Chương 5 Chuyến hành hương đến kinh thành đổ nát
Tôi tìm thấy âm thanh ấy vào lúc nửa đêm.
Giữa sự tĩnh lặng râm ran nhiệt lượng bên trong chiếc headphone, một câu bass trầm nặng cứ thế ngân dài.
Nó trần trụi và xác thực, tựa như có những ngón tay đang lần dò theo từng đốt xương của chính tôi. Một âm thanh không vương chút máu thịt, cứng rắn đầy quyết đoán, nhưng cũng đủ mềm mại để cào xước tâm can.
Chỉ có tiếng bass đang vang lên.
Hoàn toàn đúng theo nghĩa đen, ngoài tiếng bass ra thì không thể nghe thấy bất kỳ tạp âm nào khác.
Dead (Chết).
Rốt cuộc đây là thứ gì? Thoáng qua, tôi ngờ rằng đó là âm sắc nhân tạo từ synthesizer, nhưng nghe kỹ độ chi tiết trong từng hạt âm và cách chúng chuyển biến, tôi nhận ra những lợn cợn tinh vi chỉ có thể tạo ra bởi ngón tay con người.
Một âm thanh cô độc đến nhường này... liệu có thật sự tồn tại không?
Đúng vậy, là cô độc. Tôi chẳng tìm được từ nào khác xác đáng hơn. Bên ngoài âm thanh ấy là hư vô. Không màu sắc, không ánh sáng, chẳng có mùi hương, không một vệt bóng, thậm chí đến không khí cũng chẳng tồn tại.
Đáng lẽ, một âm thanh như thế sẽ tan biến vào hư không trước khi kịp chạm đến bất cứ đâu. Vậy mà giờ đây, nó lại bị phong ấn trong dữ liệu ghi âm và truyền đến tai tôi.
Tôi tháo headphone, vò rối mái tóc và thở hắt ra. Đồng hồ đã điểm quá nửa đêm.
Đã ba ngày kể từ khi đợt tập huấn kết thúc.
Cái nhịp sinh hoạt toang hoác này vẫn chẳng có dấu hiệu nào là sẽ quay về quỹ đạo. Sáng bảnh mắt đã tỉnh, trưa ăn xong thì mắt díp lại ngủ một giấc dài li bì, đến đêm lại thao láo chẳng tài nào chợp mắt được. Đó chính là tình trạng thảm hại hiện tại. Nhưng thôi, nghỉ hè vẫn còn hơn nửa tháng, thức khuya thêm chút cũng chẳng chết ai.
Vấn đề cốt lõi là việc biên khúc vẫn chưa đâu vào đâu.
Tôi đang nói đến bản demo dùng để đăng lên trang gây quỹ cộng đồng (Crowdfunding).
Việc chọn bài hát nào đã được chốt rất mượt trong đợt tập huấn. Đó chính là ca khúc đã làm nên tên tuổi của chúng tôi trên mạng xã hội, giúp lượt xem tăng vọt và là cơ duyên khai sinh ra PNO. Về mặt thực tế, nó là ca khúc debut và cũng là bài nổi tiếng nhất của nhóm. Hơn nữa, so với mấy bài sau này, cấu trúc của nó khá đơn giản, vừa dễ thu âm lại vừa tiết kiệm chi phí. Cả năm người chúng tôi đã nhất trí thông qua mà không chút do dự.
Thế nhưng, khi bắt tay vào thu thử tại studio trong biệt thự, tôi lại thấy tiếng bass lạc quẻ đến kỳ lạ.
Tưởng do mình trình còi, tôi nhờ Kaya chơi hộ, nhưng cảm giác lấn cấn ấy vẫn y nguyên. Thậm chí, khi tôi rảnh tay để tập trung vào việc giám sát thu âm, âm thanh thu được càng rõ nét thì cái sự "sai sai" ấy lại càng hiện lên mồn một.
Thứ chúng tôi cần... là một âm thanh lạnh lẽo hơn, vô cảm hơn.
"Tớ thấy Makoto-kun hay Kaya-chan chơi đều ổn áp mà, có vấn đề gì đâu?"
"Ơ, a, em chơi sai chỗ nào ạ...? Hay là em đừng rập khuôn theo lối chơi của Senpai nữa...?"
"Cậu không nói rõ ràng (verbalize) ra thì bố ai mà hiểu được. Tớ nghe thấy rất lọt tai rồi."
"Hay tiếng kick drum của tớ dẫm sâu quá? Tớ đánh thế này được chưa? Hừm..."
Ngoại trừ tôi, bốn người còn lại chẳng ai hiểu vấn đề nằm ở đâu.
Nhìn chung thì đợt tập huấn rất vui và trọn vẹn, nhưng tôi lại lê bước về Tokyo với một cục nợ vô hình đè nặng trong lòng.
Chuyện gây quỹ cộng đồng thì tiến triển vèo vèo.
Vừa mới mở lời với Kurokawa-san, chị ấy đã phán xanh rờn: "Để công ty làm cho chuyên nghiệp", rồi đứng ra bao thầu gần hết thủ tục. Đỡ phải nhờ bố mẹ chuẩn bị tài khoản ngân hàng hay giấy đồng ý, đúng là nhẹ cả người. Về khoản phòng thu, nhờ Kyoko-san nói đỡ vài câu, chúng tôi đã đặt được Studio 2 của "Victoria Fall" trong hai ngày cuối tháng Tám. Khâu mix nhạc cũng sẽ do Inamori-san đảm nhiệm.
Giờ chỉ còn việc hoàn thiện bài hát trước giờ G thôi—
Đúng lúc này, tôi đâm sầm vào ngõ cụt mang tên "tạo âm bass" một cách đầy tuyệt vọng.
Tôi lục tung kho nhạc ở nhà lên để tìm manh mối, bất kể là gì cũng được. Từ những album yêu thích ngày xưa, những bài hát được thuật toán gợi ý của mấy nghệ sĩ lạ hoắc, cho đến đống đĩa rock cổ lỗ sĩ mượn của ông già.
Và rồi, tôi vớ được chiếc USB ấy.
Lúc đầu tôi còn chẳng nhớ nó chứa cái gì. Tên file toàn là mấy dãy số khô khốc kiểu ngày tháng, hoặc vài chữ cái viết tắt vô nghĩa.
Nhưng vừa mở một file lên nghe, ký ức lập tức ùa về.
Là Makita Shun.
Đồng tác giả của ca khúc tôi từng hợp tác sản xuất với Kuboi Takuto-san vào mùa đông năm ngoái.
Chiếc USB chứa đầy các bản ghi âm tạp nham và ghi chú lộn xộn này đã đến tay tôi qua một cơ duyên kỳ lạ. Cảm giác Saudade (nỗi hoài niệm bi thương) cháy bỏng trào lên trong cổ họng cùng vị đắng ngắt, tôi lần lượt mở từng file—
Và rồi tôi tìm thấy nó.
Ngay khoảnh khắc âm thanh ấy vang lên, tôi biết mình đã tìm thấy rồi. Chính là nó.
Nhưng đây rốt cuộc là cái gì?
Đống dữ liệu khổng lồ Makita Shun để lại hoàn toàn chưa được sắp xếp, cũng chẳng có lấy một dòng chú thích. Chắc kiểu file chỉ cần mình mình hiểu là được. Máy tính của tôi cũng bừa bộn y chang nên chẳng có tư cách gì mà trách anh ta.
Căng thật đấy.
Lấy tiếng bass này làm sample (mẫu) luôn sao?
Không—không được.
Thứ tôi cần không phải là bản thân âm thanh này. Tôi muốn tôi hoặc Kaya phải tự tay tái hiện lại cái cảm giác cô độc như bị ném vào chân không đó. Nếu chấp nhận việc đánh mất groove (nhịp điệu/cảm giác), thì chẳng cần tham khảo làm gì, dùng synthesizer vặn vẹo một lúc là ra ngay cái âm tương tự.
