Tập 07

Chương 6 Nơi sự sống kết thúc, biển cả bắt đầu

Chương 6 Nơi sự sống kết thúc, biển cả bắt đầu

Chương 6 Nơi sự sống kết thúc, biển cả bắt đầu

                          

Vừa bước ra khỏi cổng Tây ga Shinjuku, đi bộ một đoạn ngắn dọc theo đường ray, tôi tìm thấy tiệm Mos Burger, nơi hẹn gặp.

Tuy địa điểm này cách khá xa “đại bản doanh” Moon Echo, nhưng tôi đã quá quen thuộc với khu phố này nên cũng chẳng khó tìm. Vừa thấy may mắn vì điều đó, tôi lại vừa dấy lên nỗi bất an: liệu chọn một nơi đông đúc ồn ào thế này có ổn không?

Nhưng đây là địa điểm do đối phương chỉ định.

Đồng hồ điểm ba giờ chiều. Giờ cao điểm ăn trưa đã qua, trong tiệm lác đác vài chỗ trống. Tôi lao vào quán giữa cái nắng hè đổ lửa như địa ngục, gọi vội một ly trà đá lớn, tìm chỗ ngồi rồi uống một hơi cạn nửa ly. Hơi nóng hầm hập trong tai vẫn chưa chịu tan đi.

Và rồi—

Tôi chờ đợi. Ba mươi phút trôi qua.

Tôi đi gọi ly thứ hai, uống cạn, rồi gọi ly thứ ba. Tôi xem giờ trên điện thoại không biết bao nhiêu lần, đọc đi đọc lại nội dung email, xác nhận rằng đã quá giờ hẹn từ lâu. Ngay lúc tôi đang lo lắng không biết mình có nhầm chỗ không, một bóng người xuất hiện ở cửa.

Người phụ nữ ấy mang một khí chất áp đảo đến mức trong thoáng chốc, tôi còn tưởng rằng mùa hạ vì không chịu nổi cái nóng của chính mình nên đã hóa thành người để trốn vào quán.

Cô đội chiếc mũ rộng vành màu trắng che tới vai, đeo cặp kính râm màu vàng chanh, mặc chiếc áo thun bất đối xứng xẻ tà tay áo, để lộ bờ vai phải đầy táo bạo, bên dưới chiếc quần short là đôi chân với những đường cong chói mắt. Mái tóc được nhuộm ombre chuyển từ đỏ sang chàm, tựa như ráng chiều Arizona.

Cô đảo mắt nhìn quanh quán, rồi ánh mắt dừng lại ngay nơi tôi.

"A, thấy rồi thấy rồi! May quá! Xin lỗi chị đến muộn nhé!"

Cô lao tới, quẳng chiếc túi xách lên ghế đối diện tôi, chỉ rút ví và điện thoại ra rồi nói: "Chị đi gọi món cái đã! Xin lỗi nha!" rồi lại chạy biến về phía quầy thu ngân. Thật là một người bận rộn.

Thanh toán xong, cô sải bước quay lại và ngồi xuống.

"Xin lỗi, chờ lâu lắm rồi nhỉ? Công việc cứ dồn đống lại! May mà tìm được cậu ngay, anh Kuni bảo là gặp người thật cái là nhận ra liền, quả không sai! Dù chị cũng có xem video để chuẩn bị trước, nhưng trong đó toàn là giả gái không à? Chị đã lo lắm đấy."

Tôi rụt cổ nhìn quanh. Giọng cô ấy lớn quá.

"...À, vâng. Chào chị, lần đầu gặp mặt, em là Murase Makoto. Cảm ơn chị hôm nay đã dành thời gian..."

"Ừm, chị cũng muốn gặp cậu một lần, nên vừa hay! À này, gọi Makoto-kun nhé? Hay gọi sao đây? Cứ gọi chị là Rikako được rồi."

"Dạ... vâng ạ."

Tôi lại len lén ngước mắt lên, quan sát Unno Rikako.

Tôi nghĩ mình đã viết điều này nhiều lần rồi: trong giới âm nhạc có không ít người "hack tuổi", nhưng cô ấy đúng là trường hợp cực phẩm. Nhìn cách cô nói chuyện hay những cử chỉ ngượng ngùng, có khi trông còn trẻ hơn cả Akane và Kaya. Hơn nữa, khi hát, cô có thể điêu luyện kiểm soát quãng giọng rộng từ những nốt cao vút xé toang bầu trời đến những nốt trầm sâu như đáy sông, vậy mà lúc nói chuyện lại hoàn toàn giống một nữ sinh trung học bình thường.

"A, chị chưa ăn trưa nên vừa ăn vừa nói nhé, thông cảm ha?"

Nhân viên mang đến một cái khay đầy ắp burger gạo, hotdog sốt ớt và khoai tây chiên đặt trước mặt cô.

"Makoto-kun ăn chút gì không?"

"À, em không cần đâu ạ."

Tôi đang căng thẳng muốn chết, tâm trí đâu mà ăn uống. Unno Rikako lập tức tấn công chiếc burger gạo, ăn trông ngon lành vô cùng.

"Chị nhịn đói khoảng hai ngày rồi, a—đói quá đi mất! Cứ bắt đầu viết nhạc là chẳng còn nhớ gì đến chuyện ăn uống nữa."

Xem ra đời tư của cô ấy cũng bừa bộn hết chỗ nói. Dù tôi cũng chẳng có tư cách để nhận xét người khác.

"Thực ra lúc nghe anh Kuni nhắc tên cậu chị cũng không nhớ ra ngay, nhưng mà nghe bảo là cái người của Kuboi Takuto đó! Là người đã hoàn thành bài hát đó, chị mới ớ ra! Cái đó đỉnh thật sự! Bè hòa âm cũng là Makoto-kun cân hết đúng không? Đoạn rap chồng lên nghe hay lắm, chị thích nhất kiểu hát đồng thanh mang tính tự sự mà trải dài cả quãng tám như thế, rồi đến điệp khúc lại quyện với phần của anh Makita, nghe mà chị cứ phải gào lên ôi ôi ôi ôi siêu phấn khích luôn."

Makita. Nghe thấy cái tên đó thốt ra từ miệng Unno Rikako một cách tự nhiên như hơi thở, toàn thân tôi cứng đờ, nhưng cô dường như chẳng hề để ý.

"Bản của anh Makita chị cũng nghe rồi, cậu biết đấy, cái đó quả nhiên vẫn còn dang dở, hoàn toàn chưa đủ sâu. Tuy chị cũng hình dung được thứ mà anh Makita muốn làm có lẽ là như thế này, nhưng nghe bản của Makoto-kun thì thấy biên độ cảm xúc quá kinh khủng, hoàn toàn khác với những gì chị tưởng tượng. Chị thấy hơi tiếc nuối, kiểu như hóa ra bấy lâu nay mình chẳng hiểu gì về anh Makita cả."

Cô ấy nói một tràng không nghỉ, mà đồ ăn trên khay cứ thế biến mất, thật kỳ diệu. Tôi chẳng có cơ hội nào để chen miệng vào.

"Nghe đồn Kuboi Takuto sắp sửa tái debut, thật không? Bài hát đó của Makoto-kun cũng sẽ thu âm lại à? Chỉ remix thôi có đủ không? Tuy chất mộc mạc (lo-fi) cũng hay nhưng vẫn mong áp suất âm thanh (sound pressure) mạnh hơn một chút, là để dùng cho vũ đạo đúng không? Nhưng quả nhiên vẫn muốn dùng giọng của anh Makita, không biết vấn đề bản quyền thế nào nhỉ?"

Cô ấy thực sự chỉ toàn nói chuyện âm nhạc.

Tôi cảm thấy một sự dễ chịu kỳ lạ. Cảm giác này—giống như đi tàu điện, ngồi xuống ghế rồi mới phát hiện đó là lưng của một con mãnh thú đang ngủ say, nhưng vì nó quá vừa vặn với cơ thể nên tôi cứ thế ngồi lì luôn đến trạm cuối.

