Translator: Kouji
✫ ✫ ✫
Sau nửa tiếng nghỉ ngơi, Chu Minh Thụy, người giờ đây đã tự nhận mình là Klein, mới lấy lại tinh thần. Lúc đó, anh phát hiện trên mu bàn tay phải xuất hiện bốn chấm đen, vừa vặn tạo thành một hình vuông nhỏ. Bốn chấm này chuyển từ đậm sang nhạt rồi nhanh chóng biến mất. Tuy vậy, Klein biết rõ chúng vẫn đang ẩn náu trong cơ thể mình, chờ đợi thời khắc được đánh thức.
“Bốn chấm hình vuông... tương ứng với bốn phần thức ăn đặt ở bốn góc? Sau này mình không cần chuẩn bị thức ăn nữa, chỉ cần bước chân và đọc thần chú là được?” Klein lờ mờ có một phỏng đoán.
Thoạt nghe thì có vẻ ổn. Thế nhưng việc cơ thể đột ngột xuất hiện dấu hiệu kỳ lạ không rõ nguồn gốc như vậy thực sự đáng sợ. Nghĩ đến Phương Thuật kỳ lạ từ thế giới cũ vẫn có tác dụng ở đây, đến chuyện xuyên không kỳ quặc trong giấc ngủ, đến thế giới sương xám bí ẩn với những ảo giác khó hiểu, đến vô số tiếng thì thầm khiến người ta suýt phát điên cứ quanh quẩn suốt nghi lễ... Klein không khỏi rùng mình và cảm thấy lạnh toát dù đang giữa tiết trời nóng bức cuối tháng Sáu.
Anh từng nghe rằng,“Cảm xúc cổ xưa và mạnh mẽ nhất của loài người là sợ hãi, còn nỗi sợ hãi cổ xưa và mạnh mẽ nhất chính là nỗi sợ những điều chưa biết.” Lúc này đây, anh đã thấm thía nỗi sợ những điều chưa biết ấy một cách sâu sắc.
Lần đầu tiên trong đời, anh cảm thấy không thể kiềm chế khát khao mãnh liệt muốn khám phá thế giới huyền bí, tìm hiểu sâu hơn và vén màn những điều chưa biết đến vậy; đồng thời lại nảy sinh ý nghĩ muốn vùi đầu trốn tránh và giả vờ như chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Lặng nhìn ánh nắng rực rỡ ngoài cửa sổ phủ lên bàn học một lớp bụi vàng óng, Klein như tìm thấy chút hơi ấm và hy vọng. Anh vừa thả lỏng người thì cơn mệt mỏi ập đến như triều dâng. Đêm thức trắng cùng cảm giác kiệt quệ khiến mí mắt anh nặng như chì, không ngừng díp lại.
Klein lắc đầu, vươn tay chống mép bàn. Anh lảo đảo tiến về phía giường tầng, không còn sức để dọn dẹp những ổ bánh mì đen đặt ở bốn góc nữa. Vừa chạm gối, anh đã chìm vào giấc ngủ say.
......
Ùng ục! Ùng ục! Cơn đói đánh thức Klein. Anh mở mắt ra, bỗng nhiên thấy đầu óc tỉnh táo, tinh thần sảng khoái.
“Đầu vẫn còn hơi đau.” Anh xoa trán, xoay người ngồi dậy, cảm thấy mình bây giờ có thể ăn hết cả một con bò.
Vừa vuốt nếp nhăn trên quần áo, anh vừa quay trở lại bàn học, cầm lấy chiếc đồng hồ quả quýt màu bạc có hoa văn dây leo.
Cạch! Cái nắp bật ra, tiếng tích tắc đều đặn vang lên.
“Mười hai giờ ba mươi. Mình đã ngủ hơn ba tiếng.” Klein nuốt nước bọt, bỏ chiếc đồng hồ vào túi áo sơ mi lanh.
Ở Lục địa Bắc, một ngày cũng được chia thành hai mươi tư giờ, một giờ sáu mươi phút, mỗi phút sáu mươi giây. Còn độ dài của mỗi giây có giống thế giới ban đầu hay không thì Klein không rõ. Vào lúc này, trong đầu Klein không còn chỗ cho những từ như thần bí học, nghi lễ hay thế giới sương xám nữa. Chuyện quan trọng nhất bây giờ là đồ ăn, đồ ăn! Ăn no mới có thể nghĩ ra biện pháp! Mới có thể làm việc được!
Không chút do dự, Klein nhặt nhạnh những ổ bánh mì lúa mạch đen từ bốn góc, phủi sạch bụi và định dùng một ổ làm bữa trưa. Vì quê anh vốn có tục lệ ăn đồ cúng sau khi thắp hương, mà bốn ổ bánh mì này trông chẳng khác gì so với trước, cộng thêm việc trong túi chỉ còn 5 Penny, nên anh nghĩ mình cần sống tiết kiệm hơn một chút. Đương nhiên, những ký ức và thói quen của nguyên chủ cũng góp phần ảnh hưởng đến quyết định này!
Vì khí đốt quá đắt, đến mức chỉ dùng để thắp sáng cũng khiến Klein thấy xót của, anh kéo bếp lò ra, bỏ thêm ít than rồi đi qua đi lại chờ nước sôi.
Loại bánh mì lúa mạch đen này mà ăn không thì nghẹn là cái chắc!
“Chậc, chẳng lẽ mình phải sống cuộc đời sáng ăn bánh mì đen, trưa ăn bánh mì đen, tối mới được ăn thịt sao… Không, nếu không phải do Melissa suy xét tới việc mình sắp phải đi phỏng vấn thì có khi một tuần chỉ được ăn thịt hai lần ấy chứ…” Rảnh rỗi và đói đến mức không thể nghĩ được gì nghiêm túc, Klein đảo mắt quanh phòng. Nghĩ tới một pao thịt cừu non, anh hau háu nhìn tủ bát.
“Không, không được. Mình phải chờ Melissa về ăn cùng.” Klein bỗng lắc đầu, bác bỏ ý nghĩ cắt một nửa ra nấu trước.
Là một người độc thân lưu lạc nơi đô thành, phần lớn thời gian anh đều ăn cơm ngoài, nhưng vẫn luyện được chút kỹ năng nấu nướng cơ bản. Không thể nói là ngon, song cũng tạm đủ dùng.
Klein quay người đi, định ngoảnh mặt làm ngơ, chợt nhớ ra sáng nay mình còn mua cả đậu ngọt và khoai tây!