Nhưng vấn đề là groove của nó vẫn sống. Âm thanh này thật kỳ quái. Giống như một sinh mệnh bí ẩn vẫn tiếp tục sống sót trong vũ trụ bao la không ánh sáng, không nước, không không khí.
Hay là thử hỏi bố mẹ Makita Shun xem sao? Rằng "Hai bác có biết gì về file ghi âm này không ạ?"
Chắc là vô vọng thôi. Bố anh ta là người đưa USB cho tôi nhưng ông có vẻ mù tịt về âm nhạc lẫn công việc của con trai. Mẹ anh ta thì tôi chưa gặp, nhưng chắc cũng thế cả thôi.
Tôi check lịch trên điện thoại, tự nhắc nhở bản thân: không còn nhiều thời gian nữa đâu.
Lần này khác hẳn với lúc được Kyoko-san ưu ái cho dùng chùa Studio 2 của "Victoria Fall" để nghịch ngợm. Lần này là tiền tươi thóc thật bọn tôi tự bỏ ra thuê. Vào phòng thu rồi thì làm gì có thời gian mà chỉnh sửa biên khúc nữa. Đến nước này mà còn kêu "chưa chốt được tiếng bass" thì đúng là ung dung quá mức quy định.
Biết là thế. Biết thì biết...
Nếu không tìm thấy manh mối nào, có lẽ tôi đã tặc lưỡi thỏa hiệp cho xong chuyện để đi thu âm.
Nhưng khổ nỗi tôi lại lỡ tìm thấy nó rồi. Giờ sao mà coi như không biết được nữa.
Tôi mở nhóm LINE của ban nhạc. Tin nhắn chưa đọc chất đống.
"Không định xếp lịch tập à?"
"Em có thu thử mấy kiểu bass khác nhau, Senpai nghe xem có hợp ý anh không?"
"Việc đau đầu là việc của Murase-kun, tớ không có ý kiến, nhưng chốt cho tớ cái deadline đi."
"Hay là tập riêng với em theo nhóm Rhythm (Trống - Bass) đi ạ!"
Quả nhiên mọi người đều đang sốt ruột. Đương nhiên rồi.
"Trước cuối tuần này tớ sẽ xử lý xong," tôi gõ một lời hứa liều mạng dù chưa biết xoay xở thế nào.
Sau đó, tôi gửi file bass solo kỳ quái kia lên nhóm. "Cái này, mọi người nghĩ sao? Tớ không biết bản chất âm thanh này là gì. Nhưng tớ muốn dùng một thứ tiếng kiểu như vậy."
Chỉ ba mươi giây sau, tin nhắn trả lời đầu tiên hiện lên. Là Rinko. Giờ này mà cô nàng vẫn còn thức.
"Biết tìm bọn này bàn bạc đàng hoàng, Murase-kun cũng trưởng thành phết rồi đấy."
Xin lỗi nhé, tôi thầm nghĩ rồi tự cúi đầu tạ lỗi trong căn phòng trống hoác.
Cứ ích kỷ thế này, khéo chưa kịp bỏ ban nhạc thì tôi đã bị mọi người đá đít trước rồi.
Mà nghĩ đến chuyện bị đá đít lại thấy đỡ cảm giác tội lỗi hơn, đúng là hết thuốc chữa.
Thôi dẹp mấy cái vọng tưởng hão huyền đi. Việc cần kíp bây giờ là tìm ra chân tướng của âm thanh này.
Có ai biết chút gì không nhỉ...
Người duy nhất tôi có thể nghĩ đến lúc này chỉ có một.
Dù không mặn mà lắm, tôi vẫn mở mail, bấm vào cái tên "Kuboi Takuto" và bắt đầu soạn thư mới.
*
"—Mùa hè ở Nhật như hạch ấy. Biết thế ông đây đếch chuyển về."
Vừa mới gặp lại sau bao lâu, Takuto-san đã càu nhàu ngay lập tức.
"Ủa, chẳng phải anh sinh ra ở Nhật sao?"
"Hồi bé tí có ở một thời gian thôi. Xong bị ông già lôi sang Canada, rồi lượn sang London ở hẳn. Tầm mười năm trước cũng định chuyển về Nhật một lần, nhưng hồi đấy làm quái gì nóng đến mức điên rồ thế này."
"Chắc do trái đất nóng lên hay gì đấy... Mà anh bảo chuyển về, tức là định đóng đô ở Nhật luôn ạ?"
"Thì sắp debut ở bên này rồi. Chứ bắt đầu chạy sô rồi thì sức đâu mà bay đi bay lại giữa hai nửa bán cầu."
Cuối cùng cũng debut rồi sao, tôi bồi hồi xúc động.
Tôi được gặp Takuto-san ngay ngày hôm sau khi gửi mail. Anh hẹn tôi đến một phòng tập nhảy ở Minami-Aoyama thuộc quyền sở hữu của công ty quản lý. Lâu ngày không gặp, Takuto-san cắt tóc ngắn hơn, trông càng sắc lẹm. Áo ba lỗ, quần lửng thùng thình, giày thể thao, tất cả đều một màu trắng toát từ đầu đến chân. Nhưng tuyệt nhiên không gợi lên chút cảm giác "sạch sẽ" hay "thể thao" nào, mà thứ đầu tiên người ta nghĩ đến là "giống sát thủ". Đúng là một khí chất dị biệt.
"Rồi, giải quyết việc của cậu trước đã. Cái file của Makita-san ấy."
Takuto-san giơ điện thoại lên.
"Tôi nghe cái cậu gửi rồi, chả có ấn tượng gì sất. Mà cơ bản tôi với ổng cũng có thân thiết gì cho cam, ổng làm cái gì khác tôi đâu có rành."
"Thế ạ..."
Tôi cũng lờ mờ đoán trước kết quả này, lúc gửi mail cũng chẳng kỳ vọng mấy. Nhưng anh đã cất công gọi tôi đến tận đây thì ít ra cũng phải có manh mối gì chứ. Nếu chỉ để nói một câu "không biết" thì làm ơn đừng lôi đầu người ta đến tận Aoyama...
"Với cả tôi đếch hiểu sao cậu cứ phải sống chết với cái này. Công nhận tiếng nó hơi dị một tí, nhưng cũng chỉ là câu bass solo bình thường thôi mà?"
Tôi cúi gằm mặt.
Sáng nay đọc tin nhắn của mọi người trong nhóm cũng thấy phản ứng tương tự. Nghe rồi nhưng không hiểu hay ở chỗ nào, dùng effector không tái tạo được à, không hiểu cậu kẹt ở đâu, tớ gà mờ khoản thu âm nên chịu... đại loại thế.
"Tôi nói câu này không biết có phải phép không,"
Con người vốn ăn nói bỗ bã không nể nang ai nay bỗng rào đón một cách hiếm thấy.
"Cậu bị Makita-san ám rồi phải không?"
"Bị ám..."
"Người ta chết rồi. Không hỏi han được, cũng không jam (chơi nhạc) cùng được. Thành ra cậu muốn tưởng tượng cái âm nhạc của ổng khủng khiếp cỡ nào chả được. Cậu đang làm cái trò đấy chứ gì nữa. Từ trước tôi đã thấy cậu có nét giống Makita-san rồi. Chắc vì thế nên dễ bị hút vào hơn."
Tôi ngồi lún sâu vào chiếc ghế gấp, trầm ngâm suy nghĩ.
Có lẽ Takuto-san nói đúng. Sự đánh giá quá cao dành cho người chết. Trong thế giới được dựng nên toàn bằng trí tưởng tượng, âm nhạc có thể thăng hoa đến bất cứ cảnh giới nào.
Nhưng mà, tôi nghĩ.
Thực tế là file ghi âm đó có thật.
Tôi đã nghe đi nghe lại bao nhiêu lần, lần nào cảm nhận cũng y nguyên. Đó là một âm thanh đặc biệt. Không phải ảo giác.
