chứng khoán hôm nay lại tiếp tục lặn sâu xuống rãnh Mariana. 

Ngày, tháng, năm cùng biểu đồ nến đỏ rực hiện lên trên màn hình. Một sự kiện đau thương, nhiều nạn nhân phá sản và cảnh sát đang tiến hành điều tra khả năng giao dịch nội gián. Nghe như một bản tình ca gửi tới những tên quan chức, và là giấy báo tử cho đám dân đen còn lại. Trong đó bao gồm cả tôi.

“Bao giờ thì đám cưới?” Tôi đưa điện thoại lên tai, hỏi. 

“Tầm hai ngày nữa.” Cậu ta nói. “Nhưng mày đi được không?” 

Dĩ nhiên là tôi không đi được rồi.

Tôi đã báo lên lão sếp của mình từ hai hôm trước để xin nghỉ phép gấp cho về kịp đợt đám giỗ bà nội dưới quê. Sau đó lão lạnh lùng đưa tôi một tờ đơn với cái dòng chữ: “Lý do nghỉ việc cụ thể - Lười biếng” rồi bảo ký vào.

Tôi vứt ngay cây bút bi đang cầm trên tay không chút lưỡng lự. 

Không biết nhờ may mắn hay xui xẻo nên tôi mới được nhận vào cái công ty hiện tại. Sau nhiều năm bon chen trong cái xã hội thu nhỏ ấy, cuối cùng thì tôi cũng leo lên được tới vị trí thư ký của lão. Ngày ngày lượng công việc tôi chịu trách nhiệm càng lúc càng tăng nhưng lúa lát thu hoạch thì vẫn thế. Lão không thưởng cũng chẳng khen, thứ động lực duy nhất để tôi bám níu lại cái hòn cù lao giữa biển mặn là đống đơn xin việc nằm chi chít trên bàn lão mỗi sáng. Chữ chiếc bút viết kẻ gạch chồng chéo lên nhau, dày đặc như mạng lưới nhện méo mó. Cả cái bàn là một mê cung thu nhỏ với những nhân tài có chí nằm la liệt. 

Sau cuộc gọi với bạn ban nãy, tôi lại quyết định thử vận may của mình với lão một lần nữa.

“Tôi phải nhắc lại. Thứ Sáu này có buổi họp quan trọng, tôi cần anh đến sớm để chuẩn bị mọi thứ cho hoàn hảo. Tôi không cần biết anh có đám giỗ hay đám cưới, anh hiểu rõ được sức ảnh hưởng của những người sẽ có mặt trong căn phòng đấy vào ngày mai đúng chứ?” Giọng lão gằn lên nhưng vẫn lạnh toát như cơn giông kéo tới bên ngoài lúc này. 

“Vâng, thưa sếp.”

Nói xong thì lão vội gập máy cái rụp.

Thế thì rõ ràng câu trả lời vẫn là “không” dù cho tôi có hỏi lão lại bao nhiêu lần đi chăng nữa. Sáng mai tôi không được về quê ăn giỗ, cũng không được nghỉ phép thêm ít bữa, lại còn phải tới công ty sớm hơn thường lệ. Vậy mà lúc này hai con mắt tôi vẫn căng trừng lên, dán khít vô cái màn hình máy tính như keo con voi. 

Tối thứ Năm hôm nay bò như rùa trên từng tiếng “tích tắc” của cây kim giây. Quá canh tư, trời giông bão lớn quật vô bốn bức tường xi măng, căn nhà như chao đảo. Những tiếng hú rít lên bên ngoài, vang vọng qua ô cửa sổ đóng chặt. Hàng cây xoài trồng trước sân rủ nhau nổi loạn, bóng đen chúng to lớn, theo ánh đèn vàng hắt vào bàn làm việc chỗ tôi ngồi như đang nhảy bản cầu hồn ma mị.