Khoai tây! Một ý tưởng lóe lên trong đầu Klein. Anh lập tức quay người, chạy nhanh đến tủ bát, lấy ra hai củ từ số khoai tây ít ỏi. Mang khoai vào phòng tắm chung, anh rửa sạch vỏ rồi cho vào nồi luộc. Một lát sau, anh mở tủ gia vị, lấy hộp muối thô ngả vàng, rắc một chút vào nồi.
Sau vài phút kiên nhẫn chờ đợi, Klein nhấc ấm, rót nước canh vào những chiếc cốc và bát lớn, rồi gắp hai củ khoai tây đặt lên bàn. Phù! Anh bóc một chút vỏ, thổi nhẹ cho nguội. Mùi khoai tây chín từ từ lan tỏa, kích thích vị giác.
Nước miếng tứa ra. Klein không buồn bóc hết vỏ, cũng chẳng để ý khoai còn nóng, cầm lên và cắn ngay một miếng lớn.
Bở! Thơm! Ngọt! Lòng Klein tràn ngập xúc động. Anh ăn ngấu nghiến hai củ khoai, thậm chí chẳng thèm bỏ vỏ. Cuối cùng, anh bưng bát lên, uống một ngụm canh, để vị mặn nhẹ nhàng rửa trôi cảm giác khô khốc trong miệng.
“Hồi bé mình thích ăn thế này lắm...” Klein thầm nghĩ. Anh bẻ bánh mì đen ra, ngâm vào canh cho mềm rồi ăn. Có lẽ do nghi lễ trước đó đã tiêu hao quá nhiều sức lực, anh ăn hết hai ổ bánh mì nặng tới một pao.
Sau khi uống hết canh và dọn dẹp xong xuôi, Klein cảm thấy mình hoàn toàn sống lại, được tận hưởng niềm vui của cuộc sống và ánh nắng rạng rỡ.
Anh quay lại ngồi trước bàn học, bắt đầu suy nghĩ về những việc cần làm, “Không thể trốn tránh. Mình nhất định phải tìm cách tiếp cận thế giới huyền bí, trở thành Kẻ Phi Phàm mà 'Công Lý' và 'Người Treo Ngược' nhắc đến; chiến thắng nỗi sợ trước những điều chưa biết. Biện pháp duy nhất lúc này là chờ buổi tụ họp tiếp theo, xem có thể bàng thính Công Thức Ma Dược 'Khán Giả' hoặc những kiến thức thần bí khác hay không. Còn bốn ngày nữa mới đến thứ Hai. Trước đó, mình phải tìm hiểu rõ chuyện của nguyên chủ. Tại sao cậu ta lại tự sát? Chuyện gì đã xảy ra với cậu ta?”
Hiển nhiên, nguyên chủ có thói quen ghi chép và hay dùng sổ ghi chép làm nhật ký. Klein biết rõ điều đó, bởi ngăn tủ kê làm chân bàn bên phải chất đầy những cuốn sổ đã được viết kín chữ.
Quyển nhật ký này được sử dụng từ ngày 10 tháng 5. Phần đầu chủ yếu liên quan tới trường học, giáo viên cố vấn và tri thức.
『Ngày 12 tháng 5, thầy Azik nhắc đến việc ngôn ngữ chính của đế quốc Bailang ở Lục địa Nam bắt nguồn từ tiếng Feysac cổ, một nhánh thuộc ngôn ngữ của Người Khổng Lồ. Tại sao lại như vậy? Có phải tất cả các loài có trí tuệ từng sử dụng chung một ngôn ngữ hay không? Không, điều này nhất định là sai lầm. 'Sách Khải Huyền của Đêm' và 'Sách của Gió Bão' đều ghi lại rằng từ thời xa xưa, Người Khổng Lồ không phải là chủ nhân duy nhất của đại lục. Khi đó còn có cả Tinh Linh, Dị Chủng và Cự Long nữa. Thôi được rồi, mấy thứ đó chỉ là truyền thuyết, chuyện thần thoại mà thôi.
.....
Ngày 16 tháng 5, phó giáo sư thâm niên Cohen và thầy Azik thảo luận về tính tất yếu của Thời đại Hơi nước. Thầy Azik cho rằng chuyện này mang tính ngẫu nhiên. Nếu không có sự xuất hiện đột ngột của Roselle Đại đế, thì có lẽ Lục địa Bắc vẫn còn ở trong thời đại vũ khí lạnh như Lục địa Nam. Thầy hướng dẫn lại nói thầy Azik đánh giá quá cao vai trò cá nhân. Ông tin rằng với sự phát triển của thời đại, không có Roselle Đại đế thì cũng sẽ có Robert Đại đế. Tóm lại, Thời đại Hơi nước có thể đến muộn, nhưng chắc chắn sẽ đến. Cuộc tranh luận của họ chẳng có nghĩa lý gì với tôi. Tôi thích khám phá những điều chưa được phát hiện và khôi phục lại lịch sử bị phai mờ hơn. Đáng lẽ tôi nên học khoa Khảo cổ thay vì khoa Lịch sử.
......
Ngày 29 tháng 5, Welch nói với tôi về việc cậu ấy vừa kiếm được một cuốn bút ký từ Kỷ Thứ Tư. Ôi Nữ Thần! Một cuốn bút ký từ Kỷ Thứ Tư! Vì không muốn nhờ các bạn bên khoa Khảo cổ, cậu ấy muốn nhờ tôi và Naya giúp giải mã nội dung. Làm sao tôi có thể từ chối chứ? Đương nhiên, phải đợi sau khi bảo vệ đồ án tốt nghiệp đã. Lúc này tôi không thể phân tâm.』
Đọc đến đây, Klein cảm thấy tinh thần phấn chấn hơn hẳn. So với những ghi chép về lịch sử và các cuộc tranh luận trước đó, cuốn sổ tay đến từ Kỷ Thứ Tư vừa xuất hiện dường như là nguyên nhân dẫn đến cái chết của nguyên chủ. Kỷ Thứ Tư là thời kỳ diễn ra trước Kỷ nguyên Sắt Đen hiện tại. Lịch sử của thời kỳ này vẫn còn mơ hồ và nhiều thiếu sót. Ngay cả các lăng mộ, thành cổ hay văn bản khai quật cũng rất hiếm hoi. Các nhà sử học và khảo cổ học chỉ có thể dựa vào những cuốn kinh thư thần học được viết một cách mơ hồ nhằm phục vụ mục đích truyền bá đức tin của bảy Đại Giáo hội, để phác họa phần nào diện mạo ban đầu của thời kỳ này, bao gồm sự tồn tại của đế quốc Solomon, vương triều Tudor và đế chế Trunsoest.