"Thôi, ban nhạc nhà cậu có bế tắc thế nào thì cũng chả liên quan đến tôi. Bài tôi nhờ thì nhận được rồi, các cậu muốn bế tắc bao lâu thì tùy."
Tôi ngẩng phắt đầu lên.
"...A, ờm, hôm nay còn chuyện đó nữa nhỉ. ...Bài đấy ổn không anh?"
Hồi mùa xuân, tôi nhận lời đặt hàng sáng tác của Takuto-san. Bài đầu tiên nộp thì bị phán "bài ngon nhưng trật lất", loại. Tôi vò đầu bứt tai viết bài thứ hai gửi đi, xong bặt vô âm tín. Hôm nay anh gọi đến chắc chắn là để tiện thể chốt vụ này.
"Sẽ dùng làm đĩa đơn debut."
Giọng anh lạnh tanh, làm tôi thoáng giật mình tưởng anh bảo "vứt đi rồi".
"...Dạ? Ơ... Vâng. ...Cảm ơn anh nhiều ạ."
Vinh dự thật đấy. Cơ mà anh báo tin vui thì mặt mũi tươi tỉnh lên chút hộ tôi cái.
"Thuyết phục mấy lão già khốt-ta-bít mệt phờ râu. Mấy ổng cứ đòi bài nào tươi sáng hơn làm single, nên mãi mới chốt được."
Tôi hiểu cảm giác đó. Là tác giả, tôi rất tự tin vào đứa con tinh thần này, nhưng bảo dùng nó để chạy quảng cáo TV hay lồng vào phim truyền hình thì đúng là không tưởng tượng nổi. Nó là loại bài hát như thế đấy.
Takuto-san đứng dậy khỏi ghế. Anh thao tác trên điện thoại, đặt nó lên ghế, rồi bước đến trước gương, tạo dáng cúi người.
Beat nhạc bắt đầu chạy.
Dù chỉ là âm thanh mỏng manh phát ra từ loa điện thoại, nhưng vừa nghe intro tôi đã nhận ra ngay. Bài hát tôi viết cho Takuto-san. Những nhịp đa tiết tấu (polyrhythm) bất ổn, tạo cảm giác như đang chạy thục mạng lên những bậc thang trong bóng tối nhưng lại cứ ngỡ mình đang rơi tự do xuống vực sâu không đáy.
Tứ chi như được giải phóng khỏi thân xác Takuto-san.
Tôi từng đọc ở đâu đó rằng nhảy múa là "nhìn thấy âm nhạc". Giờ đây, sự thật ấy đang đập vào mắt tôi đầy thuyết phục. Chỉ một cái vung tay, một chuỗi bước chân, những ngón tay xuyên thủng hư không hay ánh mắt xé toạc tầm nhìn của Takuto-san cũng đủ biến âm lượng bé xíu kia thành luồng sáng chói lòa gấp ngàn lần, hóa thành cơn hồng thủy nhấn chìm tôi.
Takuto-san bắt đầu hát. Giọng của tôi trong bản demo bị anh nhai ngấu nghiến, nghiền nát, hóa thành tro bụi.
Trong khi bị giọng hát ấy đánh gục, tâm trí tôi lại trôi về phía Makita Shun.
Dù chưa từng gặp mặt, chưa từng nói chuyện nửa lời, tôi cảm giác mình hiểu được tâm tư của anh. Trong ca khúc chưa từng công bố mà anh để lại, có dệt lẫn những khao khát, những lời cầu nguyện và cả sự nôn nóng đến cào xé tâm can. Nó tràn ngập sự khẩn thiết muốn neo giữ con quái thú hung bạo mà quá đỗi kiều diễm ấy lại với thế giới loài người, dù biết nó chẳng thuộc về bất kỳ ai.
Nhưng anh đã thất bại.
Đánh mất giọng hát ấy, anh vĩnh viễn không còn cơ hội nào nữa—
Khi tôi sực tỉnh, Takuto-san đã ngừng nhảy.
Chiếc điện thoại cũng đã im bặt.
"...Hiểu chưa?"
Uống một ngụm nước suối, Takuto-san hỏi.
"...Dạ? Ờm,"
Takuto-san nhíu mày.
"Nhìn là thấy phải chọn làm single debut rồi chứ gì nữa."
"...À, vâng, thì,"
"Cái thái độ gì đấy. Đờ đẫn cái gì. Có nhìn cho tử tế không đấy?"
"Xin lỗi, tôi có nhìn mà... Chỉ là, tôi đang nghĩ chút chuyện về Makita Shun-san."
Gương mặt Takuto-san càng thêm méo mó.
"Nghĩ cái gì?"
"Không, ý là... Đáng lẽ Makita-san mới là người sản xuất màn debut của anh. Bài hát đó tôi lại tự tiện sửa đổi, rồi giờ tôi lại viết một bài debut khác cho anh thế này, không biết Makita-san sẽ nghĩ sao... Kiểu hơi lo lắng ấy mà..."
"Ổng chả nghĩ gì sất. Chết rồi còn đâu."
Takuto-san buông một câu sắc lẹm như dao chém đứt sợi chỉ.
"Tôi ghé nhất cái kiểu suy diễn người chết ở trên thiên đường sẽ vui lắm hay đang khóc dưới suối vàng. Người chết là người chết. Không tư duy, không nói năng. Cái đấy người ta gọi là bị ám đấy."
Tôi lại ủ rũ cúi đầu.
"...Vâng. Xin lỗi anh."
Takuto-san lẩm bẩm với hình ảnh phản chiếu nghiêng nghiêng của mình trong gương.
"Mặc xác Makita-san dưới mộ thế nào, giá trị âm nhạc của tôi hay cậu cũng chả thay đổi. Tôi đã quyết chọn bài này để debut. Một bài hát đếch liên quan đến cái gì. Phát hành sau bài nào cũng sẽ bị lạc quẻ. Nó là ngõ cụt. Mà đã là ngõ cụt, thì chỉ còn cách biến nó thành vạch xuất phát."
"...Vâng. Xin lỗi vì đã viết một bài dị hợm."
"Xin lỗi cái khỉ gì. Đang khen đấy."
Lời khen của ông thần này lúc nào cũng khó ngấm.
"Cậu cũng ok với việc dùng bài này làm bài debut chứ gì?"
"Dạ? Cái đó thì đương nhiên rồi ạ. Vâng. Tôi vui lắm."
Nghe câu trả lời có vẻ sáo rỗng theo mạch chuyện, nhưng đó là lòng dạ thật của tôi. Được hỗ trợ một tài năng nhường này bước ra thế giới âm nhạc là vinh hạnh lớn.
"Mấy vụ hợp đồng lằng nhằng sau này Niijima-san sẽ liên hệ."
Niijima-san là người quản lý tài năng đang chăm lo cho Takuto-san.
"Tên tác giả để thế nào? Vẫn dùng tên thật như trước à?"
"Vâng, sao cũng được ạ."
"Nghĩ cái tên nào Tây Tây một tí mà dùng dần đi. Như tôi cái họ 'Kuboi' toàn bị đọc lái đi nghe ngứa cả tai, may mà tên 'Takuto' ngôn ngữ nào cũng dễ đọc nên tôi giữ nguyên."
"Tôi chưa từng nghĩ đến chuyện ra nước ngoài..."
"Cậu không nghĩ nhưng dân mạng người ta xem đầy ra đấy, cậu đã ra nước ngoài rồi. Không muốn bị đặt biệt danh củ chuối thì tự mà nghĩ đi. Nhất là cậu đấy, fan quốc tế toàn tưởng cậu là con gái."
Ủa? Vụ này mới nghe nha? Mà tôi có cả fan quốc tế á?
"Lấy tên PNX thì sao? Tên solo của cậu còn gì?"
Bị Takuto-san hỏi bất ngờ, tôi chớp mắt lia lịa.