"Chị còn nghe nói nhóm của Makoto-kun cũng sắp debut rồi? A, không phải à? Indie? Ừm, nếu làm Indie mà tử tế được thì con đường đó tốt hơn tỷ lần, debut chuyên nghiệp rồi sẽ bị trói tay trói chân đủ đường! Nghe nói mấy đứa còn đang làm album, ồ ồ crowdfunding! Gần đây cũng có trào lưu này, hay đấy. Ban nhạc à? Còn cá nhân Makoto-kun thì sao? Nhìn cậu thế này có cảm giác cũng muốn solo nhỉ, làm cả hai bên không được à? Thêm bài đó vào album solo của Makoto-kun thì sao? Chia ra bản Kuboi Takuto và bản Makoto, bản của Makoto-kun bớt rap đi một chút, thêm chút cảm giác trầm lắng, làm thành kiểu có thể bật trong đám tang ấy."

Đám tang. Từ ngữ đó thốt ra đột ngột khiến lưỡi tôi đông cứng.

"Bản của anh Makita beat nhẹ nhàng lấp lánh như thế, nghe nói trong đám tang người ta đã bật bài đó, chị thật không tin vào tai mình. Cái gì mà... nghe nói lúc dưỡng bệnh anh ấy hay nghe, thế là bố anh ấy nghĩ đến việc dùng bài hát đó để tiễn đưa. Chà, nếu anh Makita còn sống thì tuyệt đối không chọn bài đó đâu. À, mà nếu còn sống thì làm gì có đám tang."

Nói đến đây, câu chuyện của Unno Rikako đứt đoạn.

Bởi vì cô đã ăn xong. Trên khay chỉ còn lại sốt và giấy gói dính dầu mỡ. Cô cầm ly giấy lên, ngậm ống hút.

Vào thời điểm tệ nhất, lượt nói đã bị chuyền sang tay tôi. Nhưng cũng không thể im lặng mãi được, chính tôi là người đã hẹn gặp cô ấy.

Sau một thoáng đắn đo, lựa lời, tôi khẽ mở miệng:

"...Rikako-san, chị đã không đến dự đám tang ạ?"

"Hửm? Ừ."

Unno Rikako rời miệng khỏi ống hút. Lần đầu tiên trong ngày, gương mặt cô thoáng nét u buồn.

"Chị sợ mấy chỗ đó lắm... dù chắc cũng chẳng ai thích cả. Nếu đến đó chắc chắn chị sẽ mất kiểm soát, khóc lóc ầm ĩ cho xem. Mà lúc đó chị còn đang đi tour. Với lại, nếu hỏi chị và anh Makita rốt cuộc có quan hệ gì, thì chị cũng không rõ nữa. Chỉ là có nhận được liên lạc từ bố anh ấy, hỏi chị có muốn đến thắp hương không."

Nói cách khác—mối quan hệ của họ thân thiết đến mức một buổi lễ riêng tư chỉ dành cho gia đình cũng mời cô đến.

"Nếu anh Makita sống lâu hơn một chút, thời gian của cả hai nhiều hơn một chút, rồi cộng thêm đủ mọi thời cơ thích hợp, bọn chị có lẽ đã cưới nhau, rồi đến tầm năm nay thì chắc ly dị rồi cũng nên."

Tôi không biết cô đang nói đùa hay nói thật, cũng không biết nên cười hùa theo hay nên cúi mặt xuống.

"...Không, quả nhiên là không có chuyện đó đâu. Trong đầu chị và anh ấy đều chỉ có âm nhạc, nên có lẽ khoảng cách như vậy là vừa đẹp. Dù anh ấy nghĩ thế nào thì giờ cũng chẳng thể biết được nữa, nhưng qua lại với anh ấy rất vui, chị đã rất hạnh phúc. Chẳng có ai khiến chị có thể dốc hết ruột gan ra mà nói như anh ấy cả. Ây, rõ ràng là lần đầu gặp Makoto-kun mà chị lại cứ mồm mép tép nhảy mãi thế nhỉ? Chẳng hiểu sao lại thấy cậu có chút giống anh Makita, có lẽ vì thế mà chị mới nói nhiều như vậy."

"Vậy sao ạ? Anh Kunimoto và anh Takuto cũng nói điều tương tự."

"Ừm. Makoto-kun, chị nói điều này mong cậu đừng giận nhé. Cậu đang suy nghĩ rất nhiều về anh Makita đúng không? Đặc biệt là dạo gần đây, cậu còn nghiêm túc hơn chị gấp trăm lần. Nhưng về việc anh Makita là người thế nào, đã trải qua cuộc đời ra sao—cậu chẳng có chút hứng thú nào đúng không? Thứ cậu quan tâm chỉ là âm thanh của anh ấy thôi."

Tôi bất động, nhìn chằm chằm vào những đầu ngón tay đang ôm lấy chiếc cốc giấy của cô.

"Anh Makita cũng có cái tính đó. Dù chị với ổng cũng kẻ tám lạng người nửa cân cả thôi. Hơn nữa, nếu không làm nhạc, thì chắc chắn cả hai sẽ không bao giờ thích nhau đâu."

Trong một tiệm Mos Burger có thật, tôi và Unno Rikako ngồi đối diện nhau bên một chiếc bàn nhỏ, nhưng theo đúng nghĩa thì chúng tôi không hề đối diện, cũng không hề đối thoại. Cả hai chỉ đơn thuần hướng về cái bóng xám mờ ảo mang tên Makita Shun, tự mình độc thoại, và lắng tai nghe những âm thanh yếu ớt vọng lại từ bên kia màn sương.

Có lẽ như vậy là đủ.

"...Vâng. Em không cảm thấy mình muốn tìm hiểu anh ấy là người thế nào... chỉ là âm nhạc của anh ấy rất phi thường."

"Tốt mà. Thế là tuyệt nhất. Thịt nát xương tan, thân xác hóa thành cát bụi, chỉ có âm nhạc là còn lại."

Chị muốn sống như vậy, và rồi chết đi như vậy—Unno Rikako thì thầm.

"Vậy, dữ liệu âm thanh của anh Makita à? Phải không? Giờ nghe được không? Chị bận quá nên chưa nghe file cậu gửi. Dù trong lòng cũng đoán được rồi."

"A, vâng ạ."

Tôi lấy điện thoại ra. Unno Rikako cũng lấy tai nghe từ trong túi xách, kết nối Bluetooth. Cô im lặng lắng nghe một lúc, nhưng khi chuyển sang file âm thanh thứ hai chưa được bao lâu, khóe miệng cô đã giãn ra thành một nụ cười.

"...Ừm. Là giọng của chị. Thật hoài niệm. Mấy năm rồi nhỉ, mười năm? Có khi còn hơn."

Một lúc sau, cô khẽ ngân nga theo giọng hát của chính mình đang vang lên trong tai nghe.

"Lúc đó giải quyết xong chuyện vặt, chị nhờ anh Makita thu âm cái gì đó, rồi cứ thế hát bừa. Hồi đó chị đang ở Đức, độ trễ (latency) kinh khủng lắm, chẳng khớp nhạc được chút nào, chỉ có thể hát theo cảm tính. Giờ nghe lại thì nhịp điệu lại khớp thế này, quả không hổ là hai chúng tôi. Đây có lẽ là bản thu âm duy nhất chị và anh ấy diễn cùng nhau nhỉ?"

Thảo nào âm thanh nghe lại xa xăm đến vậy, giờ tôi đã hiểu.

"Vâng, vậy thì,"

Tôi thận trọng đi sâu vào vấn đề chính.

"Cái này, chị có biết anh Makita đã thu âm như thế nào không ạ? Có dùng thiết bị đặc biệt nào, hay là phòng thu có gì đặc thù không...?"

"Ừm, là ở đâu nhỉ... Shizuoka? Bên cạnh biển hay hồ gì đó—cậu đợi chút để chị tra."