“Chà, nghĩ lại thì nguyên chủ không nhất thiết phải coi trọng cuộc phỏng vấn và lo lắng cho sự nghiệp tương lai đến vậy...” Klein buột miệng cảm thán.
Hiện nay, số lượng trường đại học vẫn còn khá ít. Phần lớn sinh viên đều đến từ các gia đình quý tộc hoặc giàu có. Dù thường dân có thi đậu được vào đại học, họ vẫn bị kỳ thị vì thân phận và không thể hòa nhập vào các mối quan hệ xã hội thượng lưu. Tuy nhiên, miễn là bản thân không có tính cách quá cực đoan, họ có thể xây dựng được một số mối quan hệ thông qua các buổi thảo luận nhóm và hoạt động tập thể, và đó đều là những mối quan hệ vô cùng quý giá! Chẳng hạn như Welch McGovern, con trai của một chủ ngân hàng ở thành phố Constant thuộc quận Gian Hải, vương quốc Loen. Cậu ta có tính cách hào sảng và rộng rãi trong chi tiêu. Do luôn được xếp chung nhóm làm bài tập với Klein và Naya, Welch đã hình thành thói quen nhờ vả hai người.
Không suy nghĩ lan man thêm nữa, Klein tiếp tục đọc ghi chép.
『Ngày 18 tháng 6, tôi đã tốt nghiệp. Tạm biệt, đại học Khoy thân yêu của tôi ơi!
Ngày 19 tháng 6, tôi đã xem qua cuốn sổ đó. Sau khi so sánh cấu trúc và nguồn gốc từ ngữ, tôi phát hiện nó được viết bằng một dạng biến thể của tiếng Feysac cổ. Thực ra, tiếng Feysac cổ đã liên tục thay đổi từng chút một trong suốt hơn một ngàn năm lịch sử.
Ngày 20 tháng 6, chúng tôi đã giải mã được nội dung trang đầu tiên. Tác giả là thành viên của một gia tộc có tên “Antigonus”.
Ngày 21 tháng 6, ông ta nhắc đến “Hắc Hoàng Đế”. Điều này hoàn toàn trái ngược với những suy đoán trước đây về thời đại này. Chẳng lẽ quan điểm của thầy hướng dẫn là sai? “Hắc Hoàng Đế” thực chất là danh hiệu chung của tất cả các hoàng đế thuộc đế quốc Solomon?
Ngày 22 tháng 6, gia tộc Antigonus có vẻ giữ địa vị cao trong đế quốc Solomon. Chủ nhân cuốn sổ còn nhắc đến việc mình đang thực hiện một giao dịch bí mật với người tên Tudor. Tudor? Có phải là vương triều Tudor không?
Ngày 23 tháng 6, tôi cố ép mình không nghĩ về cuốn sổ đó và không đến chỗ Welch nữa. Tôi cần tập trung chuẩn bị cho buổi phỏng vấn! Đây là chuyện rất quan trọng!
Ngày 24 tháng 6, Naya báo với tôi rằng họ đã có những phát hiện mới. Tôi nghĩ mình nên đến xem thử.
Ngày 25 tháng 6, theo nội dung mới được giải mã, chủ nhân cuốn sổ đã nhận nhiệm vụ đến đỉnh chính của dãy núi Hornacis để viếng thăm 'Vương quốc Đêm' nằm trên đỉnh núi. Ôi Nữ Thần! Đỉnh chính của Hornacis cao hơn sáu nghìn mét. Làm sao có quốc gia nào tồn tại ở nơi đó được? Họ sống sót bằng cách nào chứ?
Ngày 26 tháng 6, những thứ kỳ quái này đều là thật sao?』
Ghi chép đến đây là kết thúc. Rạng sáng ngày 28 tháng 6, Chu Minh Thụy xuyên không đến nơi này.
Klein lật lại trang mà mình nhìn thấy lúc đầu, rùng mình kết luận, “Nói cách khác, ghi chép ngày 27 tháng 6 thực ra vẫn có. Chính là câu ‘Tất cả mọi người rồi sẽ chết, kể cả tôi’…”
Để giải mã bí ẩn về vụ tự sát của nguyên chủ, anh cảm thấy mình cần phải ghé thăm Welch và xem lại nội dung của cuốn sổ cổ kia. Nhưng với vốn kinh nghiệm dồi dào từ tiểu thuyết, phim điện ảnh và phim truyền hình, anh linh cảm rằng một khi đặt chân đến đó và phát hiện vụ việc thực sự liên quan đến cuốn sổ tay cổ, mình có thể sẽ đối mặt với những hiểm nguy không lường trước được. Những kẻ biết rõ lâu đài có ma mà vẫn liều lĩnh đi vào chính là bài học cảnh tỉnh!
Không đi cũng không được. Trốn tránh sẽ chẳng bao giờ giải quyết được vấn đề. Nó chỉ khiến mọi thứ ngày càng chồng chất, như nước dâng sau đê vỡ, cuối cùng cuốn phăng tất cả và nhấn chìm bản thân mình!
Báo cảnh sát ư? Không thể nói là mình đã tự sát được…
Cốc! Cốc, cốc! Tiếng đập cửa mạnh mẽ và dồn dập bất ngờ vang lên.
Klein bỗng ngồi thẳng người, vểnh tai lắng nghe.
Cốc! Cốc, cốc! Những tiếng gõ vang vọng trong hành lang vắng lặng.
“Ai đấy?”
Klein đang suy nghĩ về vụ tự tử đầy bí ẩn của nguyên chủ và những mối nguy hiểm khó lường có thể xảy đến thì nghe thấy tiếng gõ cửa bất ngờ. Theo phản xạ, anh rút khẩu súng ổ xoay từ ngăn kéo rồi cất tiếng hỏi với vẻ cảnh giác.
Ngoài cửa yên lặng chừng hai giây trước khi một giọng nói hơi the thé mang khẩu âm Ahova trả lời, “Tôi. Mountbatten. Beech Mountbatten.” Người kia dừng lại một chút, sau đó nói thêm. “Cảnh sát.”