Cuối cùng, khi mãi mới được chợp mắt thì bình minh đã kéo tới trước thềm nhà. Tôi vội bật người dậy từ trên chiếc bàn làm việc trước cả khi đồng hồ báo thức kịp cất tiếng. Máy tính xách tay vẫn còn sáng, tối qua có vẻ tôi gục luôn ngay trên cái quan tài nhỏ của mình. Hai bên xương vai tôi như bị lệch vì tư thế ngủ, chỗ khớp cổ cứng lại chẳng khác gì bó bột. Tôi nghe được cả tiếng khớp hông của mình bẻ gãy như cành xoài mảnh khảnh sau cơn giông tố trong mỗi bước đi, nhưng ít nhất cũng không thể tệ hơn việc làm thư ký cho lão sếp. Ấy nghĩ là vậy mà vừa lết ra được khỏi phòng ngủ thì cơ thể tôi đã ngay lập tức biểu tình.

“Mẹ nó, đau!” Tôi vô thức la lên.

Cánh tay dài lều khều bị đè lên suốt cả đêm đến tê tái. Và cặp mắt mớ ngủ còn nhem nhuốc như mắt mèo. Tôi rà nhẹ ngón trỏ lên từng điếu thuốc trong bao để chọn kỹ càng. Nhưng rốt cuộc tôi vẫn dừng ở điếu đầu tiên theo thói quen. Tôi rút nó ra, châm lửa rồi đưa lên miệng hít phì phèo. Khi đã tỉnh táo hơn thì tôi gieo những bước chân nặng trịch đến phòng tắm.

Chỗ tấm gương ngay bồn rửa tay, tôi đứng lại, quẹt nước lên mặt, liếm mép. Hình ảnh của cơ thể kiệt quệ phản chiếu trong gương không còn khiến tôi ngạc nhiên. Thế rồi trong chốc lát, tôi đã vô thức nghĩ thầm: “Hôm nay là một ngày tuyệt vời”. Nhưng hai cái bọng mắt nặng trĩu như hai quả tạ trông chẳng khác gì sắp rụng xuống đến nơi. Anh bạn trong gương động viên tôi làm một điếu thuốc nữa. Và điếu thuốc ấy hữu dụng chẳng khác gì một lít Vodka khi đã say quắc cần câu. 

Vậy nên tôi nôn ọe ra khắp bồn, giữa cái làn khói trắng từ điếu thuốc bốc lên nghi ngút mờ hết cả gương. Nhưng cái mùi ập vào khứu giác lại không phải mùi khói, cũng chẳng phải mùi tanh. Cái vũng bầy nhầy ấy thậm chí còn không phải thứ chất lỏng nhão nhét vàng ố bình thường. 

Hay liệu nó có còn là chất lỏng nữa hay không? Vì đấy là một cái cầu vồng.

Một cái cầu vồng có mùi thơm của cá chiên?

Tôi nhăn mặt nhảy lùi về sau. Thế rồi khi dần bình tĩnh lại, tôi chậm rãi tiến từng bước tới gần chỗ cái bồn rửa tay một lần nữa để xác minh. Rõ ràng nó là một cái cầu vồng. Nhưng cầu vồng thì đâu phải là chất lỏng và có mùi.

Tôi gật đầu liên hồi. Sau đó thì “ồ” lên một tiếng rõ to, ngay cả tên say rượu trong gương cũng há hốc miệng đồng tình. 

Vậy cái mùi cá chiên thơm phức bốc lên như muốn ký hợp đồng với dạ dày của tôi này từ đâu mà ra?

Từ nhà tắm, tôi bứt tốc chạy về phía phòng bếp cách đó chỉ một cái hành lang nhỏ và tầm sáu bước chân của người lớn. Nếu là với con mèo nhà tôi thì chắc là tầm hai mươi lăm bước. Đây là lối đi dẫn thẳng ra cánh cửa kéo bằng gỗ ngăn vách căn phòng. Bên này cánh cửa, mùi béo ngậy của con cá tráp xộc thẳng lên mũi tôi thật hung tợn, như thể cả đại dương đang thu nhỏ lại trong cái chảo dầu. 

Người đầu bếp thiên tài phía bên kia ấy là ai?

Nhưng khoan. Tôi sống một mình trước giờ mà.