Unno Rikako tháo tai nghe cất vào túi, bắt đầu thao tác trên điện thoại. Một lúc sau, cô chìa màn hình về phía tôi.

"Tìm thấy rồi. Bên cạnh hồ Hamana. Ở đây này. Lúc đó chị đưa ra một yêu cầu vô lý, rồi anh Makita phải nhờ mối quan hệ cũ để đến đây. Ảnh nói là quen một nghiên cứu viên ở chỗ này."

Địa điểm hiện trên màn hình là viện nghiên cứu của một hãng sản xuất nhạc cụ và thiết bị âm thanh nổi tiếng. Tôi chớp mắt, nhìn chằm chằm vào bản đồ.

"Chị có một âm thanh bass mà chị muốn có bằng mọi giá. Anh Makita đã suy nghĩ rất nhiều, và cuối cùng chốt lại là bắt buộc phải đến nơi này mới được. A, nghĩ kỹ lại thì lần đó có thể xem là anh Makita đã sản xuất (produce) cho chị nhỉ. Lúc đó đã làm phiền mọi người khắp nơi, nhưng cũng nhờ vậy mà ra được một album để đời."

"Bắt buộc phải là ở đây mới được ạ?"

"Sau này tra lại, ở Nhật cũng có vài nơi khác có thiết bị tương tự, nhưng lúc đó chỉ có ở đây là tìm được mối quen biết thôi."

Tôi ghi nhớ tên của viện nghiên cứu đó, rồi mở bản đồ trên điện thoại mình. Trên đó còn có cả số điện thoại.

"Người nghiên cứu viên mà anh Makita quen tên là Fujiki. Không biết bây giờ ông ấy còn làm ở đó không."

Vậy thì—phải làm sao đây? Câu tự vấn vang lên trống rỗng.

"Sao thế? Cậu định đến đó à?"

Câu hỏi của Unno Rikako hòa lẫn với tiếng nói từ nội tâm tôi, chúng giao thoa, tạo nên một dạng sóng méo mó.

"Nếu là bây giờ, ở Tokyo hẳn là có nhiều cơ sở tương tự."

Tôi lắc đầu, nhét điện thoại vào túi.

"Không, em phải đến đúng nơi này."

Lúc này, điều tôi nhớ đến là vô số vết sẹo hằn trên tường, sàn nhà và thiết bị của phòng thu số hai "Victoria Fall", và sau đó, là giấc mơ dang dở của Rokurou-san bị trát kín trong phòng tập dưới tầng hầm căn biệt thự ở bãi biển Kujukuri.

Tương tự như vậy, chắc chắn có một loại âm thanh chỉ có thể nghe thấy ở nơi đó.

"Vậy à... Mong là cậu có thể đến được đích."

Unno Rikako nói một câu thật khó hiểu. Viện nghiên cứu lớn đó nằm ngay trong nước Nhật, lại còn hiển thị lù lù trên bản đồ, không có lý nào lại không đến được. Nhưng, ý cô ấy có lẽ không phải là vậy. Có lẽ cô đã hiểu.

Điểm cuối của cuộc hành hương lần này, là chiếc bóng dưới chân một người vô danh, đang lặng lẽ đứng trên một vùng đất "không đâu cả".

Từ Shinagawa bắt Shinkansen tuyến Tokaido, khoảng hai tiếng sau thì đến ga Hamamatsu. Từ đó chuyển sang tuyến chính Tokaido, đến ga Maisaka rồi đi taxi.

Khi xe chạy qua con đê ngăn giữa hồ Hamana và biển Enshunada, tôi có một cảm giác kỳ lạ, như thể mình đang trượt dọc theo ranh giới giữa mùa hè và tâm điểm của cơn nắng hạ. Biển bên trái lấp lánh những vệt sáng trắng dưới ánh mặt trời, mặt hồ rộng lớn bên phải phản chiếu những mảng màu xanh lam và xám nhạt đục ngầu.

Tôi thực sự muốn mở cửa sổ, hít căng lồng ngực cơn gió đang thốc vào cây cầu ở đường ranh giới này, để nếm trải cảm giác phổi bị thiêu đốt, nhưng đi taxi thì không thể làm vậy.

Qua hết con đê, cây cối bên phải dần dày đặc, che khuất mặt hồ.

"Còn phải đi tiếp một chút nữa cậu nhé," bác tài xế vừa nhìn định vị vừa lẩm bẩm. "Nơi đó nghiên cứu và phát triển nhạc cụ đúng không? Hamamatsu đúng là thành phố của nhạc cụ mà. À, nhưng mà khu này đã thuộc thành phố Kosai rồi. Khách cũng chơi nhạc cụ à? Cái để ở cốp sau là guitar đúng không, cậu đến tham quan hả?"

Tôi ậm ừ đáp lại cho qua chuyện, mắt vẫn dán chặt ra ngoài cửa sổ.

Qua lối ra vào cao tốc rồi rẽ phải, xe chạy vào con đường xuyên rừng. Tòa nhà đó nằm trên một gò đất cao nhìn xuống hồ. Tôi trả tiền, xuống xe, lôi hộp đàn bass từ cốp sau ra.

Đi bộ ra đến mép bãi đậu xe, công viên câu cá biển bên dưới hiện ra trọn vẹn trong tầm mắt. Ven bờ là hàng dừa thẳng tắp, xa xa có thể thấy từng nhóm người câu cá trên đê đang thả câu xuống mặt hồ, trông nhỏ xíu như hạt vừng. Gió mạnh liên tục thổi từ hồ ra biển, mang theo sự mát mẻ mà Tokyo không thể nào có được.

Tôi quay đầu nhìn tòa nhà một lần nữa.

Đó là một kiến trúc bốn tầng dẹt, mái nhà vẽ một đường cong thoai thoải. Tấm kim loại in logo của hãng nhạc cụ được gắn trên tường ngoài tầng cao nhất, hắt lại ánh nắng gay gắt buổi chiều. Tôi xốc lại cây bass bị tuột khỏi vai, rảo bước về phía lối vào.

Sảnh chính bên trong thông tầng lên tận tầng hai, đủ loại vật trưng bày—nhạc cụ bộ hơi thu nhỏ, đàn accordion, chũm chọe—được treo bằng dây cáp, lơ lửng như một bầu trời sao. Giữa sảnh là bốn cây đại dương cầm đặt chụm đuôi vào nhau, bàn phím hướng về bốn phía, những cánh đàn mở ra ghép thành hình chong chóng khổng lồ.

Tôi đến quầy lễ tân, trình bày mục đích. Người bảo vệ gọi điện thoại, trao đổi một lúc rồi bảo tôi:

"Ông Fujiki sẽ đến ngay, xin vui lòng đợi một chút."

Mười phút sau.

Một người đàn ông chạy từ phía thang máy lại. Ông mặc áo polo ngắn tay, dáng người vạm vỡ rám nắng, mái tóc xoăn tự nhiên đã điểm bạc khá nhiều, những nếp nhăn ở khóe mắt tạo cảm giác rất dễ gần. Chắc khoảng năm mươi tuổi.

"Chà, thật ngại quá, đã để cậu phải đợi lâu!"

Ông chạy đến cúi đầu chào, làm tôi phải cuống cuồng cúi thấp hơn.

"Cháu là Murase. Thực sự rất cảm ơn bác đã chấp nhận yêu cầu vô lý này của cháu."

"Đâu có đâu có! Cậu từ Tokyo đến à? Đường xa vất vả rồi. Tôi là Fujiki."