Khi cái tên Beech Mountbatten lọt vào tai, Klein lập tức nhớ ra người đàn ông gắn liền với nó. Đó là một trong những cảnh sát phụ trách khu phố này. Một kẻ dã man, thô lỗ và rất thích dùng vũ lực. Tuy nhiên, có lẽ chỉ những người như thế mới đủ sức răn đe bọn say xỉn, trộm cắp và lũ ác ôn, côn đồ. Mà giọng nói độc đáo kia là một trong những đặc trưng của gã.
“Được rồi. Tôi đến ngay đây!” Klein nói to.
Anh định ném khẩu súng lục trở lại ngăn kéo, nhưng rồi nghĩ đến việc không rõ cảnh sát đến vì chuyện gì, cũng như khả năng họ sẽ khám xét. Suy tính cẩn thận, anh nhanh chóng bước tới bên bếp lò đã nguội từ lâu, đặt khẩu súng vào bên trong. Sau đó, anh rắc một ít than từ giỏ lên trên để che giấu và đặt chiếc ấm nước lên trên cùng.
Chuẩn bị xong xuôi, anh sửa sang quần áo, sải bước đến cửa, vừa mở cửa vừa nói giọng ngái ngủ, “Xin lỗi. Tôi vừa mới ngủ trưa.”
Đứng ngoài cửa là bốn cảnh sát mặc đồng phục ca rô đen trắng, đội mũ kê pi gắn huy hiệu. Beech Mountbatten, người có chòm râu quai nón màu nâu vàng, khẽ ho một tiếng rồi nói với Klein, “Ba vị cảnh sát này có chuyện muốn hỏi anh.”
Cảnh sát? Klein theo phản xạ liếc nhìn phù hiệu trên vai của ba người kia. Anh thấy hai người đeo ba ngôi sao sáu cánh bằng bạc, một người đeo hai ngôi sao. So với Beech Mountbatten chỉ có ba dấu V trên vai, những cấp hiệu này rõ ràng cao cấp hơn nhiều. Là sinh viên khoa Lịch sử, Klein không biết nhiều về cấp bậc trên phù hiệu của cảnh sát. Anh chỉ biết Beech Mountbatten luôn khoe mình là một trung sĩ kỳ cựu.
Vậy ba người này là thanh tra? Do ảnh hưởng từ các cuộc trò chuyện với anh cả Benson và bạn học như Welch, Klein vẫn có chút thường thức. Anh lùi sang một bên, chỉ vào trong phòng, “Mời vào. Xin hỏi các vị cần gì?”
Người đứng trước ba vị cảnh sát là một người đàn ông trung niên với ánh mắt sắc bén như có thể nhìn thấu tâm can và khiến người ta không khỏi sợ hãi. Nếp nhăn nơi khóe mắt ông khá rõ rệt, mái tóc nâu nhạt lộ ra dưới vành mũ. Ông vừa thản nhiên quan sát căn phòng vừa trầm giọng hỏi, “Cậu có biết Welch McGovern không?”
“Cậu ấy bị sao rồi?” Tim Klein giật thót, anh buột miệng hỏi lại.
“Tôi đang hỏi cậu đấy.” Ánh mắt lạnh lẽo của viên cảnh sát trung niên toát lên vẻ uy nghiêm.
Viên cảnh sát cũng đeo phù hiệu ba ngôi sao đứng cạnh ông mỉm cười bảo Klein, “Không cần căng thẳng thế đâu, chúng tôi chỉ hỏi thăm theo thông lệ mà thôi.” Người này trạc ba mươi tuổi, sống mũi cao thẳng, đôi mắt màu xám mang đến cho người ta cảm giác sâu thẳm khó tả, tựa như một hồ nước không ai biết ẩn sâu trong rừng già.
Klein âm thầm hít một hơi, sắp xếp lời nói và nói, “Nếu ông đang nói đến sinh viên tốt nghiệp đại học Khoy, Welch McGovern đến từ Conston thì đúng là tôi có biết. Chúng tôi là bạn học, có cùng một thầy hướng dẫn, phó giáo sư thâm niên Quentin Cohen.”
Tại vương quốc Loen, giáo sư không chỉ là một chức danh mà còn là một chức vụ, giống như chức vụ của giáo sư và trưởng khoa ở Trái Đất được kết hợp làm một vậy. Nói cách khác, mỗi khoa trong trường đại học chỉ có thể có một giáo sư. Nếu phó giáo sư muốn được thăng chức thì phải chờ cấp trên của mình về hưu, hoặc dùng thực lực để thay thế vị trí của đối phương.
Do nhu cầu giữ chân nhân tài, sau nhiều năm tìm giải pháp, Ủy ban giáo dục đại học của vương quốc đã bổ sung thêm chức danh phó giáo sư thâm niên vào hệ thống ba cấp gồm giảng viên, phó giáo sư và giáo sư. Chức danh này được trao cho những người có trình độ học thuật cao hoặc có nhiều năm kinh nghiệm nhưng không thể trở thành giáo sư.
Nói đến đây, Klein nhìn vào mắt viên cảnh sát trung niên, suy nghĩ trong một giây rồi nói, “Thực ra thì mối quan hệ của chúng tôi khá tốt. Trong khoảng thời gian này, tôi, Welch và Naya thường xuyên gặp nhau để giải mã và thảo luận về một cuốn sổ tay có từ Kỷ Thứ Tư mà cậu ấy tìm được. Thưa ngài, cậu ấy gặp phải chuyện gì sao?”
Thay vì trả lời, viên cảnh sát trung niên nghiêng đầu nhìn người đồng nghiệp mắt xám.
Viên cảnh sát có vẻ ngoài bình thường, đôi mắt xám và chiếc mũ kê pi gắn huy hiệu nhã nhặn đáp, “Tôi rất tiếc khi phải thông báo rằng cậu Welch đã qua đời.”
“Sao có thể như vậy?” Dù đã có linh cảm, Klein vẫn không khỏi thốt lên kinh ngạc. Welch cũng kết liễu cuộc đời như nguyên chủ? Thật kinh khủng!
“Còn Naya thì sao?” Klein vội vàng truy vấn.
“Cô Naya cũng mất rồi.” Viên cảnh sát mắt xám bình tĩnh nói. “Hai người họ đều chết ở nhà cậu Welch.”
“Bị giết?” Klein lờ mờ đoán được điều gì đó. Hoặc có lẽ là tự...