“Ai đấy?!” Tôi nhanh tay kéo cánh cửa mở toang ra rồi thủ thế trước cô gái lạ mặt đang nấu ăn.

Cô ấy có mái tóc màu vàng nhạt, mượt mà óng ánh như tia nắng sớm sau cơn mưa. Một cô gái tầm mười tám tuổi. Vóc dáng cô cao ráo, thân hình đồng hồ cát đang đếm ngược như bom hẹn giờ. Khi cô ấy quay người lại nhìn tôi, ánh mắt sáng lung linh lên màu nâu hạt dẻ, nhưng sâu thẳm như hố đen của vũ trụ - chúng hút tôi vào trong. Cô nháy mắt, hai mí mắt dài, uốn cong phất lên vẻ quyến rũ. Và khi cô nàng mở lời, hai bên ria mép vẫy gọi tôi tiến tới gần.

“Chào buổi sáng.” Giọng nhẹ nhàng của người thiếu nữ ấy cất lên.

À. Hai bên ria mép…

Tôi nghiêng đầu, chớp mắt theo nhịp liên hồi rồi lại cúi đầu trong im lặng. Cô mèo mướp vàng cũng lặng lẽ cúi đầu đáp lại, không nói thêm một lời nào. 

Tôi gặp cô ấy vào mùa thu bảy năm trước, khi tôi vẫn còn là sinh viên và cô vẫn chỉ lang thang trong những con hẻm nhỏ ngoài phố. Có một quán cafe xuống cấp nơi tôi từng tụ tập với bạn bè, hóng hớt các lời đồn và đọc sách. Quán không có gì đặc biệt, nhưng luôn có những điều không thể thiếu: cafe dở tệ và những con mèo hoang.

Cô nàng thường nằm cùng một chỗ dưới bàn gần cửa kính, thân cuộn tròn, ưỡn ẹo ngủ. Bộ lông hơi xù trên cái đuôi phe phẩy uyển chuyển trông thật dễ mến. Và ly cà phê tôi uống lúc nào cũng nguội ngắt, gạt tàn thì đầy thuốc. Chỉ có những buổi hẹn là thay đổi. Hôm thì trời mưa, hôm thì một mình, nhưng cô nàng vẫn luôn ở đó mỗi khi tôi đến. Ngày thì Murakami Haruki, bữa lại Franz Kafa, hôm lãng mạn thì tôi lại thích lật qua vài trang của Fyodor Dostoevsky. Tôi đọc ngấu nghiến từng trang một, từ đầu bìa đến bìa cuối. Tôi đọc như thể đang ăn viên mực nướng, cứ vậy mà đưa hết vô miệng những cục bột nóng hổi. Thời ấy tôi mới chỉ dấn thân vô xã hội người lớn nên chẳng bao giờ thiếu thời gian để đọc.

Giờ thì ngoài việc tôi trở nên bận rộn, thứ còn lại đã thay đổi chắc chắn là cô nàng mèo mướp vàng mà tôi yêu quý. Franz - con mèo tôi nhận nuôi bỗng dưng hóa thành một cô gái và đang đứng nấu ăn trong bếp.

Có lẽ là tôi đang mơ. 

Có một lần và duy nhất đúng một lần ở trong quán cafe ấy, tôi từng hỏi đám bạn của mình về tên của cô nàng mèo khi cuộc trò chuyện đang sôi nổi. Chẳng ai trong số hai đứa kia biết cả. Thế rồi tôi quyết định cúi xuống gầm bàn và hỏi thẳng cô ấy.

“Meo…” Con mèo đáp lại thật khẽ.

Phải rồi, mèo thì làm sao mà nói chuyện được.

Vậy thì đây rõ ràng là mơ. 

Nhưng cô ấy khẽ mở lời, như phản bác lại những đắn đo trong lòng tôi. “Anh trông mệt mỏi quá. Em làm nhiều đồ ăn lắm, anh ăn cho khỏe.” 

“Ừm… Ừ.”

Bây giờ lại đến phiên tôi cân nhắc kỹ vấn đề. 

“Vậy, cô là Franz?” 