Ông đưa cho tôi danh thiếp, trên đó ghi "Trưởng phòng Nghiên cứu Kỹ thuật Âm thanh". Fujiki-san dẫn tôi đến thang máy, vừa bấm nút chờ vừa giải thích:

"Cậu biết đấy, chúng tôi ở đây làm về nhạc cụ và thiết bị âm thanh, đây là cơ sở để thực hiện đủ loại thí nghiệm phục vụ nghiên cứu phát triển. Ngoài mảng âm nhạc, tập đoàn còn làm cả động cơ các thứ, nên ví dụ như muốn đo tiếng ồn động cơ thì cũng dùng chỗ này. Một nơi trang bị tận răng thế này hiếm lắm, nên thỉnh thoảng chúng tôi cũng nhận yêu cầu từ bên ngoài. Vì vậy chuyện lần này của cậu Murase hoàn toàn không phiền phức gì đâu, chuyện thường ngày ở huyện ấy mà. Dù về nguyên tắc chúng tôi không nhận yêu cầu cá nhân, nhưng đã là người quen của Makita thì không thể từ chối được."

Fujiki-san khá hoạt ngôn, vào thang máy rồi vẫn thao thao bất tuyệt:

"Hồi Makita còn trẻ, công việc chính là nhà báo âm nhạc, cậu ấy đến chỗ chúng tôi phỏng vấn vài lần, rồi còn đi nhậu nhẹt với nhau nữa. Cậu chàng thú vị lắm, nhưng tuyệt nhiên không có cái khí chất nghệ sĩ nào, nên khi biết cậu ấy lấn sân sang làm nhạc tôi ngạc nhiên lắm. Vì trên bàn nhậu cậu ấy chẳng bao giờ nói về thứ âm nhạc mình muốn làm cả. Nhưng khi nghe tác phẩm rồi tôi mới vỡ lẽ, thì ra cậu ấy là kiểu người dồn hết tâm tư vào trong nhạc."

Thang máy dừng ở tầng bốn. Bước ra hành lang, tôi ngập ngừng:

"...Cái đó, xin lỗi bác, cháu và anh Makita Shun không hề quen biết... chưa từng gặp mặt lần nào, nên là..."

"À à, phải rồi! Tôi có nghe chuyện đó."

Fujiki-san đi trước tôi vài bước, quay đầu lại cười khổ.

"Nhưng cậu đã tái hiện hoàn hảo ca khúc của Makita và công bố nó đúng không. Tôi nghe rồi. Bản đó vẫn giữ được cái chất của Makita, nhưng lại mang một dáng vẻ mà nếu còn sống cậu ấy tuyệt đối sẽ không làm. Cậu ấy mà nghe được chắc sẽ vui lắm."

Tôi cúi mặt, lẳng lặng bước theo ông.

Tôi nhủ thầm: người chết thì làm gì biết vui hay buồn. Anh Kuboi Takuto cũng từng nói câu tương tự thì phải? Lời này có lý, nhưng...

Tất cả công cụ của con người đều được chế tác từ cái chết. Chúng ta lấy xương từ xác thú, lấy dầu mỏ từ xác sinh vật cổ đại, lấy sắt từ xác các vì sao, sử dụng chúng để sinh tồn. Sự đã đến nước này, dẫu có lột bỏ tâm tư từ xác người khác, coi nó như công cụ của người sống mà cắt gọt rèn giũa, tận dụng nó, e rằng cũng chẳng khiến tội lỗi dày thêm hay vơi bớt đi chút nào.

Rẽ ở hành lang, một cánh cửa lớn có tay xoay hiện ra. Một người phụ nữ lớn tuổi và một người đàn ông trẻ đang đợi sẵn, có lẽ là nhân viên viện nghiên cứu. Fujiki-san giơ tay chào, tôi cũng khẽ cúi đầu theo.

"Vất vả rồi. Thiết bị đã được chuyển hết vào trong."

Người phụ nữ báo cáo với Fujiki-san, rồi nhìn sang tôi.

"Nhạc cụ chỉ dùng bass là được phải không ạ? Xin hãy giao cho chúng tôi thiết lập. À, những thứ khác xin hãy để hết ở ngoài, càng ít vật phản xạ âm thanh thì âm thu được càng tinh khiết (pure)."

"Làm phiền mọi người rồi ạ," tôi vừa nói vừa đưa hộp đàn cho cô ấy.

Người đàn ông trẻ tuổi xoay tay nắm, mở cửa.

Nói là mở cửa, nhưng tôi hoàn toàn không cảm giác được cánh cửa đang mở ra. Chỉ thấy một khối hình hộp tách khỏi bức tường dày, cả khối bị kéo về phía trước, trượt sang bên, để lộ một lối đi sang phía đối diện. Đèn đỏ hiển thị "Đang sử dụng" phía trên lối vào sáng lên.

Fujiki-san chỉ vào cái hốc hình vuông sâu hoắm trên tường.

"Buồng vô hưởng (Anechoic Chamber)—nghe tên là hiểu, không phải âm thanh sẽ biến mất, mà là chúng tôi cố gắng triệt tiêu tối đa tiếng vang từ tường, trần và sàn nhà. Cậu vẫn nghe thấy âm thanh bình thường, nhưng sẽ là một cảm giác hoàn toàn khác biệt so với đời sống hàng ngày, một số người sẽ thấy chóng mặt hoặc buồn nôn. Nếu thấy cơ thể bất thường thì báo dừng ngay nhé."

Tôi gật đầu, theo chân Fujiki-san bước vào.

"Sàn nhà là lưới, đi đứng cẩn thận nhé."

Đúng như lời Fujiki-san, sàn nhà là một tấm lưới kim loại, dồn trọng lượng lên sẽ thấy nó lún xuống và biến dạng.

Nói đúng hơn, sàn nhà thật sự đã bị đào sâu xuống khoảng hai mét, còn tấm lưới kim loại này được căng ngang tầm với sàn hành lang để làm chỗ đặt chân. Cấu trúc này là bắt buộc, vì mọi bề mặt của căn phòng—trần, sàn, bốn vách tường—đều phải được phủ kín bằng những khối nêm (wedge) tiêu âm lồi lõm.

Để triệt tiêu mọi phản âm, chúng tôi, cùng chiếc Amp bass Ampeg, micro và các thiết bị khác, đều đang lơ lửng giữa không trung, bao quanh bởi những khối gai nhọn làm từ bông thủy tinh.

Dù cửa vẫn mở, cơ thể tôi đã bắt đầu cảm thấy sự sai lệch khó tả.

"Căn phòng này vốn dùng để thí nghiệm đo lường." Giọng Fujiki-san nghe như tiếng ve sầu rung cánh bám thẳng vào xương sống tôi. Cảm giác xa gần và thăng bằng của tôi đang chết dần.

"Dù thường thu âm nhạc cụ, nhưng là để nghiên cứu đặc tính âm thanh thuần túy của nhạc cụ đó, chứ không phải để dùng cho bài hát. Đây là lần đầu tiên thu âm để dùng trực tiếp cho biểu diễn đấy, không biết có ra được cái âm (sound) vừa ý cậu không. Hồi đó Makita thu xong, vừa nghe đã cười khổ bảo 'cái quái gì đây'."

Tôi vuốt dọc theo góc chiếc Amp bass Ampeg quen thuộc, rồi nhìn Fujiki-san.

"...Anh Makita đã thu âm trong căn phòng này đúng không ạ?"

"Đúng, chính tại đây."

Tôi lại nhìn quanh trần và tường một lần nữa. Những chiếc răng nêm tiêu âm xếp lớp như một bức tranh khảm, gợi tôi nhớ đến những hàng bia mộ thẳng tắp trong nghĩa trang. Đây là điểm cuối cuộc hành hương của tôi, một vương quốc tĩnh lặng nơi chỉ có người chết tụ họp.

"Tại sao Makita lại muốn dùng phòng này, thực ra tôi cũng không rõ. Hồi đó cậu ấy còn dẫn theo một tay bass khác, kết nối trực tuyến với Unno Rikako-san đang ở Đức, rồi chắc là đã jam cùng nhau. Ngoài ra, họ còn nhắc đến John Cage."

John Cage. Nhà soạn nhạc thể nghiệm người Mỹ, mất vào cuối thế kỷ 20, để lại những tác phẩm và lý thuyết khó hiểu, đậm chất nghệ thuật tiên phong (avant-garde).