Viên cảnh sát mắt xám lắc đầu, “Không. Dấu vết tại hiện trường cho thấy họ đã tự tử. Cậu Welch đập đầu vào tường nhiều lần đến mức cả bức tường dính đầy máu; còn cô Naya thì tự dìm chết mình trong một chậu nước... À, là loại chậu rửa mặt ấy.”
“Không thể nào…” Klein cảm thấy tóc gáy dựng đứng khi nghe những lời ấy. Anh dường như có thể tưởng tượng ra cảnh tượng quỷ dị kia. Naya quỳ trên ghế, khuôn mặt vùi vào chậu rửa đầy nước, mái tóc nâu mềm mại buông thõng đung đưa theo làn gió, cơ thể hoàn toàn bất động. Welch thì nằm sõng soài trên sàn, đôi mắt mở to trừng trừng nhìn lên trần, trán vỡ nát, máu me bê bết, trên tường là vô số vết va đập đầm đìa máu.
Khóe miệng viên cảnh sát mắt xám khẽ giật trước khi nói, “Chúng tôi cũng nghĩ như vậy. Nhưng kết quả khám nghiệm tử thi và tình huống ở hiện trường đã loại trừ các khả năng liên quan tới thuốc và ngoại lực. Bọn họ, ý tôi là cậu Welch và cô Naya, không có dấu hiệu phản kháng nào.”
Không đợi Klein đáp lại, ông bước vào phòng, giả vờ hỏi một cách bâng quơ, “Lần cuối cậu gặp cậu Welch và cô Naya là khi nào?”
Vừa nói, ông vừa trao đổi ánh mắt với người đồng nghiệp đeo hai ngôi sao bạc. Đó là một viên cảnh sát trẻ tầm tuổi Klein. Anh ta có tóc mai màu đen, mắt màu xanh lục, gương mặt ưa nhìn và khí chất lãng mạn tựa như một nhà thơ.
Nghe câu hỏi đó, Klein nhanh chóng sắp xếp suy nghĩ và đáp, “Chắc là ngày 26 tháng 6. Chúng tôi đã cùng nhau giải mã một đoạn mới trong cuốn sổ tay. Sau đó, tôi trở về nhà để chuẩn bị cho cuộc phỏng vấn ngày 30... À, là phỏng vấn vào khoa Lịch sử của đại học Tingen.”
Thành phố Tingen được gọi là thành phố của các trường đại học. Nơi đây có hai trường đại học là Tingen và Khoy, cùng với trường Kỹ thuật, học viện Luật sư và học viện Thương mại. Về số lượng cơ sở học thuật, thành phố này chỉ đứng sau thủ đô Backlund.
Vừa dứt lời, khóe mắt anh bắt gặp viên cảnh sát trẻ đi đến bàn học, cầm lên cuốn sổ trông giống như nhật ký.
Gay rồi! Mình quên không giấu nó đi! Klein vội vã kêu một tiếng, “Này!”
Viên cảnh sát trẻ mỉm cười đáp lại anh trong khi vẫn tiếp tục lật giở cuốn sổ. Viên cảnh sát mắt xám giải thích, “Đây là thủ tục bắt buộc.”
Lúc này, Beech Mountbatten cùng viên cảnh sát trung niên có dáng vẻ nghiêm nghị chỉ đứng nhìn ở bên cạnh, không xen vào cũng không tham gia vào cuộc lục soát.
Lệnh khám xét của các người đâu? Klein vốn định hỏi như vậy. Nhưng nghĩ kỹ lại thì hệ thống tư pháp của vương quốc Loen dường như chưa phát triển đến mức có khái niệm về lệnh khám xét. Ít nhất thì anh cũng chưa từng nghe đến điều đó. Suy cho cùng, lực lượng cảnh sát mới chỉ được thành lập khoảng mười lăm hay mười sáu năm trước. Khi nguyên chủ còn nhỏ, chức vụ này vẫn được gọi là quan trị an.
Klein không thể ngăn cản, chỉ có thể trơ mắt nhìn viên cảnh sát trẻ nhanh chóng lật giở cuốn sổ ghi chép của mình. Viên cảnh sát mắt xám thì không hỏi thêm câu nào nữa.
“Thứ kỳ quái là thứ gì vậy?” Viên cảnh sát trẻ bất chợt hỏi khi lật đến trang cuối cùng. “Chưa hết, câu này có nghĩa là gì? ‘Tất cả mọi người rồi sẽ chết, kể cả tôi’…”
Ngoại trừ thần linh thì ai mà chẳng phải chết? Đó chẳng phải là lẽ thường tình sao? Klein vốn định giảo biện. Đột nhiên, anh nhớ ra rằng mình đã định liên hệ với cảnh sát để đề phòng trường hợp gặp nguy hiểm, chỉ là chưa tìm được lý do hay cái cớ nào phù hợp. Trong chớp mắt, anh đã đưa ra quyết định, giơ tay che trán và trả lời bằng giọng đầy đau đớn, “Tôi không biết. Tôi thực sự không biết nữa… Sau khi thức dậy vào sáng nay, tôi đã cảm thấy mình không ổn, như thể đã quên mất một vài chuyện. Nhất là mấy chuyện xảy ra gần đây. Tôi thậm chí không biết tại sao mình lại viết ra câu đó nữa.”
Đôi khi, sự thẳng thắn lại là cách hiệu quả nhất để giải quyết vấn đề. Tuy nhiên, nó cũng đòi hỏi kỹ thuật. Một mặt cần biết điều gì nên nói và điều gì không nên nói; mặt khác là cách trình bày và thứ tự sắp xếp lời nói sao cho hợp lý. Là một 'chuyên gia bàn phím', Klein từng tìm hiểu về kỹ năng giao tiếp này.
“Vớ vẩn! Anh nghĩ chúng tôi ngốc chắc?” Beech Mountbatten tức tối ngắt lời. Gã thật sự không thể chịu nổi nữa. Lời nói dối vụng về này chẳng khác nào đang xúc phạm trí thông minh của bọn họ! Thà mi giả điên còn dễ chấp nhận hơn giả vờ mất trí nhớ!
“Thật mà.” Klein thản nhiên đáp lại ánh mắt của Mountbatten và viên cảnh sát trung niên.
Chuyện này thật đến mức không thể thật hơn.
“Có lẽ là thật.” Lúc này, viên cảnh sát mắt xám chậm rãi mở miệng.
Hả? Ông ta tin thật sao? Klein không khỏi kinh ngạc.
Viên cảnh sát mắt xám mỉm cười nhìn anh rồi nói, “Hai ngày nữa sẽ có một vị chuyên gia đến đây. Tin tôi đi, cô ấy chắc chắn sẽ giúp cậu tìm về những ký ức đã mất.”