“Đúng một chút.” Cô ấy đáp.

“Một chút gì cơ?”

“Anh nghĩ Franz là thế nào thì tùy đó mà em trả lời.”

“Anh đang mơ phải không?” Tôi lẩm bẩm. 

“Không một chút nào. Anh đang tỉnh táo hơn bao giờ hết.” 

Lúc đó, tôi khựng lại quan sát kỹ khung cảnh xung quanh rồi gõ lên đầu mình. Nó nhức và hơi ê ẩm chỗ ngay thái dương.

Tôi nghĩ sao về Franz? 

Về quá khứ của cô ấy, tôi gần như không biết gì. Những gì tôi biết, có thể nhân viên quán đã kể qua, hoặc có lẽ chính tôi đã tự vẽ nên chúng trong đầu khi ngắm nhìn cô. Nàng mèo từng sống xa hoa, khi cãi nhau với cậu chủ cũ, cô bỏ nhà ra đi. Tôi nhớ là vậy. Còn sau đó cô nàng làm gì để mưu sinh thì chẳng ai rõ. Có lẽ là cũng như bao con mèo hoang khác.

Rồi tầm bốn năm trước, tôi hầu như chẳng có thời gian ghé tiệm vì bận bịu công việc và những vấn đề cá nhân. Khi tôi quay lại quán cafe vào mùa thu năm sau thì nó đã phá sản và đóng cửa. Những lời bàn tán xôn xao chẳng còn đó, chuyện như người quen của tôi đã tự sát, thằng bạn thì có người yêu. Lũ mèo cũng rời đi, riêng chỉ còn cô nàng mèo mướp là ở lại. 

“Franz” là cái tên tôi đặt cho cô nàng khi nhận nuôi cô ấy, cái tên mà tôi lấy cảm hứng từ vị tác giả mình ngưỡng mộ. Cô nàng mèo này chỉ là “Franz” khi chuyển đến sống với tôi, còn trước đó thì người người gọi cô là “Meo”.

Vậy đấy, đó là tất cả những gì tôi biết về cô ấy. 

“Thế giờ anh nên gọi em là gì?”

“Anh cứ gọi em là Franz như trước đi.” Cô ấy trả lời bằng giọng đinh ninh chắc chắn.

“Franz… Em có thật không? Anh đang ảo tưởng hả?”

“Anh vừa tự gõ lên đầu mình còn gì? Anh thấy đau không?”

Tôi đắn đo gật đầu. Vì dù hỏi thế nhưng tôi cũng vừa lãnh trọn một cú đau như trời giáng. 

“Lẽ nào anh vẫn không phục?” 

“K-không… anh-” Tôi hốt hoảng khi sực nhớ ra một thứ còn quan trọng hơn cả việc con mèo biết nói chuyện. “Thôi chết rồi! Trễ giờ rồi, nay có buổi họp quan trọng, chết con mẹ tôi rồi!”

“Haha.” Cô mèo bật cười và quay người lại tiếp tục nấu ăn. “Anh đang nói gì thế. Làm gì có buổi họp nào.”

“Không, hôm nay anh có việc quan trọng lắm. Lão sếp anh bảo phải có mặt từ sớm.” Tôi chạy lại bên cạnh cửa sổ gần bàn ăn rồi ngó nhìn ra ngoài. “Mặt trời lên quá đỉnh núi rồi! Giờ sao mà kịp tàu.”

“Không sao đâu. Hôm nay vẫn là thứ năm.”

“Em đang nói cái gì vậy?”

Franz ngừng bếp và tiến tới chỗ tôi đứng, nhẹ nhàng đặt tay- ý tôi là bộ vuốt được mài dũa cẩn thận, tỉ mỉ lên vai tôi. Tay còn lại, cô nàng ve vãn mái tóc dài ngang tai, rối bù xù của tôi. Dần dần, cô ấy áp sát lại, thì thầm bên tai.

“Anh đi ra ngoài xem là sẽ hiểu.”