"Cage đã viết trong sách rằng, ông ấy nghe thấy tiếng tim mình và tiếng của hệ thần kinh trong buồng vô hưởng."

"—'Chúng sẽ không ngừng vang lên cho đến khi tôi chết, và sẽ tiếp tục vang lên sau khi tôi chết. Không cần phải lo lắng cho tương lai của âm nhạc.'" Tôi trích dẫn từ miền ký ức mơ hồ.

"Đúng, chính là ông ấy. Khá nhiều người biết đến buồng vô hưởng nhờ John Cage. Nhưng cơ thể mỗi người mỗi khác, lại phát ra đủ loại tạp âm, nên chưa chắc cậu đã nghe thấy những gì Cage nghe đâu."

Và liệu tôi có thể tạo ra âm thanh giống như Makita Shun không—điều đó vẫn là một ẩn số.

"Với lại, giờ nói thì hơi muộn..." Fujiki-san cười trừ. "Lần này là nhạc cụ điện, nếu chỉ để thu âm thì tốt nhất người chơi không nên vào trong buồng, vì sẽ làm tăng diện tích phản xạ âm. Người ở ngoài chơi, chỉ để Amp và mic bên trong thì âm thu được sẽ 'sạch' hơn... Nhưng mà, cậu vẫn muốn vào trong chơi đúng không?"

Tôi gật đầu. Bị ông nhìn thấu tâm can khiến tôi thấy hơi áy náy. Dưới góc nhìn của nhà nghiên cứu, đây chắc chắn là sự sướt mướt phản khoa học. Nhưng tôi bắt buộc phải dìm cơ thể này vào bầu không khí "vô hưởng" đó.

Fujiki-san đưa cho tôi một chiếc tai nghe không dây (In-ear monitor).

"Vậy chúng tôi sẽ thao tác bên ngoài, có chuyện gì cứ nói, chúng tôi có camera giám sát."

Người nhân viên trẻ mang cây Precision Bass (P-Bass) của tôi vào, cắm dây vào Amp, rồi quàng dây đeo lên vai tôi. Anh ta chỉnh lại vị trí mic, trao đổi gì đó với nữ nhân viên bên ngoài để tinh chỉnh, xong xuôi thì cùng Fujiki-san rút ra hành lang.

Cánh cửa—hay đúng hơn là khối vật chất tách ra từ bức tường—đóng lại.

Tôi bị bỏ lại giữa tâm điểm của hư vô.

Nhiệt lượng từ bề mặt cơ thể cứ thế bị bóc tách, khiến tôi lạnh toát, nhưng sâu dưới đáy dạ dày, một ngọn lửa than hồng đang bắt đầu âm ỉ cuộn trào. Nuốt nước bọt, tôi chỉ nghe thấy tiếng xương cốt mình kêu răng rắc.

Và rồi, tôi nghe thấy.

Đúng là hai loại âm thanh. Một âm thanh sắc nhọn cao vút tựa như sợi chỉ bung ra vô tận, và một âm thanh trầm đục như cây vĩ cọ xát vào thân đàn double bass. John Cage, và cả Makita Shun, họ cũng đã nghe thấy hai âm thanh này sao?

Tiếng rên rỉ của hệ thần kinh và tiếng dòng máu lưu thông. Âm thanh sự sống của tôi.

Tôi nhẹ nhàng áp lòng bàn tay lên cần đàn P-Bass.

Tít phía dưới tấm lưới kim loại dưới chân, cái bóng của tôi bị cắt vụn thành vô số dải dài, trông thế nào cũng không giống bóng của một người. Như thể có ai đó đang đứng cạnh tôi.

Đúng là đã đi một vòng thật xa, tôi thầm thì với cái bóng của mình.

Cứ tưởng bôn ba khắp chốn, gặp gỡ bao người là để tìm kiếm âm thanh của Makita Shun, nhưng hóa ra kẻ tôi thực sự tìm kiếm lại là mày. Rõ ràng mày vẫn luôn ở đó, chưa từng rời khỏi gót chân tao. Giờ đây, khi đứng trơ trọi, cúi đầu trong căn phòng kỳ quái thấm đẫm dư vị tử khí này, tao mới nhận ra.

Bắt đầu nhé, giọng Fujiki-san vang lên trong tai nghe.

Tôi gật đầu với camera giám sát.

Track tham chiếu (Guide track) bắt đầu chạy. Tiếng Hi-hat du dương từ đôi tay Shizuki hóa thành những vụn sao lấp lánh. Những nốt nhạc của Rinko khiêu khích, méo mó khi gõ xuống phím đàn.

Ảo ảnh của một thiên đường hoài niệm hiện ra, không ngừng xâm thực khoảng chân không cô độc tột cùng đang bao bọc lấy tôi. Akane như đang tựa lưng vào tôi, nhịp tim, hơi ấm và tiếng palm mute từ cây PRS của cậu ấy truyền đến sống động.

Thực ra tôi đã nghĩ đến việc mang cả Kaya theo. Lối chơi vừa hoang dã, thanh lịch lại cứng rắn với tỷ lệ hoàn hảo của em ấy là thứ âm thanh tôi khao khát. Nhưng sự cô độc này, tôi phải tự mình gánh vác. Không thể đẩy cho người khác, cũng không muốn nhường cho ai. Nên tôi chỉ mang theo ký ức về những ngón tay, hơi thở và hơi ấm từ giọt nước mắt thấm trên ngực áo em.

Ngón tay tôi lún sâu vào dây đàn nickel, như thể đang gảy trực tiếp lên những dây thần kinh căng cứng của chính mình. Mọi biểu cảm, sắc thái đều bị lột sạch, chỉ còn lại âm thanh trần trụi.

Vô hưởng. Dead.

Âm thanh phóng vào không gian sẽ không bao giờ quay lại, không để lại vệt quỹ đạo nào, cứ thế chìm nghỉm dưới đường chân trời sự kiện. Chỉ có âm thanh hướng vào nội tâm là không bị cản trở, làm rung chuyển trái tim tôi.

Cuối cùng tôi đã ngộ ra: âm thanh không chết.

Dù có cẩn thận lọc bỏ da thịt, dù tàn nhẫn rút cạn máu huyết. Chỉ cần con người còn chơi nhạc, thì sự do dự, lưỡng lự, nôn nóng và khát khao vẫn sẽ biểu hiện qua ngón tay và đôi môi. Sự dao động đó chính là cái mà chúng ta gọi là "Groove".

Khu rừng gai tiêu âm dịu dàng đón lấy mọi tiếng vang rồi bóp chết chúng, còn cái "Groove" của tôi thì cuộn chặt lấy tôi, không ngừng tăng tốc.

Tiếng hát của Akane xuyên qua tai, găm thẳng vào phổi. Trong không khí "vô hưởng" này, không có bất cứ lớp màng mơ hồ nào bảo vệ tôi. Âm thanh các cô gái dệt nên tấn công trực diện vào ý thức, không hề suy giảm. Tội lỗi của tôi, thất bại của tôi, tất cả như những rãnh đĩa than được khắc trực tiếp lên xương tủy.

Vô hưởng. Dead.

Lúc này, tôi thậm chí không thể hòa giọng mình vào tiếng hát của Akane và Kaya. Phổi đông cứng, cổ họng như cái hốc cây mục ruỗng. Chút hơi thở và thân nhiệt tàn dư phải được dồn hết cho nhịp điệu nơi đầu ngón tay.

Trên cái xác đang chơi nhạc này, các cô gái xinh đẹp đắp lên từng lớp âm nhạc rực rỡ, rồi một ngày hạt mầm sẽ nảy nở, hoa sẽ khoe sắc, biến nơi đây thành khu vườn ngập tràn màu sắc. Để ngày đó đến, tôi của hôm nay sẽ không ngần ngại lún sâu vào cái chết.

Giữa những khoảng hở của câu hát, Rinko biến tấu đoạn intro piano trở nên lộng lẫy gấp bội. Trí tưởng tượng của tôi bị giẫm đạp, kéo dãn, hóa thành đôi cánh lướt trên cát, hướng về bầu trời xa xăm, rồi chẳng mấy chốc, vô số giai điệu đệm (obbligato) của dàn dây hóa thành thủy triều ập đến.