"PNX là cái gì ạ?"
Nghe lạ hoắc.
"Hôm nọ cậu chả diễn solo ở nhà thi đấu dưới cái tên đấy còn gì."
Nghe nhắc mới nhớ, tôi vò đầu bứt tai lục lọi trí nhớ.
"À—Paradise Noise Extra ấy hả. Cái đấy là do bên tổ chức sự kiện tự tiện đặt thôi."
"Hừm. Tưởng cậu định lấy tên đấy hoạt động solo."
"Tôi không có dự định đấy..."
"Nhưng sớm muộn gì cậu cũng rời ban nhạc thôi."
Tôi im bặt, nhìn chằm chằm vào đôi môi của Takuto-san. Đôi môi mang màu sắc điềm gở, như thể ai đó nhỏ mực đen, tím và xám lên bảng pha màu rồi quẹt cọ một đường duy nhất.
Tự nhiên nói cái gì vậy?
Tôi đâu có định rời nhóm.
Ban nhạc do tôi lập ra, thành viên thì toàn người trong mơ cả.
Những lời sáo rỗng ấy chỉ vang vọng trong đầu tôi chứ không dám thốt ra ngoài. Chính tôi còn biết đó là lời nói dối vụng về thì làm sao mà nói thành lời được.
Nuốt ngược chúng vào trong, tôi nhả ra một sự thật đầy gai nhọn.
"Không phải bây giờ."
"Cái lúc cậu quyết định sẽ rời, thì coi như cậu đã rời rồi."
Có lẽ là vậy. Vết nứt vô hình đã chạy dài trên mặt kính, giờ chỉ còn đợi thời điểm nó vỡ tan tành mà thôi.
"...Tại sao lại rời nhỉ? Rõ ràng đâu cần thiết. Anh em hòa thuận, khán giả đông, phản hồi tốt."
Takuto-san há hốc mồm nhìn tôi trân trân. Cái mặt như kiểu lỡ nuốt chửng một con chuột sống.
"...Hả? Nói lảm nhảm cái gì đấy? Bản thân cậu còn đếch hiểu thì bố tôi cũng chả hiểu được. Tự mình quyết định rời mà lại không biết lý do? Trên đời có thằng ngu thế à?"
Phản ứng quá chuẩn. Tôi đảo mắt lảng tránh.
"Cũng không hẳn là quyết định rồi. Chỉ là cứ nghĩ kiểu gì rồi cũng sẽ rời thôi. Mà nó không giống dự cảm đâu, nó gần như là xác tín luôn ấy... Dù tôi chả biết lý do là gì..."
"Đúng là thằng hâm. Tôi thấy thương cho thành viên nhóm cậu thật sự. Sao chúng nó chịu được cái thằng hâm dở như cậu nhỉ."
Sự cay nghiệt của Takuto-san không chỉ là gai hay dao nữa, nó là cái máy cưa xích luôn rồi.
"Này, nói trước nhé. Sau này tôi vẫn sẽ đặt bài, vẫn gọi cậu đi thu âm, vẫn feat (hợp tác) chung, thậm chí lôi cậu lên sân khấu, nhưng cấm tiệt cái trò rủ rê tôi lập nhóm (unit) hay gì đấy nhé. Đừng có lôi tôi vào cái mớ bòng bong khó hiểu của cậu."
*
Hôm sau, tôi ghé qua "Victoria Fall".
Vừa để chào hỏi Kyoko-san và Inamori-san, vừa muốn tranh thủ học lỏm không khí thu âm chuyên nghiệp.
Hồi tháng trước, lúc bài vở chưa đâu vào đâu, Kyoko-san còn thong thả cho tôi mượn phòng thu chơi bời vì đằng nào chị cũng bao trọn gói theo tháng. Nhưng hôm nay thì khác, từ sáng sớm không khí tập trung đã căng như dây đàn. Kẻ ngoại đạo như tôi chỉ biết co ro một góc trong phòng điều khiển (control room), cố gắng hết sức để không làm vướng chân ai.
Một lần nữa, tôi thấm thía sự khủng khiếp của dân chuyên nghiệp.
Trình độ của Kyoko-san hay Chiaki-san thì tôi đã nhẵn mặt qua đĩa hát hay đi xem live rồi, nhưng thứ làm tôi choáng váng là dàn nhạc công hỗ trợ (backing musician): Guitar, Keyboard, Bass. Chắc hẳn họ là những nhạc công phòng thu (studio musician) chuyên cày cuốc trong bóng tối. Xin lỗi vì tôi chẳng biết tên tuổi mặt mũi họ là ai, nhưng kỹ năng thì đúng là "đỉnh của chóp". Chỉ cần Kyoko-san hay Producer trao đổi vài câu ngắn gọn, yêu cầu thì mơ hồ, thế mà chui vào buồng thu (booth) cái là họ đáp ứng được ngay tắp lự chỉ sau một lần chơi (one take).
"Nhạc công phòng thu ấy mà, xét về kỹ thuật thì ông nào chả quái như nhau."
Tranh thủ lúc nghỉ giải lao giữa giờ thu, kỹ sư âm thanh Inamori-san giảng giải cho tôi.
"Thế mà thu nhập lại chênh nhau một trời một vực. Sự khác biệt giữa người được mời lại lần sau và người bị gạch tên nó nằm ở chỗ này này—"
Qua lớp kính cách âm dày cộp, Inamori-san nhìn về phía tay Bass và Keyboard trong buồng thu rồi lẩm bẩm.
"Phản hồi (Response) và Trí tưởng tượng (Imagination). Xem có cái đó hay không thôi. Giống như lái xe ấy, đường thẳng tắp thì đạp lút ga xe nào chả chạy nhanh. Quan trọng không phải là tốc độ tối đa, mà là khả năng tăng tốc, phanh, ôm cua, và trên hết là người ngồi xe có thấy phê hay không."
Rồi ông hạ giọng, cười nhếch mép bồi thêm:
"Với cả, phải cố mà ra được OK take (bản thu đạt chuẩn) ngay phát đầu tiên, không thì cháy timeline với ngân sách. Bên thuê người ta cũng khoái gọi mấy ông có phản hồi tốt, đỡ tốn tiền."
U là trời. Nghe thực dụng đến đau lòng.
"...Cháu thì chịu chết..."
Tôi buột miệng nói ra lời thật lòng, Inamori-san cười phá lên.
"Á ha ha. Đúng rồi, nói thật là Murase-kun không làm được đâu. Theo đuổi cái tôi âm nhạc của mình nó là một hệ kỹ năng khác. Nói thế thì Kyoko-san cũng có làm được đâu. Chiaki-san thì được đấy, bả vẫn hay bị gọi đi đánh thuê chỗ này chỗ kia suốt."
Âm nhạc đúng là được dựng xây từ vô vàn con người khác nhau, tôi thầm nghĩ khi nhìn vào buồng thu bên kia tấm kính.
Đến giờ nghỉ, tôi rón rén mở lời.
"Ờm, cháu có cái file này muốn nhờ mọi người nghe hộ chút..."
Tôi cắm USB của Makita Shun vào máy tính, nối ra dàn loa xịn sò của sảnh chờ (lounge) rồi bật đoạn solo bass quái đản kia cho cả hội nghe.
Tôi cũng kể vắn tắt sự tình. Rằng đang bế tắc vụ tiếng bass, tìm loạn xạ thì vớ được cái này. Rất muốn biết chân tướng nó là gì mà chịu chết.
Tôi giấu tên Makita Shun. Giải thích mối quan hệ lằng nhằng quá, nói xong thì hết giờ nghỉ mất.
"Công nhận tiếng dị thật."
Inamori-san lên tiếng đầu tiên.
"Thu tiếng Dead (Vô hưởng) kinh khủng khiếp. Quá đà luôn ấy chứ. Làm kiểu gì được thế này nhỉ?"