Nói rồi cô ấy nắm chặt bàn tay phải tôi đang tựa trên quầy bếp bằng đá hoa cương lạnh, lôi đi một mạch ra thẳng cửa trước. Tại đó, tiếng chuông nhà vừa hay vang lên khi cả hai dừng lại. Đài radio trên kệ trưng bày giữa hành lang đột ngột phát hết cỡ chương trình nhạc rock của Fishmans. Bài hát nhẹ tênh, lãng đãng siêu thực. 

Khi tôi vẫn còn chưa kịp hình dung ra chuyện gì thì Franz đã mở cửa trước, để hiện ra cơ thể của một anh chàng đưa thư được bao bọc trong luồng sáng chói lóa của mặt trời. Trong vô thức, tôi lấy tay còn lại lên che hé mắt, vẫn đủ để nhận ra được dung mạo của anh ta.

Một chàng thiếu niên tầm tuổi đôi mươi, có lẽ là trẻ hơn tôi nhiều. Anh mặc chiếc quần sọt xanh dương dài tới gối và cái áo sơ mi ngắn tay màu trắng. Cái mũ kêpi đội lệch trên đầu anh che khuất đi một phần gương mặt thon nhỏ, trông tuấn tú. 

“Co-coocoo… Gù gù… Gù-gù.”

Cả giọng anh cũng thật trẻ trung-

Nhưng khoan đã?!

Tôi giật mình, lắc đầu chớp mắt liên hồi. Sau lúc, tôi lại nhăn nheo mặt chậm rãi nhướn người về phía trước để nghe rõ hơn.

“C-coo… coo.”

Anh đưa thư nói - nếu có thể gọi đó là “nói”, bằng thứ âm thanh tựa một loài chim. Tôi không rõ là loài nào, nhưng tôi có thể tin vào đôi tai mình rằng đây không phải ngôn ngữ của loài người.

“Cái quỷ gì vậy…?”

“Haha. Anh không nhận tờ báo sáng đi? Người ta đang chờ kìa.”

Franz bật cười. Cô nói thật thản nhiên, như thể việc một con người đang nói tiếng động vật là lẽ thường. Thế nhưng tôi liền nhớ ra, Franz - con mèo của tôi cũng đang đi đứng, nói chuyện như một con người. Và như vậy, tôi đứng đơ ra, câm bặt như bị mèo nuốt lưỡi.

“Có an toàn không thế?” Sau một lát, tôi đắn đo đưa tay ra nhận tờ báo. 

Anh đưa thư không đáp lại. Mà cho dù có đáp lại thật thì tôi cũng chẳng hiểu nổi anh ta đang nói gì. 

“Cảm ơn nhé, cậu đưa thư.” Franz cười hí hửng, vẫy tay chào anh ta rồi huých mông thật điệu đà đẩy cánh cửa đóng lại. “Anh nhìn trên tờ báo xem.”

Tôi gật đầu, đưa tờ báo lên lướt qua một lượt. Không có gì đặc biệt. Sàn chứng khoán hôm nay cũng lao đầu như đà điểu cắm cổ xuống hố cát. Mục tóm tắt trông khá non tay, thứ mà bất cứ tên nghiệp dư nào cũng có thể viết.

Nhưng Franz khều khuỷu tay tôi và dùng cái vuốt nhọn của nàng chỉ vào một góc trái bên trên cùng của tờ báo sáng. Tôi dõi mắt theo rồi dừng lại tại chỗ ghi ngày tháng: “Thứ năm, ngày ba mươi tháng Hai.”

“Anh đang đắn đo điều gì à?” Cô ấy đột ngột hỏi.

“Chẳng có gì đâu.” Tôi đáp. 

Franz xoay một vòng rồi từ tốn bước lại phía nhà bếp.

“Anh thấy đấy. Hôm nay là thứ năm.”

Không, điều đó thì tôi nhận ra rồi. Đêm qua mới là thứ năm, còn hôm nay là ngày 30 tháng 2. 

“Trong lúc anh ngủ, quả đất xanh này có quay dư thêm một vòng nào không?”

Cô ấy cười và đưa bộ móng lên che miệng thật duyên dáng, nhưng rồi lại vội rút tay đi.