Chuyên gia? Giúp tìm về ký ức? Lĩnh vực tâm lý học sao? Klein nhíu mày. Í, nếu mình để lộ ra ký ức ở Trái Đất thì phải làm sao bây giờ? Nghĩ đến đây, anh bỗng cảm thấy ê răng.
Viên cảnh sát trẻ đặt cuốn sổ ghi chép xuống rồi bắt đầu lục soát bàn làm việc và cả căn phòng. May mà anh ta chỉ chú ý đến các cuốn sách chứ không động vào chiếc ấm trà.
“Được rồi, cậu Klein. Cảm ơn vì đã hợp tác. Tốt nhất là cậu không nên rời khỏi thành phố Tingen trong vài ngày tới. Nếu buộc phải đi đâu thì hãy báo trước cho cảnh sát Mountbatten một tiếng, nếu không cậu sẽ bị coi là đào phạm đấy.” Cuối cùng, viên cảnh sát mắt xám lên tiếng dặn dò.
Vậy là hết rồi sao? Hôm nay chỉ đến đây thôi à? Không hỏi thêm gì, không điều tra gì nữa? Không bắt mình về đồn để tra hỏi sao? Klein ngạc nhiên nghĩ thầm.
Có điều, anh cũng muốn giải quyết chuyện kỳ lạ mà Welch gây ra, bèn gật đầu nói, “Không thành vấn đề.”
Nhóm cảnh sát lần lượt rời khỏi căn phòng. Người trẻ tuổi đi cuối cùng bất ngờ vỗ vai Klein và nói, “Tốt quá nhỉ. May thật đấy.”
“Hả?” Klein trông có vẻ bối rối trước lời nói ấy.
Viên cảnh sát mắt xanh có khí chất nhà thơ khẽ cười, “Thông thường thì những ai gặp phải chuyện này đều không qua khỏi. Chúng tôi rất vui và cũng thật may mắn khi thấy anh vẫn còn sống.” Nói xong, anh ta bước ra và nhẹ nhàng đóng cửa lại một cách lịch sự.
Thường thì mọi người đều chết hết? Cảm thấy vui vì mình còn sống? Cảm thấy may mắn vì biết mình vẫn sống?
Ngay giữa chiều tháng Sáu, Klein lại cảm thấy lạnh toát cả người.
Anh rùng mình rồi vội chạy ra cửa, định đuổi theo nhóm cảnh sát để tìm kiếm sự bảo vệ. Nhưng vừa chạm vào nắm cửa, anh bất chợt khựng lại.
Nếu chuyện này thực sự đáng sợ như lời viên cảnh sát kia nói thì tại sao họ không đề nghị bảo vệ một nhân chứng quan trọng như mình? Điều này chẳng phải quá sơ suất sao? Là họ đang thăm dò hay cố tình thả mồi nhử?
Hàng loạt suy nghĩ giằng xé trong đầu Klein khiến anh nghi ngờ rằng nhóm cảnh sát có thể đang bí mật giám sát và theo dõi phản ứng của mình.
Nghĩ tới đây, nội tâm anh bình tĩnh hơn rất nhiều, không còn hoảng loạn hay sợ hãi như trước. Anh chậm rãi mở cửa, cố tình run giọng hét về phía cầu thang, “Mấy người sẽ bảo vệ tôi, đúng không?”
Cộp, cộp, cộp! Nhóm cảnh sát không đáp lại. Tiếng giày da gõ đều trên cầu thang gỗ vẫn vang lên nhịp nhàng.
“Tôi biết mà, mấy người chắc chắn sẽ làm vậy!” Klein lại hét lên lần nữa với giọng giả vờ tin tưởng, cố tỏ ra giống một người bình thường đối mặt với nguy hiểm.
Tiếng bước chân nhỏ dần rồi biến mất ở tầng trệt của khu nhà trọ.
Klein khịt mũi, cười nhạo trong lòng. Phản ứng giả tạo thế? Diễn dở tệ!
Thay vì chạy theo họ, anh quay trở lại phòng và tiện tay khép cửa lại.
Trong vài giờ tiếp theo, Klein liên tục thể hiện đủ mọi trạng thái, từ lo âu, căng thẳng đến đứng ngồi không yên. Thỉnh thoảng, anh còn lẩm nhẩm những câu nói không rõ nghĩa của Đất Nước Tham Ăn. Dù xung quanh chẳng có ai, anh cũng không hề giảm bớt yêu cầu với chính mình. Đây chính là phẩm chất cần có của một diễn viên! Klein tự giễu trong lòng.
Mãi tới khi hoàng hôn buông xuống, những áng mây nhuốm sắc đỏ rực và cư dân trong khu chung cư lần lượt trở về, Klein mới chuyển sự chú ý của mình sang chuyện khác.
“Tầm này chắc Melissa tan học rồi…”
Anh hướng mắt về phía bếp lò, nhấc ấm nước lên, gạt than sang một bên rồi lấy ra khẩu súng lục ổ xoay. Dứt khoát và nhanh gọn, anh luồn tay vào khe hở phía sau tấm ván giường tầng dưới, nơi có chừng mười thanh gỗ chéo nhau tạo thành giàn chống. Sau khi nhét khẩu súng lục vào khe giữa thanh gỗ và tấm ván, Klein đứng thẳng người, lòng thấp thỏm chờ đợi. Anh sợ rằng cảnh sát sẽ bất ngờ đạp cửa xông vào với súng trên tay.
Nếu là thời đại hơi nước bình thường, anh dám chắc hành vi vừa rồi sẽ không bị ai nhìn thấy. Tuy nhiên, nơi này lại có lực lượng siêu phàm, một thứ sức mạnh mà anh đã tự mình kiểm chứng.
Vài phút trôi qua, cánh cửa vẫn im lìm. Bên ngoài chỉ vọng lại tiếng trò chuyện lúc gần lúc xa của hai người khách trọ hẹn nhau đến quán rượu "Trái Tim Hoang Dã" trên phố Chữ Thập Sắt.
“Hà.” Klein thở phào nhẹ nhõm, cảm thấy tim mình đã trở lại vị trí bình thường.
Giờ chỉ còn chờ Melissa về để nấu món thịt cừu hầm đậu ngọt thôi!