"Synth Bass (Bass điện tử) à?"
"Không, ngón tay gảy đấy. Hay là khử noise (tiếng ồn) triệt để quá nên nó ra thế này?"
Anh Bassist với anh Keyboard bắt đầu tranh luận sôi nổi.
"Nghe cứ rợn rợn kiểu gì ấy," Chiaki-san bắt chéo hai tay ôm lấy bờ vai trần lộ ra khỏi áo ba lỗ, ra chiều ớn lạnh. "Cái này đệm trống kiểu gì cũng chả hợp nổi đâu."
Kyoko-san thì vẫn im lặng.
Tầm tám giờ tối thì phần thu Rhythm (Trống - Bass) tạm ổn, mọi người chốt ăn tối xong sẽ thu Vocal. Tôi muốn ở lại hóng lắm nhưng muộn quá rồi, đành xin phép về trước.
"Chàng trai, đi ăn tối không?"
Kyoko-san bỗng lên tiếng rồi lôi tôi ra khỏi studio. Chiaki-san muốn ở lại check bản thu trống nên chỉ còn tôi với Kyoko-san đánh lẻ.
Tại quán cà phê trước ga, tôi gọi sandwich và trà đá. Kyoko-san bảo "không muốn ăn lắm" nên chỉ gọi cà phê.
Thế rủ đi ăn tối làm cái quái gì không biết.
"...Dạ, chị có chuyện gì ạ...?"
Có chuyện muốn nói với tôi—chăng?
Tôi nhón một góc miếng French Toast sandwich lên mà còn chẳng buồn đưa vào miệng, chờ đợi.
"Có mùi người chết."
Tôi giật thót. Đôi mắt Kyoko-san đượm vẻ u buồn.
"Cái file cậu mang đến ấy. Sai thì xin lỗi nhé."
Tôi đưa miếng sandwich lên gần miệng, khựng lại, đặt xuống đĩa. Lặp lại cái hành động vô nghĩa ấy hai lần, tôi thở dài rồi nhấp ngụm trà cho ướt môi.
"...Chị có biết Makita Shun không ạ? Nghe đâu là nhạc công phòng thu, cũng có làm cả producer nữa."
"Hình như có nghe tên rồi. ...Người đã mất rồi đúng không?"
Anh ấy gần như vô danh với đại chúng, việc Kyoko-san biết đến làm tôi vừa mừng vừa thấy nặng lòng.
"Bài em làm chung với Kuboi Takuto-san, chị biết chứ ạ?"
"Ừ. Nghe rồi."
"Bài đấy vốn là do Makita Shun-san sản xuất cho Kuboi-san, nhưng bị đắp chiếu (shelved), sau bọn em mới lôi ra remake lại."
Nhìn biểu cảm của Kyoko-san thì có vẻ chị không biết sâu đến thế. Chắc chị có thấy tên Makita Shun trong phần credit (ghi công) nhưng không để ý chi tiết.
"Lúc remake, em được người nhà Makita-san đưa cho cái USB chứa đủ thứ hổ lốn. Cái file cho mọi người nghe hôm nay nằm trong đấy."
Kyoko-san gật đầu, thong thả uống cạn ly cà phê đá.
"Tôi cũng từng có thời gian bị ám ảnh bởi người chết mãi không dứt."
Phần chất lỏng màu hổ phách len lỏi giữa những viên đá dưới đáy ly, trông như những mạch máu lộ ra dưới làn da. Ngón tay Kyoko-san trượt trên thành ly, lau đi vệt nước ngưng tụ, làm cho mạng lưới hổ phách ấy càng thêm rõ nét.
"Chuyện đó là tốt hay xấu, giờ tôi cũng chịu. ...Dù sao thì một cuộc đời chưa từng gặp anh ấy, hay một cuộc đời không mất đi anh ấy, tôi đều không có cơ hội trải nghiệm."
Tôi cứng họng. Cảm giác mình chẳng có tư cách gì để lên tiếng. Tôi chưa mất ai cả. Tôi chỉ đang giữ hộ âm thanh của người đã khuất mà thôi.
"Tôi từng nghĩ đó là người đàn ông tôi yêu nhất đời, cũng là tay bass đỉnh nhất đời tôi. Nên lúc anh ấy mất, tôi đã đinh ninh mình sẽ chẳng bao giờ lập ban nhạc được nữa. ...Thế mà chỉ ba năm sau, tôi lại gặp một gã đàn ông khác xô đổ cái kỷ lục 'nhất đời' ấy cái rụp rồi lập ban nhạc mới. Cái cảm xúc thiếu nữ ngày xưa nghĩ lại thấy nông cạn ghê gớm."
Kyoko-san cười khúc khích. Tôi lén thở phào nhẹ nhõm. Thầm cảm ơn chị đã lái câu chuyện sang hướng bông đùa, chứ không thì tôi ngạt thở chết mất.
"Mà cái ban nhạc sau này rốt cuộc cũng toang đấy thây. Chả biết đâu mà lần. Cơ mà thực tế là, cậu bây giờ tỏa ra cái khí chất rất gần với người chết, nguy hiểm lắm đấy. Sự nguy hiểm ấy cũng quyến rũ thật. Nhưng mà, nhạc thì chỉ có người sống mới nghe được thôi. Sớm muộn gì cũng phải quay về bên này đấy nhé."
Tôi khẽ gật đầu.
Lời Kyoko-san nói tôi chỉ hiểu được một nửa—cũng phải thôi, đến tình cảnh của chính mình tôi còn chưa hiểu nổi—nên chẳng dám đáp bừa.
Nhưng tôi cảm thấy cần phải hỏi một điều.
Hỏi người phụ nữ này, người dường như đã nhìn thấu việc tôi rồi sẽ vứt bỏ dàn nhạc giao hưởng yêu quý của mình.
Đắn đo mãi tôi mới dám mở lời.
"...Ban nhạc của chị, tại sao lại giải tán... em hỏi được không ạ?"
Kyoko-san nhìn tôi chằm chằm, rồi nhúng ngón tay vào vũng nước đọng dưới đáy ly, viết gì đó lên mặt bàn. Những chữ cái Latinh.
Tôi nhận ra đó là tên ban nhạc của chị.
"Chính xác thì chưa giải tán đâu. Tên vẫn giữ nguyên. Hồi cấp ba có hai người rời nhóm, hai người còn lại vẫn duy trì đến tận bây giờ."
"A... ra, ra thế ạ. Em xin lỗi."
Kyoko-san và tay trống Chiaki-san. Hai người, mảnh ghép tối thiểu của một ban nhạc rock. Nghe nói họ từng diễn live với đội hình hai người thật.
"Giải tán quách đi cho nhẹ nợ. Đặt tên mới, tìm người mới. Nhưng chúng tôi không muốn thế. Muốn tiếp tục bay dù chỉ còn một bên cánh."
Giờ tôi mới ngớ ra, người này là bên bị bỏ lại.
Câu hỏi của tôi có khi vô duyên thúi.
Nhưng Kyoko-san lại mỉm cười đầy hoài niệm và nói tiếp.
"Tại sao hai người kia lại bỏ đi, nếu không hỏi chính chủ thì làm sao biết được sự thật. Mà không khéo chính chủ cũng chả biết đâu. Không phải cạch mặt nhau đâu nhé. Giờ quan hệ vẫn tốt chán."
"À vâng. Cái đó em biết."
Hai người rời đi, một là nghệ sĩ dương cầm cổ điển nhưng chơi guitar cũng thuộc hàng quái kiệt, thi thoảng vẫn làm khách mời trong show của Kyoko-san, còn làm chung một album nữa. Người kia thì hoạt động solo, là producer danh tiếng, hình như cũng viết nhạc cho Kyoko-san và sản xuất một album cho chị.
Ai cũng tài năng ngút trời, kiếm tiền như nước, thân thiết với nhau, và vẫn làm nhạc—
Thế nhưng, họ không thể tồn tại trong cùng một ban nhạc.