“Sao anh không gọi thử chỗ làm mà hỏi xem?”

“Ừ.” Tôi nói và rút chiếc điện thoại cũ của mình ra, mở vô mục số gọi đi và chọn ngay dãy số đầu tiên mà không cần kiểm tra lại.

Đầu dây bên kia rung lên, trong một khắc, có người đã bắt máy.

“Meo…”

Là giọng một con mèo.

“Em chào buổi sáng, thưa sếp.”

“Meo… Meo.”

Vẫn là giọng một con mèo.

“Sếp…?” Tôi dè chừng hỏi. “Có thể sếp không tin, nhưng hình như sếp đang nói tiếng mèo thì phải?”

“Meoooo!”

Con mèo đó quát lên từ đầu dây bên kia. Tôi chẳng hiểu được gì. 

Đứng trước mặt tôi, Franz lại bụm miệng cười khúc khích. Nàng ve vẩy cái đuôi thật uyển chuyển và ra dấu gập máy. Tôi làm theo, tắt điện thoại nhưng khoan cất vô lại trong túi quần. Tôi nghiêng đầu, há hốc mồm nhìn cô ấy vì sực nhớ ra.

“Thế ba mẹ anh thì sao? Họ cũng như vậy à?!”

“Anh thử gọi họ kiểm tra xem.”

Nghe vậy, tôi lại bật điện thoại lên mò mẫm. Sau một hồi lục lọi danh bạ, cuối cùng, tôi tìm thấy số của mẹ nằm ở dưới cùng. 

“Mẹ ơi! Mẹ có sao không?!” Tôi hốt hoảng nói khi mà đầu dây bên kia mới vừa bắt máy.

“Cục-cục tác… Oooo.”

“Hả…? Một con gà? Thật à?”

“Vâng, anh nghe rồi đấy.” Franz chêm vào. “Anh hỏi thử ba đi?”

“Gâu… gâu. Gâu.”

“Ba hả, ba…?” 

“Gâu.”

Như thể đã nghe được giọng Franz, ba tôi từ đầu bên kia cất tiếng. Tôi lắng nghe dù cho chẳng hiểu được gì. Nhưng ít nhất, khi đã xác định được đấng sinh thành của mình vẫn an toàn - dù có khác đi đôi chút - tôi gập máy rồi liếc nhìn Franz. 

Nghĩ cũng lạ, không rõ vì sao cô ấy có thể phân biệt được giọng của họ. Nhưng ở hoàn cảnh lúc này, có lẽ chẳng còn gì khiến tôi ngạc nhiên nổi nữa. 

“Vậy giờ anh phải làm gì?”

“Tất cả những gì anh muốn.” Franz mỉm cười ma mãnh. 

Nhưng tôi còn chẳng biết mình muốn gì. Trước đây thì tôi còn có những giấc mơ, giờ thì không rõ.

Mà nghĩ lại… Đã biết bao lần tôi từng mơ thấy mình bắt chuyến tàu đêm rồi nhỉ? Lúc nào cũng chỉ một giấc mơ ấy. Con tàu cập bến tại ga trung tâm ngột ngạt mùi khói thuốc và xú uế từ nhà vệ sinh công cộng gần đó. Khắp pê-rông đông nghịt đến chẳng còn chỗ mà đứng. Phải cố gắng lắm tôi mới chen chúc lên được tàu, nhưng bên trong lại vắng tanh không một bóng người. Toàn bộ dãy ghế thì thô cứng, xuống cấp với miếng vải lót đã rách tứa tung. Tôi lựa đại một chỗ đặt mông xuống, ngó ra cửa sổ. Bên ngoài, khung cảnh đen đặc. 

Chuyến tàu đêm chậm rãi lăn bánh, cột đèn hai bên đường hắt vào những luồng sáng mờ nhạt, yếu ớt. Những cái bóng đen thay phiên nhau lướt qua lại trên lối đi. Tôi đứng dậy khi con tàu dừng hẳn lại ở nhà ga, bước xuống, nhưng đó chẳng phải là nhà ga gì cả. Chỉ có một cánh đồng trống trải, bốn bề tối om như mực. Không ánh đèn sinh hoạt, không đồng hồ hay điện thoại, không biểu đồ hay những con số, chỉ có một con mèo mướp vàng ngồi giữa cánh đồng tối và giấc mơ cứ thế tiếp diễn.