Vừa nghĩ đến đó, Klein có cảm tưởng như hương vị nước thịt đang tràn ngập trong miệng. Anh cũng nhớ lại cách Melissa nấu món thịt cừu non hầm đậu ngọt, đầu tiên là chần thịt qua nước sôi, thêm hành tây, muối, một chút tiêu và nước vào hầm một lúc rồi cho đậu ngọt và khoai tây vào, sau đó ninh thêm khoảng bốn đến năm mươi phút.
“Thật là cách làm quá đơn giản, quá thô sơ! Hương vị hoàn toàn phụ thuộc vào độ ngon của thịt.” Klein không khỏi lắc đầu.
Nhưng biết làm sao được. Gia đình bình dân đâu có đủ loại gia vị hay công thức cầu kỳ. Họ chỉ có thể chọn cách làm đơn giản, thiết thực và tiết kiệm. Đối với những người mỗi tuần chỉ được ăn thịt một đến hai lần, thì miếng thịt không bị cháy hay hỏng là tốt lắm rồi.
Dẫu Klein không giỏi nấu nướng, lại thường xuyên đi ăn ngoài, nhưng anh vẫn đứng bếp ba đến bốn lần mỗi tuần. Nhờ làm nhiều thành quen, kỹ năng nấu nướng của anh đã đạt đến mức tạm ổn. Vì vậy, anh quyết tâm không để lãng phí một pao thịt cừu non này.
“Nếu chờ Melissa về rồi mới bắt đầu thì chắc phải sau bảy rưỡi mới xong! Con bé sẽ đói xỉu mất thôi. Đã đến lúc cho em ấy thấy tài nấu nướng thực sự rồi!” Klein tự tìm cho mình một lý do. Anh nhóm lại lửa trong lò rồi đến phòng tắm chung để lấy nước. Đoạn, anh đặt thịt cừu rửa sạch lên thớt, vung dao phay, chặt thành từng miếng nhỏ trong tiếng cộp cộp đều đặn.
Klein đã nghĩ sẵn một lý do để giải thích việc mình bất ngờ biết nấu ăn. Đó là đổ hết cho Welch McGovern quá cố. Người bạn học này không chỉ thuê một đầu bếp am hiểu các món đặc sản Gian Hải mà còn hay tự tay chế biến những món ngon để mời bạn bè thưởng thức. Ừm, người đã khuất thì làm sao mà phản bác được chứ!
Nhưng mà... Í da, thế giới này còn có Kẻ Phi Phàm. Ai dám khẳng định người chết không thể mở miệng đây… Ý nghĩ đó khiến Klein hơi chột dạ. Gạt những suy nghĩ vẩn vơ sang một bên, anh cho thịt cùng một thìa rưỡi muối thô đã ngả màu vàng vào tô. Tiếp đó, anh cẩn thận rắc thêm chút hạt tiêu đen từ chiếc lọ chuyên dụng, trộn đều với thịt rồi để ướp một lát cho thấm gia vị.
Klein bắc nồi hầm lên bếp. Trong lúc chờ nồi nóng, anh lục tìm cà rốt thừa từ hôm qua rồi xắt nhỏ chúng cùng hành tây mới mua. Làm xong công đoạn chuẩn bị, anh lấy một chiếc lọ nhỏ đựng chút mỡ heo còn lại từ tủ bếp, múc một muôi cho vào nồi. Khi mỡ tan hết, anh trút hành tây và cà rốt vào xào qua. Đợi đến khi mùi thơm lan tỏa, Klein mới cho thịt cừu non vào chiên sơ.
Lẽ ra món này phải có thêm chút rượu vang hoặc ít nhất là rượu nấu ăn. Nhưng nhà Moretti làm gì có những thứ xa xỉ như vậy. Benson mỗi tuần cũng chỉ được uống một ly bia mà thôi. Klein đành liệu cơm gắp mắm, đổ ít nước sôi vào và nấu theo cách đơn giản nhất. Hai mươi phút sau, anh mở nắp, thêm đậu ngọt non, khoai tây thái nhỏ, một cốc nước nóng và hai thìa muối.
Đậy nắp lại, giảm nhỏ lửa, Klein thở ra một hơi mãn nguyện rồi chờ em gái trở về.
Từng giây từng phút trôi qua, hương thơm trong phòng càng lúc càng nồng đượm. Không chỉ có mùi thịt hấp dẫn và khoai tây bùi bùi mà còn thoang thoảng hương hành tây dịu nhẹ. Từng tầng hương vị hòa quyện vào nhau. Klein thỉnh thoảng lại nuốt nước bọt, mở nắp đồng hồ quả quýt để xem giờ.
Hơn bốn mươi phút sau, tiếng bước chân đều đều nhưng hơi nặng nề tiếp cận cánh cửa. Chìa được tra vào ổ. Tay nắm cửa chuyển động. Cánh cửa phòng mở ra.
“Thơm quá...” Đứng ở ngưỡng cửa, Melissa lẩm bẩm đầy ngạc nhiên. Em cầm túi xách tiến vào phòng, mắt liếc qua bếp lò.
“Anh nấu?” Melissa đang cởi chiếc mũ có mạng che mặt thì khựng lại, kinh hãi nhìn Klein.
Em chun mũi, hít thêm mùi hương, ánh mắt thoáng dịu lại như thể vừa nhen nhóm được một chút tin tưởng
“Anh nấu à?” Em nghi ngờ hỏi lại.
“Em sợ anh lãng phí thịt cừu hay sao?” Klein cười đáp. Không đợi câu trả lời, anh nói luôn. “Đừng lo. Anh đã nhờ Welch dạy riêng cho mình món này rồi. Em biết đấy. Nhà cậu ta có một đầu bếp giỏi mà.”
“Đây là lần đầu tiên anh nấu nhỉ?” Chân mày Melissa bất giác nhăn lại trước khi được hương thơm vuốt phẳng.
“Có lẽ anh rất có thiên phú.” Klein cất tiếng cười. “Sắp xong rồi. Em đi cất đồ với rửa tay đi. Chờ thưởng thức là được, anh đảm bảo.”
Trước sự sắp xếp đâu ra đấy cùng nụ cười hiền hòa của anh trai, Melissa đứng chôn chân tại cửa, không biết phải phản ứng như thế nào.
“Em thích hầm nhừ hơn một chút không?” Klein lại cười, giục một câu.
“À, vâng... vâng ạ!” Melissa như bừng tỉnh, tay nhấc túi, tay cầm mũ rồi hấp tấp chạy vào phòng trong.