"Thế nên tôi quyết định nghĩ thế này. Đó là một ban nhạc tuyệt vời. Bốn con người tuyệt vời tình cờ gặp nhau và cuộc đời giao nhau trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Việc bốn người đó tụ lại một chỗ vốn dĩ đã là điều bất thường, phi tự nhiên rồi. Nên giờ nó quay về trạng thái tự nhiên thôi. Thế đấy."
Cũng là một cách nghĩ hay, Kyoko-san cười bổ sung.
Biết là tàn nhẫn, nhưng tôi vẫn hỏi câu cuối cùng.
"Nếu có thể, chị vẫn muốn đi tiếp với bốn người chứ ạ?"
"Đương nhiên," Kyoko-san đáp không chút do dự. "Trong mơ, tôi ước gì nó kéo dài mãi mãi. Chỉ là giờ tỉnh mộng rồi, tôi không nghĩ đến chuyện quay lại nữa."
*
"...Hay là giao phó cho Kaya luôn đi nhỉ..."
Lâu lắm mới đến "Moon Echo" tập luyện, tôi lại buông một câu chán đời như thế.
Kaya đang chỉnh dây đàn, khựng lại, mắt tròn mắt dẹt nhìn tôi.
"...Giao cái gì cho em ạ?"
Akane đang set up micro cũng quay ngoắt lại hỏi.
"Thì cái vụ tiếng bass ấy. Đằng nào lúc thu âm chả là Kaya đánh, nên tớ nghĩ chắc tớ không cần phải quá cầu kỳ làm gì."
Một sự im lặng lổn nhổn, khó chịu bao trùm phòng tập.
Rinko đã chuẩn bị xong đàn, lạnh lùng phán:
"Murase-kun quyết thế nào thì là thế ấy."
Giọng điệu nồng nặc mùi thất vọng.
"Chà, cũng chả còn thời gian nữa..."
Akane cũng nhún vai bất lực.
Shizuki bối rối nhìn tôi. Mấy lần định nói gì đó rồi lại thôi. Cuối cùng, cậu ấy im lặng, tay cứ chỉnh đi chỉnh lại góc lá cymbal dù nó đã chuẩn từ đời nào.
Và thế là Kaya bùng nổ.
Cô bé tắt phụt ampli, giật phăng dây cáp ra, ngồi phịch xuống ghế gấp như thể sụp đổ, mặt cúi gằm.
"...Kaya?"
Tôi run rẩy gọi.
"...Thế này thì em đánh đấm gì được."
Tiếng lầm bầm của Kaya rơi lộp bộp xuống sàn nhà đầy dây rợ.
"Anh bảo đằng nào cũng là em đánh... nói thế... em chịu, chả đánh được gì sất. Em vốn không phải thành viên chính thức. Là Senpai nói mà. Senpai có cái âm thanh muốn bằng được, và chỉ có em mới tạo ra được, nên Senpai mới ích kỷ lôi em vào dùng. Giờ anh dẹp cái sự ích kỷ đấy đi rồi đẩy em ra, thế thì là—"
Hứng trọn quả bom nổ chậm ấy vào mặt, tôi cũng tan nát trong câm lặng.
"Thế thì đâu phải là Senpai nữa. Senpai phải là người thét lên 'không tìm ra tiếng tao thích thì dẹp mịa thu âm đi' mới đúng chứ. Em ấy à, vì Senpai yêu quý thì cái gì em cũng chơi tuốt, nhưng mà... người này không phải Senpai. Em không đánh đâu."
Sự im lặng trong phòng tập đặc quánh lại như đất sét. Tôi dính chặt xuống ghế không nhúc nhích nổi.
Một tiếng thở dài khô khốc vang lên, nghe như tiếng bìa các-tông cọ vào nhau. Là Rinko. Cô nàng cũng tắt đàn, kéo ghế ra giữa phòng ngồi xuống.
Akane cũng tắt ampli guitar, dựng cây đàn cưng lên giá.
Shizuki nép mình sau bộ trống.
"Tập tành gì tầm này nữa. Hủy buổi tập hôm nay, cả lũ xúm vào giúp Murase-kun tìm đồ đi."
Tôi ngơ ngác nhìn Rinko, rồi nhìn xuống đôi tay rũ rượi của mình.
"Chuẩn. Tập mấy cái đánh bằng muscle memory (trí nhớ cơ bắp) thì có tác dụng quái gì đâu."
Akane hùa theo, ngồi bệt xuống sàn, duỗi dài chân ra.
"Giúp là giúp kiểu gì?"
"Thì nghe lại cái file đấy một lần nữa chứ sao. Biết đâu ngộ ra cái gì."
Rinko chỉ tay vào cái laptop đang phát ra ánh sáng lờ đờ trên ghế của tôi.
Tôi nhìn quanh gương mặt bốn cô gái lần nữa.
Không có sự thương hại, không có cơn giận dữ hay sự bực dọc nào cả. Cũng không phải là buông xuôi. Một biểu cảm tha thiết hơn, trong suốt, không lối thoát, tựa như đang chờ đợi sao băng.
Tôi đứng dậy tiến về phía laptop.
"Xin lỗi nhé. Làm mất thời gian của mọi người."
Lúc này, nụ cười bao dung đến đau lòng của Shizuki làm tôi thấy khó chịu nhất.
"Đừng xin lỗi mà. Cuộc đời tụi mình giao phó hết cho Makoto-kun từ lâu rồi còn gì."
Nặng nề quá. Tôi quỳ xuống sàn với cảm giác như bị nghiền nát, ghé sát mặt vào màn hình, bấm vào file âm thanh.
Đoạn solo bass điềm gở đã nghe hàng trăm lần lại vang lên từ loa lớn của phòng tập.
Lặp lại.
Lặp lại.
Lại lặp lại.
Sau một hồi trống rỗng, Kaya cắm lại cây Jazz Bass vào ampli, bật điện, rồi sao chép y hệt đoạn nhạc vừa phát. Chỉ nghe mỗi bass thì bố ai biết là bài gì. Có khi chẳng phải bài hát nào sất, chỉ là chơi thử mấy vòng hòa thanh (progression) quen thuộc thôi cũng nên.
Tôi dựng mic trước ampli bass, chuẩn bị thu âm.
Thu xong một lượt, cả lũ lại chụm đầu vào nghe, bắt đầu một vòng lặp vô nghĩa khác.
Nào là căng chăn sau mic làm rèm tiêu âm, đổi mic định hướng (directional), thu trực tiếp qua đường line rồi đắp giả lập ampli (amp simulator) vào... thử đủ trò mà cái tiếng thu được vẫn khác một trời một vực với âm thanh kỳ bí trong USB. Tôi chợt nghĩ, cảm giác này giống hệt đi nhận dạng thi thể. Không mạch, không thở, đồng tử giãn to. Nhưng không biết là ai.
May phước là bốn người kia không ai tỏ vẻ ngán ngẩm hay mệt mỏi. Họ cứ lầm lũi làm việc cần làm.
Thử hết các phương án khả thi xong, Rinko lên tiếng:
"Không còn file nào khác kiểu kiểu thế này à? Biết đâu thêm manh mối."
Cô chỉ vào cái USB cắm bên hông máy.
"Chịu. Nhiều vãi chưởng ra. Tên file thì toàn mã số bí hiểm chỉ có cụ tổ Makita-san mới hiểu được—"
"Check ngày sửa đổi (Date Modified) chưa? Mấy file thời gian gần nhau thường có liên quan đấy."
Tôi giật mình. Sao không nghĩ ra sớm hơn nhỉ.
Tôi sắp xếp lại thư mục theo ngày sửa đổi.
Có đúng một file duy nhất có cùng ngày sửa đổi cuối cùng với file bass solo kia.
Ngón tay run rẩy click chuột.