Khi ấy là bảy năm trước, tôi mới bước sang tuổi hai mốt. Chẳng có chút hy vọng trong việc trường lớp, nhưng cũng không kiếm được lý do gì để bỏ học. Suốt nhiều tháng trời tôi dậm chân tại chỗ, gặm nhấm từng con chữ trong quyển sách kinh tế và mơ tưởng về một mùa thu có ánh mặt trời, có mùi cỏ ẩm với tiếng mưa lất phất nhẹ nhàng. 

Đến giờ tôi vẫn còn nhớ như in buổi chiều thanh tĩnh hôm đó. Ngày ba mươi tháng mười, tôi tỉnh dậy khi mặt trời đã treo quá đỉnh đầu và bỗng dưng quyết định đi bộ xuyên qua khu rừng nhỏ gần nhà để đến khuôn viên UBC[note85788]. Những chiếc lá phông bị cơn mưa lớn đêm qua quật xuống, trải đầy trên lối đi, đỏ rực một con sông khô cạn ngủ quên giữa lòng thành phố. Tôi lặng lẽ bước đi, tay đút sâu trong túi quần kaki đã sạm màu. Xung quanh im ắng đặc quánh, chỉ có tiếng lá khô đôi khi vỡ vụn dưới chân nghe giòn rụm, xen lẫn thanh âm nhịp nhàng của lũ giẻ cùi lam như xé toạc không gian.

Tôi nghỉ trưa trong căn nhà ăn đơn sơ, ồn ào những câu chuyện pha trò vặt vãnh của đám sinh viên đồng lứa. Buổi chiều, tôi chậm rãi nhấp từng ngụm cà phê đen nhạt nhẽo - thứ cà phê mà chẳng ai thực sự hài lòng nhưng vẫn uống. Mây đen từ tối qua đã kéo đi, bầu trời lại quang mây tạnh gió. Tôi rảo bộ ra ngoài rồi nằm dài trên bãi cỏ, lặng thinh nhìn lên bầu trời nhợt nhạt và thầm nghĩ. 

Một buổi dã ngoại chiều thứ năm là cách mà tôi gọi nó. 

Nhưng giờ đây, tôi chỉ còn là một nửa con người của chính mình ngày trước. Bởi lẽ trong giấc mơ, chuyến tàu đêm ấy không chỉ mang theo những muộn phiền, mà còn vô tình chở những hoài bão tôi ấp ủ đi thật xa.   

“Anh đang ủ ê chuyện gì vậy?” Cô ấy đột ngột buột miệng hỏi, giọng vang lên giữa hành lang yên tĩnh. Chương trình radio đã ngừng phát được một lúc.

“Không có gì đâu.” Tôi đáp.

“Anh không muốn nói về nó, đúng chứ?”

Tôi khoan vội gật đầu, chỉ lén lút nhìn sang hướng khác - hai bên hành lang, trên nóc nhà và trên sàn gỗ, bất cứ đâu mà tôi có thể tránh cặp mắt của Franz. Thế rồi khi đã suy nghĩ kỹ, tôi mở lời.

“Nếu thực sự không phải đi làm, anh bỗng dưng có cảm giác muốn đi dã ngoại một chuyến.”

“Thật à? Đi dã ngoại sao?” Cô ấy nghiêng đầu, hỏi lại với điệu cười hóm hỉnh, dù trông Franz như đã biết chắc câu trả lời của tôi là gì.

“Ừ thì… Anh nhớ hồi còn sinh viên, có khoảng khuôn viên trường rộng, ai cũng trông vui vẻ.” Tôi tiến từng bước tới chỗ cô mèo mướp, sải chân nhỏ. “Mặt trời leo cao, rồi từ từ trượt xuống. Người đến rồi đi. Thời gian cứ trôi. Một buổi dã ngoại chiều thứ năm vô lo.”