Muốn hát—chưa bao giờ tôi khao khát điều đó thống thiết đến thế.

Bài hát này là khởi đầu, là mồi lửa thắp lại nhiệt huyết cho chúng tôi. Giữa vương quốc chỉ dành cho người chết nghỉ ngơi, ý tưởng âm nhạc tuôn trào trên trái tim lạnh lẽo khô cằn. Liệu tôi có thể mang nó trở về vùng đất hiện thực nơi các cô gái đang chờ đợi không? Con thuyền của tôi có chở nổi những cái xác nặng trĩu này vượt qua biển đêm không?

Tiếng hát đã trở lại. Mang theo bè hòa âm, tươi tắn hơn, kiêu hãnh và mạnh mẽ hơn.

Giữa chốn hư không, tôi bất chấp móng tay bong tróc, vẫn bám chặt lấy ảo ảnh ngắn ngủi từ track tham chiếu, điên cuồng đào bới âm thanh từ tâm can, dẫu cho nó sẽ tan biến vào hư vô trước khi kịp chạm đến bất cứ đâu.

Các cô gái đang ở đây. Ở bên cạnh tôi, cùng một nhịp bước, để phím đàn nhảy múa, để dùi trống rơi như mưa, để dây đàn hát ca. Dù đi đến đâu, họ cũng sẽ đi cùng tôi. Nếu không tin vào điều đó, tôi không thể tiến thêm dù chỉ một ô nhịp.

Thực ra tôi hiểu—hiểu một cách lạnh lùng từ tận đáy tâm hồn—rằng track tham chiếu chỉ là liều thuốc đánh lừa cơ thể. Nếu chỉ để giữ nhịp, máy đếm nhịp (metronome) là đủ. Nhưng cơ thể con người ngu ngốc và thành thật đến đáng thương. Dù đứng giữa trăm người, nếu trong tai chỉ nghe tiếng "tích tắc" vô hồn, ta sẽ cô độc mà héo mòn. Ngược lại, dù phải in dấu chân vạn dặm trên bờ biển âm u tận cùng thế giới, chỉ cần nghe thấy tiếng hát của đồng đội, đôi chân sẽ lại vững vàng.

Mặc dù tôi đang tự tay bào mòn từng chút ảo ảnh, ném vào lò thiêu, nhưng liệu chút hơi ấm ít ỏi ấy có giúp tôi đi hết con đường? Có cầm cự nổi đến hết bài hát không?

Điệp khúc thứ hai tan vào đoạn lặp (refrain).

Mỗi khi đến đoạn này, Kaya luôn tung ra một câu bass đậm chất giai điệu (melodic) ở quãng tám cao, đập chan chát vào đoạn guitar solo. Tôi có làm được không? Ảo ảnh thì thầm: Nếu là senpai thì làm được thôi.

Ngón tay tôi tự chuyển động, như không phải của mình. Ngày trước, tôi đã đỡ cây P-Bass cho Kaya chơi. Giờ đây, chính em ấy đang nâng đỡ tôi. Thịt xương nhẹ bẫng như muốn tan vào hư không. Tôi hòa làm một với ảo ảnh của Kaya, bốn dây đàn và hệ thần kinh quyện vào nhau, đẩy những nốt nhạc tiến về phía trước, xa hơn nữa.

Tôi biết, khoảnh khắc tỉnh giấc cũng là lúc giấc mơ vỡ tan và rơi rụng. Nên trong chặng cuối hành trình, tôi nín thở, chỉ đếm nhịp tim, đuổi theo đốm nhiệt lấp lánh trong bóng tối mà bước tới.

Giấc mơ, hãy cứ là giấc mơ.

Lặp lại, nhỏ dần (fade out), cho đến khi bóng tối khép lại hoàn toàn, tôi vẫn vờ như không biết, như thể con đường này sẽ kéo dài mãi mãi—

Tôi xòe bàn tay phải, nhẹ nhàng ốp lên bốn dây đàn, chặn đứng dư âm.

Âm thanh vẫn vang vọng trong tai. Tiếng rên xiết của thần kinh, tiếng nghẹn ngào của trái tim, và tiếng hát của các cô gái.

Cúi đầu xuống, tôi thấy cái bóng của mình vẫn in nguyên hình dạng giữa rừng gai tiêu âm, y hệt lúc bài hát mới bắt đầu.

Màn trình diễn của tôi—thế nào nhỉ?

Không có hồi âm.

Vô hưởng. Dead.

Rõ ràng là muốn khóc, nhưng nước mắt đã bị cát ở đâu đó hút cạn. Tất cả đều do tự mình vứt bỏ, giờ lại giả vờ cô đơn, thật ngu ngốc. Nhưng cơ thể sinh ra đã thế, hễ nhận ra mình đơn độc là lại run rẩy vì lạnh, co ro tìm hơi ấm. Chẳng còn cách nào khác.

Đó là bằng chứng của sự sống.

Tôi đứng chôn chân trên bãi biển tĩnh lặng lúc bình minh, nước triều dâng ngập mắt cá, trống rỗng đếm nhịp tim mình, cho đến khi có ai đó xé toạc sự tĩnh mịch của khu rừng, bước vào và đặt tay lên vai tôi.

Trên chuyến Shinkansen trở về, tôi ngồi bất động, đăm đăm nhìn bầu trời dần sẫm lại ngoài cửa sổ. Tiếng tàu nghiến trên đường ray và tiếng gió rít liên tục bao bọc lấy cơ thể, gạt bỏ âm nhạc ra khỏi tâm trí tôi.

Mỗi khi bóng cây hay hàng rào cách âm vụt qua, tầm nhìn lại mở rộng, hoàng hôn chuyển từ màu đỏ son sang tím nho, rồi chìm dần vào sắc chàm. Tôi ôm chiếc hộp đàn bass chứa "thi hài" bên trong, để đoàn tàu đưa mình lao vào màn đêm, hướng về Tokyo.

Khi mặt trời đã khuất hẳn, tôi lấy điện thoại ra, mở lại cuốn sách đọc dở của John Cage.

"Không cần phải lo lắng về tương lai của âm nhạc" – vế sau của câu danh ngôn này lại chẳng dễ nghe chút nào: "Thế nhưng, chỉ khi ý thức được rằng âm thanh sẽ luôn sinh ra dù có chủ ý hay không, và lựa chọn thứ âm thanh 'không chủ ý', tôi mới có thể nói ra những lời táo bạo như vậy."

Thứ âm nhạc được tạo ra bởi những âm thanh "có chủ ý"—nói trắng ra chính là thứ âm nhạc chúng ta vẫn nghe hàng ngày. Nếu chỉ coi đó là âm nhạc, thì nó sẽ không trường tồn mãi mãi, mà sẽ chấm dứt khi loài người diệt vong.

Cũng là lẽ đương nhiên.

Cứ việc chết ở đó đi. Đứt gánh giữa đường cũng chẳng sao.

Chúng tôi sẽ chơi thứ âm nhạc của chúng tôi. Quá khứ thì lạnh lùng quyết tuyệt như băng sơn, tương lai thì nóng bỏng chói lòa như mặt trời không thể nhìn thẳng. Thứ âm nhạc vang lên cho hiện tại bị kẹp giữa hai thái cực ấy, bị nung chảy nhưng vẫn không ngừng hô hấp.

Tôi tắt điện thoại, nhét vào túi, ngả đầu vào ghế và nhắm mắt lại.

Buổi thu âm kết thúc suôn sẻ đến bất ngờ.

Đây là lần đầu chúng tôi tự bỏ tiền túi thuê dân chuyên nghiệp làm "hàng thật", nên ban đầu tôi lo sốt vó sợ hai ngày không kịp. Nhưng khi bắt tay vào làm mới thấy, hầu hết các phần (part) đều được thu hoàn hảo chỉ trong vòng hai take (lần thu). Nhờ đó, chúng tôi có dư dả thời gian cho phần vocal cùng với Kaya—phần mà cả nhóm muốn chăm chút nhất.