Mới đầu—chẳng có tiếng gì sất. Thanh thời gian cứ lừ đừ trôi, nuốt chửng từng giây.
File rỗng à? Hay mức thu âm (gain) bé quá? Tôi vừa định vươn tay chỉnh máy thì nghe thấy tiếng đếm nhịp (count). Bốn tiếng rất khẽ.
Tiếp đó là tiếng guitar clean rải arpeggio, tiếng dậm hi-hat 2 & 4 xa xăm, và rồi giọng hát.
Giọng nữ. Một giọng hát tựa như khối vàng ròng được cô đọng từ chính ánh mặt trời giữa trưa hè. Đẹp đẽ, chói lòa, phi nhân tính, chỉ còn lại xúc cảm của ma thuật.
Tôi vặn max volume.
Không thể tin được. Tôi biết giọng hát này.
Ngẩng mặt lên nhìn, cả bốn cô gái đều lộ vẻ kinh ngạc và đê mê. Ai cũng biết giọng hát này.
Nhưng tại sao nó lại nằm trong USB của Makita Shun?
Giọng hát mong manh ấy dần chuyển thành tiếng cười, nhỏ dần rồi tan biến vào hư không.
Hết bài.
File âm thanh ngắn ngủn chỉ hơn một phút. Tôi tua lại nghe từ đầu.
Không trượt đi đâu được.
"...Là Umino Rikako đúng không?"
Nghe xong lần hai, Akane là người đầu tiên phá vỡ sự im lặng.
Kaya gật đầu lia lịa. Shizuki thì dán chặt người vào loa từ lúc nào không hay. Rinko nhắm nghiền mắt, vẫn đang đắm chìm trong dư âm.
"...Là Umino Rikako. Mình cũng nghe ra thế."
"Giọng đặc trưng thế này thì chạy đi đâu được. Chắc chắn 100%."
Đến Rinko mù nhạc Pop còn khẳng định chắc nịch.
"Cái ông Makita gì đấy có liên quan gì đến Umino Rikako à? Kiểu làm việc chung ấy...?"
Nghe Shizuki hỏi, tôi chỉ biết lắc đầu. Chịu. Tôi mù tịt về Makita Shun.
Umino Rikako—nữ hoàng nhạc Soul của Nhật Bản, siêu sao nắm giữ kỷ lục doanh số bán đĩa mọi thời đại. Ai mà chẳng từng nghe vài bài hit của cô ấy. Makita Shun là cái thá gì mà được làm việc với tầm cỡ ấy? Hay là quan hệ tư đời?
Tôi lôi điện thoại ra tra Google.
Nhưng Makita Shun vốn là nhạc công hậu trường, thông tin để lại gần như bằng không. Trong khi đó Umino Rikako thì rực rỡ cả sự nghiệp lẫn đời tư, tìm tên cô ấy ra cả chục triệu kết quả.
Tìm mối liên hệ giữa hai người này chẳng khác nào mò kim đáy bể.
Akane sán lại gần, ngồi xổm đối diện tôi qua cái laptop, nhìn chằm chằm vào mặt tôi.
"...Rồi sao? Giờ đi hỏi Umino Rikako hả?"
Giọng điệu không hề đùa cợt hay mỉa mai. Chỉ đơn giản là xác nhận sự việc.
Đối phương là Diva trên chín tầng mây, tôi thì là hạt cát dưới mặt đất, chả có tí dây mơ rễ má nào, thế mà định chạy đến hỏi: "Chị biết gì về cái file này không"—
Thế mà Akane lại tin chắc tôi sẽ làm được.
"...Cũng chả còn manh mối nào khác nhỉ..."
Kaya cũng hùa theo.
"Mà đây có thật là Umino Rikako không đấy? Nãy chém gió mạnh mồm thế chứ giờ em cũng rén rồi. Em chưa nghe trọn vẹn bài nào của bả bao giờ."
"Chắc chắn mà. Nhưng bản thu này nghe xa xăm, tiếng cũng lạ lắm. Có khi nào bật nhạc Umino Rikako lên rồi đàn theo không?"
"Đoạn cuối có tiếng cười mà, có cả đối thoại nữa còn gì? Có tiếng đàn ông xen vào đấy thây. Chắc là thu chung thật đấy."
"A, ừ nhỉ..."
"Giá mà mình có mối (connection) thì ngon, ngặt nỗi bố với anh trai mình chơi dòng nhạc khác hẳn, chắc chả quen biết gì Umino Rikako đâu..."
Mọi người đang bàn tán xôn xao, nghiêm túc tìm cách giúp tôi. Chỉ vì sự cố chấp mà chính tôi còn chưa hiểu rõ. Sự kỳ vọng này nặng thật. Không—không phải kỳ vọng.
Là cái gì nhỉ? Nghĩa vụ? Không phải.
Bản năng thì đúng hơn. Giống như đang chìm dưới nước thì phải quẫy đạp để ngoi lên thở vậy. Thế nên mới ngột ngạt, mới nặng nề.
Nhưng tôi cũng chẳng còn cách nào khác ngoài việc cào cấu màn hình điện thoại trong vô vọng.
Và rồi tôi tìm thấy. Tôi tìm thấy thật. Sợi chỉ mỏng manh nối tôi với nữ thần trên trời cao.
*
Nhà sản xuất Kunimoto-san lâu ngày không gặp trông gầy rộc đi.
Hồi mùa xuân cái bụng ông còn ưỡn ra oai vệ dưới lớp áo polo, thế mà giờ cái áo phông mỏng manh cũng trở nên rộng thùng thình quanh eo.
Chắc là lao tâm khổ tứ lắm. Mà cái thằng chây ì mãi không nộp bài là tôi đây chắc cũng góp phần làm ông héo hon, nghĩ mà thấy tội lỗi.
"Lâu không gặp Murase-kun. Trông đen đi đấy nhỉ? Đi biển à?"
"Dạ, vâng. Đi tập huấn với ban nhạc ạ."
"Nhất cậu rồi. Nghỉ hè cơ mà. Nghe đồn cuối cùng cũng chịu làm album rồi hả? Chà, hóng nha. Tập huấn là để chọn bài chứ gì? Có studio riêng á? Xịn thế."
Hôm nay Kunimoto-san nói nhiều kinh khủng. Nhân viên quán đứng chờ order mãi mà không chen vào nổi.
Có lẽ—
Ông đang câu giờ để chuẩn bị tinh thần vào việc chính.
"À à, cái nhóm bốn cô bé nhận bài của cậu ấy, chốt lịch debut rồi nhé. Tháng Một năm sau. Tên nhóm là 'QUADream', giấc mơ nhân bốn, nghe kêu không?"
"Dạ, vâng, cháu hóng lắm ạ."
"Từ tháng Mười một sẽ bắt đầu đẩy truyền thông. Nhóm nhảy nên video là chủ đạo. Mới đầu sẽ cover với chế cháo các kiểu để hút view, rồi dùng viral tự nhiên (organic)..."
Kunimoto-san, lão làng trong giới sản xuất âm nhạc, người đặt hàng tôi sáng tác nửa năm trước, có vẻ đang dồn hết tâm huyết vào nhóm này. Cứ nhắc đến họ là mắt ông lại sáng rực lên như thiếu niên. Hôm nay chắc cũng tiện thể né tránh chủ đề chính nên ông thao thao bất tuyệt về chiến lược lăng xê tận mười lăm phút.
Đến khi đá trong cốc tan gần hết, Kunimoto-san mới chịu nghỉ lấy hơi, tạm chốt câu chuyện.
Tôi rít một hơi cà phê nhạt toẹt qua ống hút, rón rén mở lời:
"Thế... cái vụ Makita Shun-san cháu viết trong mail ấy ạ..."
"...À, ừ. Vụ đấy nhỉ."
Kunimoto-san cười gượng gạo.
Tôi vừa dò xét sắc mặt ông vừa lựa lời. Trông không hẳn là khó xử, nhưng chắc chắn là không hào hứng gì. Ngại ngùng thì đúng hơn.