Bất chợt, quả lắc của chiếc đồng hồ già cỗi đứng trầm mặc giữa hành lang khẽ động đậy. Một tiếng “cốc” khô khốc vang lên. Hai con chim cơ học màu trắng sữa bay ra từ ô cửa nhỏ trên chiếc đồng hồ. Tiếng cúc cu kêu lên inh ỏi, hai hay ba nhịp gì đó tôi cũng chẳng đếm kỹ. Franz nhảy dựng lên, xù lông như nổi đóa. Khi cô đã bình tĩnh lại, chúng tôi quay người dõi theo, cho đến khi những dáng hình bé xíu ấy khuất hẳn sau mảng trần mờ đục. Rồi, hành lang lại chìm vào im lặng. 

“Vậy thì hôm nay chúng ta cùng đi dã ngoại nào.” Thái độ của Franz quay ngoắt nửa vòng trái đất.

“Em nói sao?” Tôi hỏi lại, vẫn chưa tin vào tai mình.

“Em chuẩn bị đồ ăn từ sáng hết rồi, chỉ còn chờ anh mãi thôi. Có khi giờ mọi thứ cũng nguội ngắt mất rồi.”

“Anh không biết… xin lỗi.”

“Gì chứ, đâu phải lỗi của anh.” Cô ấy khẽ nói, đôi mắt láo liên. “Cũng đâu phải là anh biết được hôm nay mình sẽ nghỉ làm. Ý em là… Mà dù sao thì nó cũng không thay đổi được gì. Đi dã ngoại thì phải mang đồ lạnh theo chứ.”

Câu nói lửng lơ rồi ngắt ngang, Franz cúi xuống, lặng lẽ dùng bộ vuốt dưới chân vẽ vài ba đường thẳng ngang dọc trên nền gỗ. 

“Thật ra thì em biết từ đầu rồi.”

Chúng tôi đứng im, chỉ nghe tiếng kim giây đang tiếp tục chạy. Tôi buộc mình phải lên tiếng.

“Anh thật chả hiểu em được, Franz.” Tôi nói chậm rãi. “Và càng không hiểu được mình lúc này nữa. Anh đang cố sắp xếp lại mọi thứ trong đầu, dù nó chẳng dễ dàng gì. Anh biết những gì đang xảy ra là rất bất thường, nhưng anh không muốn làm quá mọi chuyện lên. Đồng thời lại chẳng thể giả vờ như nó không tồn tại. Có lẽ… anh thực sự cần thêm chút thời gian.”

“Cụ thể là bao lâu?”

“Chịu thôi. Vài phút hay vài tiếng, cũng có thể là cả ngày.”

Cô dùng chân, kẹp cây cỏ mèo giữa bộ vuốt rồi hất nó sang chỗ tôi. Sau đó nàng liếm bộ ria mép và phủi nhẹ cái đuôi đang phe phẩy đầy hào hứng của mình. 

“Cả ngày? Như vậy không phải lâu quá sao?”

“Có lẽ.” Tôi đáp.

“Nhưng ngày hôm nay sẽ không bao giờ đến lần thứ hai đâu.”

Tôi vẫn còn lưỡng lự nhưng Franz thì quyết đoán. Cô ấy chạy tới và nắm lấy tay tôi, kéo vô trong phòng bếp. Buổi sáng thứ Năm ngày ba mươi tháng Hai, tôi và con mèo mướp vàng nhà mình đang nấu ăn để chuẩn bị cho chuyến dã ngoại tôi hằng mong ước - thứ có lẽ sẽ không bao giờ xảy đến lần thứ hai.

Cũng như sự thật mà tôi không thể quên đi được: mùng tám tháng Giêng, bốn năm trước, buổi dã ngoại bên bờ biển cùng cô ấy thực sự đã không đến.

Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!

Ghi chú

[Lên trên]
UBC: University of British Columbia, một trường đại học lớn ở Canada.
UBC: University of British Columbia, một trường đại học lớn ở Canada.