"Thu phần Rhythm (nhịp điệu) một phát ăn ngay đúng là chìa khóa vàng luôn."

Trong giờ nghỉ giải lao chuẩn bị thu vocal, Akane gật gù thỏa mãn.

"Bè bass Murase-kun mang đến đã chốt cứng rồi, không sửa được nữa, nên bọn này chỉ còn nước đánh theo thôi."

Rinko cũng đồng tình, nhưng tôi chẳng biết bả đang khen hay đang trách mình nữa.

"Tiếng bass của Makoto-kun không chút do dự, rất dễ để nương theo."

Lời của Shizuki rõ ràng là đang cố nói đỡ cho tôi, làm tôi chẳng dám nhận đó là lời khen.

"Em muốn thu âm mau lên!"

Kaya không kìm được mà vung vẩy hai tay, từ nãy đến giờ em ấy chưa có đất diễn.

Thấy còn nhiều thời gian, chúng tôi nổi hứng làm một cú chốt táo bạo ở điệp khúc cuối: viết lại tổng phổ ngay tại trận thành hợp xướng sáu bè, trong đó tôi sẽ cân hai bè trầm. Kỹ sư âm thanh Inamori-san cười ha hả chấp nhận thay đổi phút chót, tận tâm thu cho chúng tôi đến tận cùng.

"Chà, lâu lắm rồi tôi mới có buổi thu âm vui thế này. Cảm giác như nhớ lại những điều vốn không nên quên."

Thu xong, Inamori-san nói với vẻ mặt sảng khoái.

"Kiểu như là... đang giúp bọn trẻ chuẩn bị cho lễ hội văn hóa vậy."

"A... chúng cháu vẫn còn nghiệp dư, có gì thiếu sót bác bỏ qua ạ..."

Nghe Akane lí nhí xin lỗi, Inamori-san vội xua tay:

"Không không, tôi không có ý mỉa mai đâu. Mọi người chơi rất tốt, đâu có giống nghiệp dư chút nào."

Các thành viên Paradise Noise Orchestra ngồi xếp hàng trên sofa trong phòng điều khiển (Control Room). Inamori-san nhìn một lượt rồi gãi đầu, anh nhân viên đứng cạnh cũng cười trừ.

"Nhưng mà... làm nghề lâu năm dễ sinh ra cái tật 'quen tay'. Mà sáng tạo tác phẩm thì kỵ nhất là quen tay, vì đâu có tác phẩm nào giống nhau. Job lần này đúng là cú hích tinh thần tốt thật."

Rồi ông chỉ tay lên trần nhà:

"Dù việc của tôi vẫn còn dài lắm."

Chúng tôi kéo lên phòng thu số 4 ở tầng bốn.

Công việc của kỹ sư âm thanh sau khi thu âm xong là Mixdown—điều chỉnh, tô màu, rồi trộn các track riêng lẻ thành một file âm thanh hoàn chỉnh. Nhân tiện, có phải kỹ sư âm thanh nào cũng kiêm luôn việc mix nhạc không? Tôi hỏi Inamori-san.

"Cũng tùy. Nếu làm ở studio, ban đầu sẽ làm trợ lý để học việc, rồi dần dần sẽ lấn sang mix, đa số là vậy. Hay đúng hơn, thu âm và mix vốn không thể tách rời. Vì ngay lúc thu, âm thanh phát ra loa kiểm âm (monitor) đã được sơ chế qua rồi."

Trong thang máy, Inamori-san giải thích.

"Vả lại, nếu âm thanh nhạc công nghe thấy chẳng liên quan gì đến thành phẩm, không mường tượng được đích đến, thì sao mà diễn hay được."

"Cơ mà, người ngoài nhìn vào thường thấy khâu mix quan trọng hơn. Dù sao cũng có người chỉ nhận mix, và đó là chỗ để thể hiện cái tôi nghệ sĩ. Muốn khách quay lại thì phải mix cho 'cuốn'. Nên là, giờ hãy xem tôi trổ tài nhé."

Vào phòng thu số 4, đứng trước bàn điều khiển (console) đồ sộ hơn hẳn cái ở phòng 2, Inamori-san quay lại:

"Thời gian còn nhiều, có yêu cầu gì cứ nói thoải mái nhé."

Và thế là chúng tôi được tận mắt chứng kiến dân chuyên nghiệp "xào nấu" nguyên liệu tươi sống điêu luyện thế nào. Tôi cũng từng tự mix nhạc mình sáng tác, nhưng so với Inamori-san thì đúng là cống rãnh so với đại dương.

"...Nói thật lòng nhé," nghe xong bản mix thô (rough mix) đầu tiên, Inamori-san cảm thán, "lúc nghe file bass Murase-san mang đến, tôi vò đầu bứt tai không biết xử lý sao... Hóa ra là thế này à. Thường thì trước khi mix tôi phải hình dung được bức tranh tổng thể rồi—không thì sao mà mix, nhưng lần này kết quả hoàn toàn nằm ngoài dự đoán, chính tôi cũng giật mình."

Tôi thở phào nhẹ nhõm. May quá, phép màu tôi mang về đã hòa hợp được với mọi người.

"...Cái này, tuyệt đối em không đánh được..." Kaya lẩm bẩm, giọng run run.

"Tiếng bass của Ma-chan cảm giác như muốn hút sạch mọi nhiệt lượng thừa thãi vậy."

"Hay đến mức nổi da gà. Cái âm (sound) này chính là bản thân Murase-kun rồi."

Shizuki không nói gì, chỉ siết chặt vạt áo tôi.

"Nào, giờ thì 'điêu khắc' thôi." Inamori-san quay lại bàn console. "Cứ nói ý tưởng trừu tượng cũng được, đừng ngại."

Lúc này tôi mới hiểu, mix nhạc chính là điêu khắc. Để tác phẩm hiện lên đẹp đẽ nhất, họ dùng EQ, dùng Compressor để cắt gọt, đẽo, mài. Đôi tay kỹ sư cũng là lưỡi dao.

Nhìn "màn trình diễn" lột xác thành "bản thu âm", tôi lại suy ngẫm.

"Phát lại" (tái sinh) âm nhạc—khái niệm kỳ lạ này do ai nghĩ ra? Trước khi công nghệ thu âm du nhập vào Nhật Bản, chắc chắn không có từ này. Người dịch thuật ngữ đó có biết chăng? Rằng âm nhạc chết đi một lần khi được khắc ghi, rồi sống lại trong khoảnh khắc nhờ đầu kim, dòng điện và từ trường.

Thu âm là nếm trải một phần cái chết. Như một lời từ biệt. Giết chết một phần bản thân, niêm phong lại. Nếu không hy sinh đến mức đó, nó sẽ không thể hồi sinh như một thứ âm nhạc "sống".

Vậy nên... à, ra là thế.

Đó là lý do tương lai tôi sẽ rời bỏ ban nhạc này.

Nếu cứ ở mãi trong vòng tay các cô gái, tôi sẽ bị bào mòn, cuối cùng biến thành cái xác chỉ biết nhả ra những giai điệu rập khuôn. Có lẽ thế cũng hạnh phúc. Nằm dài trong gió ngọt thiên đường, bên nhau mãi mãi. Một cách sống, và một cách chết tuyệt vời.

Nhưng khi gọt bỏ lớp da thịt cũ, để lộ cái lõi bản ngã trần trụi trước gió, tôi lại muốn cắt gọt ra những giai điệu mới. Dù đau đớn đến đâu.

Hiểu ra lý do rồi, một cơn ớn lạnh tuyệt vọng bao trùm lấy tôi, lạnh hơn cả lúc ở trong buồng vô hưởng.