"Kể ra cái duyên cũng lạ, cháu làm chung một bài với Kuboi Takuto, hóa ra bài đấy lại là bản remake từ bài do Makita-san sản xuất ngày xưa."
Cái sự tình đúng là "duyên phận kỳ lạ" đến mức khó tin, giải thích cũng mệt. Kunimoto-san cười khổ, xua tay.
"Biết rồi, biết rồi. Hôm qua tôi tra rồi. Tôi cũng thấy duyên số nó vả vào mặt mình đây, thật đấy."
Ông ngừng lại, nhấp ngụm cà phê cho đỡ khô môi.
"...Vụ Kuboi Takuto ấy, thú thật là tôi cố tình lờ đi. Nghe phong phanh cậu ta remake bài đấy rồi phát hành, nhưng tôi quyết không nghe. Nghĩ thì thấy mình trẻ con thật. Người nhờ Makita-san sản xuất bài debut cho Kuboi Takuto chính là tôi, nên tôi nghĩ mình chả thể nào nghe nó với cái đầu lạnh được, thế là bịt tai bịt mắt luôn."
"Ra thế ạ... Xin lỗi bác, cháu không biết gì cả. Ờm, thế bác không muốn nghe chuyện này ạ...?"
Đâu có đâu có, Kunimoto-san cười ngượng.
"Chuyện đời tống rồi, chấp nhặt làm gì cho mệt. Biết người remake là Murase-kun tôi giật mình đấy. Hôm qua mới nghe thử lần đầu, công nhận bài ngon. Cậu hoàn thiện nó được đến tầm đấy, tôi chỉ biết cảm ơn thôi."
Tôi rụt cổ lại. Có khi nào làm ông phải bận lòng không nhỉ.
Kunimoto-san nhìn xa xăm, nói tiếp:
"Gọi là duyên kỳ ngộ cũng đúng, nhưng biết đâu lý do tôi bị Murase-kun thu hút ngay từ đầu là vì thấy bóng dáng Makita Shun nơi cậu cũng nên. ...Tài năng hiếm có đấy. Tiếc thật. Đang độ tuổi xuân xanh."
"...Vâng. Cháu cũng nghĩ thế. ...À, xin lỗi, cháu mới nghe có hai album với mấy bản chưa phát hành thôi, nói cứ như hiểu rõ lắm ấy."
"Không không. Tôi nghĩ giờ trên quả đất này người hiểu nhạc Makita Shun nhất là Murase-kun đấy. Cậu cầm hết dữ liệu gốc (source data) rồi còn gì?"
"Vâng. Bố Makita-san đưa cho cháu."
"...Âm nhạc vẫn còn lại nhỉ. ...Tốt thật đấy."
Giọng Kunimoto-san nghe như vọng lại từ phía bên kia màn sương.
Nhưng ông là một Producer, một chiến binh lăn lộn ở nơi giao thoa khốc liệt nhất giữa âm nhạc và thực tế, nên ông không để cảm xúc nhấn chìm mà quay trở lại ngay với tôi.
"...Rồi, hai cái file cậu gửi."
"...Dạ, vâng."
Rõ ràng là tôi khơi mào, nhưng đến lúc ông nhắc đến, tôi mới thấy mình chưa chuẩn bị tinh thần.
"Tôi nghe rồi. Cái bản Bass solo ấy—ừm, công nhận thu tiếng Dead (Vô hưởng) dị thường. Cảm giác dùng thủ pháp (method) gì đấy hiếm gặp lắm, cụ thể thì tôi chịu. Cái đấy không giúp được gì, nhưng cái còn lại ấy."
Ông hắng giọng, tông giọng trầm xuống một nấc.
"Chuẩn Umino Rikako rồi."
Tôi gật đầu, ngước mắt nhìn Kunimoto-san.
"Cháu tra mạng thấy hồi xưa bác có sản xuất cho Umino Rikako mấy lần, nên—cháu nghĩ biết đâu bác biết gì đấy..."
"Ừ. Tôi làm cho Kako-chan hai bài. Nhưng không hợp cạ (chemistry) lắm nên không tiến tới làm album."
Gọi là "Kako-chan", nghe đủ thấy thân tình lâu năm.
"Makita-san—cũng từng làm việc với Umino Rikako ạ?"
"Không, công việc thì không. Kako-chan coi Makita-chan là đối thủ. Cô nàng bảo không thể làm việc chung với địch thủ cạnh tranh được."
Cách gọi Makita Shun cũng chuyển sang "-chan", gương mặt Kunimoto-san dường như trẻ lại vài tuổi.
"Lạ đời chưa. Diva số một Nhật Bản lại đi coi một tay nhạc công phòng thu chân ướt chân ráo, việc gì cũng làm là đối thủ. Nhưng đúng là ở cậu ta có cái gì đấy khiến người ta phải dè chừng. Người đầu tiên đánh hơi thấy tài năng của cậu ta chắc chắn là Kako-chan... Mối quan hệ kỳ quặc của hai người họ nổi tiếng trong giới lắm. Nhìn kiểu gì cũng tưởng đang hẹn hò, nhưng nghe đồn lại chả phải quan hệ trai gái, chuyện tế nhị nên cũng chả ai dám hỏi thẳng. Mà kể cả có nghe bảo 'không hẹn hò đâu' thì người ta cũng gật gù 'hợp lý'. Hai người họ vừa giống nhau như đúc, lại vừa trái ngược hoàn toàn, lúc thì như cặp bài trùng, lúc thì như cặp đôi oan gia ngõ hẹp."
Kunimoto-san kể chuyện miên man, như thể mặc kệ vết thương đang rỉ máu ướt đẫm vạt áo.
"Thế nên, cái file âm thanh đó ấy."
Chủ đề quay xe gấp quá làm tôi chóng cả mặt.
"Có tiếng nói chuyện đúng không. Chắc là thu chung đấy. Có điều giọng Kako-chan nghe xa lắc, tiếng bass cũng vỡ (distorted), không biết có phải vừa gọi video call vừa thu không. Tóm lại Kako-chan chắc chắn biết gì đó."
Tôi buông thõng vai, thở hắt ra.
"...Ra vậy. ...Cảm ơn bác đã kể cho cháu."
Nghe khách sáo đến lạ lùng.
Thực tình là tôi đang bị cái cảm giác hư vô nó đè bẹp.
Rốt cuộc mình đang làm cái quái gì thế này...
Chạy đôn chạy đáo đuổi theo cái bóng ma của người chết, bò lê bò lết trên con đường lầy lội dẫn ra nghĩa địa.
Điểm cuối con đường có gì thì tôi cũng thừa biết rồi. Làm quái gì có ánh sáng.
"Muốn gặp Kako-chan hỏi cho ra ngô ra khoai không?"
Tôi từ từ ngước mắt lên nhìn Kunimoto-san.
Nhìn mặt là biết ông không nói vì xã giao hay nghĩa hiệp. Ông chỉ đang hoàn thành vai trò của mình. Như con gà trên chong chóng gió phải quay về hướng gió, như ngọn hải đăng phải chiếu sáng xuyên màn sương.
"Cô nàng bận tối mắt tối mũi, nhưng nể mặt tôi nói đỡ vài câu chắc cũng chịu gặp đấy."
Tôi nhìn xuống ly nước trên tay. Đá tan hết rồi, trông như cốc nước cống đục ngầu.
Cái này—giống một cuộc hành hương thật đấy, tôi chợt nghĩ.
Ôm tro cốt của Makita Shun, đi qua những vùng đất cũ kỹ. Không phải để tìm kiếm cái gì, mà chỉ để cầu nguyện và rải tro về với đất.
"...Vâng. Nhờ bác giúp cháu."
Tôi đáp lời, và chẳng hiểu sao Kunimoto-san lại thở phào nhẹ nhõm.
1 Bình luận