Tiếng hát của chúng tôi—sự pha trộn hoàn hảo giữa hoa lệ, gai góc, mật ngọt và độc dược—tràn ngập căn phòng. Cứ thêm một niềm vui, tôi lại tiến gần hơn một bước đến ngày ly biệt. Việc hoàn thành album sẽ ngốn bao nhiêu thời gian còn lại của tôi? Những ngày hoàn thiện bài hát, đau đầu xếp list nhạc, chụm đầu vào cuốn sổ đen kịt những cái tên dự kiến và cãi nhau chí chóe đến chuyến tàu cuối cùng—còn lại bao nhiêu ngày như thế?

Sự háo hức và nỗi bất an nghiến vào nhau ken két trong lòng, tôi cảm giác mình sắp bị xé toạc ra.

Tối hôm bắt đầu chiến dịch crowdfunding, Hanazono-sensei gọi điện sau một thời gian dài im hơi lặng tiếng.

"Cô góp vốn rồi đấy nhé!"

Vừa kết nối video, bà cô đã dí sát mặt vào màn hình. Hôm nay bả cũng mới tắm xong, mặc đồ ngủ, da dẻ đỏ hây hây, tóc tai ướt nhẹp. Làm ơn ý thức mình là phụ nữ độc thân chút đi. Tôi cũng vừa ăn tối xong, đang nằm ườn trong phòng, vội dựng điện thoại vào gối, che bớt cái phòng bừa bộn và bộ dạng lôi thôi của mình.

"Hình như được một nửa rồi, chắc sớm đạt mục tiêu (goal) thôi."

"Ồ. Cảm ơn cô."

"Cô chọn gói 'Musao mặc đồ cosplay cô chỉ định đến giúp việc nhà' đấy nhé."

"Làm gì có gói (reward) nào như thế!"

Mà có thì cũng đừng hòng được duyệt.

Mặt Hanazono-sensei nghiêm túc lại một chút:

"Cô nghe bài hát rồi, hoành tráng ghê. Cái này không chỉ là remix, mà là thu lại từ đầu (re-recording) đúng không? Thuê dân chuyên nghiệp à?"

"Vâng. Tiền làm một bài thì bọn em lo được."

"Tiếng bass đỉnh thật. Mới đầu cô tưởng dùng Synth bass, nhưng nghe kỹ thì đúng là nết đánh của Musao."

Xem ra chuyến hành hương cũng có chút ý nghĩa.

"Nhưng trông em ỉu xìu thế, mệt à?"

"Hôm nay em phải đi phỏng vấn, bị bắt nói nhiều quá... Lại còn bị chụp ảnh liên tục."

Trước giờ PNO từ chối mọi cuộc phỏng vấn, nhưng lần này có Kyoko Kashmir sản xuất (produce), kiểu gì cũng phải làm truyền thông. Bàn bạc với anh Kurokawa xong, chúng tôi quyết định nhận lời dần dần.

"Ồ? Thế khéo lại gặp Kaki-chan đấy."

"Kaki-chan là ai... à, biên tập viên Kakizaki. Chắc thế."

"Mà công nhận, Musao ngày càng 'dữ dằn' rồi đấy. Mấy cái giai thoại cảm động kiểu 'được cô khai sáng hồi còn ở cùng', em cứ chém gió thoải mái nhé. Ví dụ: đang song tấu bốn tay (quatre-mains) với người thầy đáng kính trong phòng nhạc thì Saejima Rinko bước vào, cảm động rơi nước mắt trước màn trình diễn rực lửa và xin gia nhập ban nhạc..."

"Cô đừng có xuyên tạc lịch sử! Vụ đó em tí nữa là thành tội phạm quấy rối rồi đấy!"

Hanazono-sensei cười ngặt nghẽo trên sofa, rồi ngồi dậy, dí mặt vào camera sát hơn lúc nãy.

"Nhưng mà nhé, thường thì người ta hay bảo 'em đi xa quá rồi', nhưng với Musao cô lại không thấy thế. Chỉ thấy là 'à, nó vốn dĩ phải thế'. Hay tại cô chỉ biết mỗi cái mặt làm nhạc của em nhỉ?"

"Thế ạ? Em thì thấy mấy lần cứ như không phải đời mình nữa rồi. Mới lập band được có một năm chứ mấy?"

Vậy mà cảm giác như đã đi vạn dặm.

"Cứ thấy mình đang trôi xa khỏi cái hướng em từng lờ mờ vạch ra."

"Hối hận à?"

"Đời nào."

"Thế thì được rồi."

"Thì vẫn biết là thế."

Nỗi bất an này khó giải thích lắm, mà có giải thích được thì cũng nhục, thà mang xuống mồ còn hơn. Nhưng Hanazono-sensei vẫn như xưa, cứ những lúc không cần thiết thì lại nhạy bén lạ thường. Cô mỉm cười dịu dàng, nhìn thấu tâm can tôi.

"Dù sao cũng chẳng chết được đâu, cứ đi đến đâu thì đi."

Một người suýt chết thật phun ra câu nói nặng trịch, làm cái đứa đang sầu não vì cái chết tưởng tượng như tôi thấy mình thật nông cạn. Tôi cúi gằm mặt.

"Không cần lo đâu."

Hanazono-sensei thản nhiên lột bỏ lớp vỏ tự thương hại của tôi.

"Murase-kun không sao cả. Chừng nào em còn làm nhạc thì em vẫn là Murase-kun. Bao giờ em bỏ nhạc thì cô mới lo sốt vó lôi em đi viện."

Chỉ những lúc thế này bả mới gọi tôi bằng cái tên thời cô trò, thật gian xảo.

Làm tôi cứ chực hiểu lầm.

Rằng mình vẫn có thể làm nũng người này. Rằng người này sẽ mãi dõi theo mình. Rằng tương lai cô ấy vẫn mãi là cô giáo của mình.

"Với lại, em đã đủ tuổi nói chuyện đời đâu? Dù cô cũng chưa. Nếu thấy sai thì quay đầu là được. Không biết em định đi bao xa, nhưng chỉ là ẩn dụ thôi đúng không? Chứ có phải bay sang hành tinh khác đâu, thích về lúc nào chả được."

Tôi ngẩng đầu lên.

Trong thoáng chốc, mắt tôi hiện ra bãi biển vắng lúc bình minh. Sóng vỗ vào vỏ sò và chai lọ vùi trong cát, cuốn trôi chuỗi dấu chân cô độc của tôi. Nhưng ảo ảnh tan biến ngay.

Trước mắt là phòng tôi. Ánh đèn huỳnh quang nhợt nhạt, gió điều hòa lạnh lẽo, sách nhạc, tạp chí và quần áo bẩn vứt lung tung. Cửa sổ duy nhất kết nối với thế giới là chiếc điện thoại đang dựa vào gối.

Cô ấy đang cười trong cái khung hình chữ nhật bé xíu.

Chúng tôi có thể nhìn vào mắt nhau, cười với nhau. Khoảng cách không xa đến thế. Lời nói, sóng điện và âm nhạc vẫn kết nối được. Chỉ cần dừng lại, quay gót, chạy ra ga, nhảy lên tàu là gặp được ngay.

Lúc nào cũng có thể quay về làm học trò của cô ấy.

Nếu đã vậy—

Chỉ có một câu cần nói, nhưng vì ngượng quá, tôi ấp úng mãi mới thốt ra được.

"...Vậy, em đi đây." (Ittekimasu)

"Đi đường cẩn thận. A ha ha. Dù cô chả biết em đi đâu." (Itterasshai)

Ai mà biết được, chính tôi còn chẳng rõ.

Tôi cúp máy. Mở kênh PNO, bật bài hát vừa upload.

Vặn nhỏ volume, nhét điện thoại xuống dưới gối, tôi nằm sấp xuống, nhắm mắt lại. Giọng hát yếu ớt của Akane, Kaya và cả tôi bao bọc lấy tâm trí. Mường tượng về vùng đất chưa từng biết nằm phía bên kia bình minh, tôi trượt dần vào khe hở giữa giấc mơ hôm qua và hôm nay.

Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!