Klein mở nắp vung, làn hơi nóng lập tức tỏa ra trước mặt anh. Hai lát bánh mì lúa mạch đen đặt cạnh thịt cừu và đậu ngọt đã thấm đẫm hương vị cùng hơi ấm. Giờ đây, chúng trở nên mềm mại và xốp hơn hẳn.
Sau khi cất đồ và vệ sinh cá nhân, Melissa quay lại phòng. Trên bàn lúc này đã dọn sẵn món thịt cừu non hầm cùng đậu ngọt, khoai tây, cà rốt và hành tây trong một đĩa lớn. Bên cạnh là hai lát bánh mì đen thấm đẫm nước thịt được đặt ngay ngắn trong từng chiếc đĩa riêng.
“Lại đây, ăn thử xem.” Klein chỉ chiếc dĩa và muôi gỗ đặt cạnh đĩa.
Dù còn chút ngỡ ngàng, Melissa không từ chối. Em cầm nĩa, xiên một miếng khoai tây rồi đưa lên miệng, cắn thử một miếng nhỏ. Khoai tây vừa bở vừa dẻo, lại thấm đẫm hương vị đậm đà của nước thịt khiến em không kìm được cơn thèm. Vèo một cái, miếng khoai đã xuống bụng.
“Ăn cả thịt nữa đi.” Klein hất cằm ra hiệu.
Khi nếm thử, anh thấy mùi vị chỉ ở mức tạm được. Nhưng với một cô bé chưa trải sự đời và hiếm khi được ăn thịt thì như vậy là quá đủ rồi!
Ánh mắt Melissa ánh lên sự mong chờ. Em cẩn thận xiên một miếng thịt cừu. Thịt được hầm nhừ, vừa vào miệng đã mềm tan như thể sắp chảy, để lại vị nguyên bản bùng nổ cùng nước sốt thơm ngon chảy tràn trong khoang miệng. Trải nghiệm tuyệt vời chưa từng có ấy khiến em không thể ngừng lại. Mãi một lúc sau, em mới nhận ra mình đã ăn mất mấy miếng.
“Em… em… Klein, cái này là cho anh…” Mặt Melissa lập tức đỏ lựng, lời nói cũng vấp váp.
“Anh ăn trước rồi. Đặc quyền của đầu bếp mà.” Klein mỉm cười trấn an em gái, rồi cầm nĩa và thìa lên. Anh khi thì xiên một miếng thịt, lúc lại nhai vài hạt đậu ngọt, thỉnh thoảng đặt thìa nĩa xuống để xé một miếng bánh mì đen, nhúng vào nước dùng trước khi ăn.
Melissa thả lỏng người. Bị cuốn theo sự bình thản của Klein, em tiếp tục đắm chìm trong hương vị tuyệt vời.
“Ngon thật đấy. Em không thể nhận ra đây là lần đầu tiên anh vào bếp.” Melissa liếc nhìn chiếc đĩa sạch bóng trước mặt, rồi cất lời khen ngợi từ tận đáy lòng.
“So với đầu bếp của Welch thì anh còn kém xa. Khi nào có tiền, anh sẽ mang em và Benson đi ăn ở nhà hàng ngon!” Klein nói trong khi bắt đầu mường tượng ra cảnh đó.
“Buổi phỏng vấn của anh... ợ...” Còn chưa nói hết câu, Melissa đột nhiên phát ra một tiếng ợ thỏa mãn. Em cuống quýt đưa tay che miệng với vẻ ngượng ngùng không thôi.
Tại món thịt cừu hầm đậu ngọt kia quá ngon!
Klein cười thầm. Anh tự nhủ không nên chọc ghẹo em gái mình, bèn chỉ đĩa nói, “Nhiệm vụ của em đó.”
“Vâng!” Melissa vội vội vàng vàng đứng dậy, cầm đĩa lao ra cửa.
Rửa bát xong, em mở tủ và kiểm tra các hộp gia vị cùng vật dụng bên trong như thường lệ.
“Nãy anh đã dùng cái này sao?” Melissa kinh ngạc thốt lên. Em quay đầu nhìn Klein, tay cầm lọ tiêu đen và bình mỡ lợn.
Klein cười, vừa xòe tay vừa đáp, “Anh dùng một chút thôi. Đây là cái giá của đồ ăn ngon.”
Melissa chớp mắt, biểu cảm thay đổi xoành xoạch. Cuối cùng, em mím môi bảo, “Sau này cứ để em nấu đi. Ừ… Anh phải tập trung chuẩn bị cho buổi phỏng vấn và cân nhắc công việc tương lai mà.”
Em à, chúng ta đừng vạch áo cho người xem lưng được không... Khi Klein chửi thầm trong bụng, cơn đau đầu lại ập đến.
Nguyên chủ đã quên kha khá kiến thức, ngày mốt là buổi phỏng vấn rồi, thời gian đâu mà bù lại đây… Huống hồ, một người đang mắc kẹt trong những sự kiện kỳ lạ và kinh hoàng như mình thì làm gì có tâm trí để ôn tập chứ…
Sau khi nói vài câu lấy lệ với em gái, Klein bắt đầu giả vờ học bài. Melissa chuyển ghế tới cạnh anh, mượn ánh đèn khí để làm bài tập.
Bầu không khí yên tĩnh và thanh bình. Gần mười một giờ, hai anh em chúc nhau ngủ ngon rồi trở về giường mình.
Cốc! Cốc, cốc! Tiếng gõ cửa vang lên, kéo Klein ra khỏi giấc mộng. Anh lơ mơ nhìn tia nắng ban mai hắt qua cửa sổ, rồi trở mình ngồi dậy, “Ai đấy?
Mấy giờ rồi? Sao Melissa không gọi mình dậy nhỉ?
“Tôi, Dunn Smith đây.” Một giọng nam điềm tĩnh vang lên.
Dunn Smith? Không quen biết... Klein lắc đầu, xuống giường và đi đến cửa.
Anh mở cửa, trông thấy viên cảnh sát mắt xám hôm qua.
“Có chuyện gì vậy?” Klein cảnh giác hỏi.
Viên cảnh sát mắt xám nghiêm nghị nói, “Chúng tôi đã tìm thấy một người xà ích xác nhận rằng cậu từng tới nhà Welch vào ngày 27, cũng là ngày cậu Welch và cô Naya qua đời. Hơn nữa, chính Welch đã trả tiền xe cho cậu.”
Klein sửng sốt một chút, nhưng không hề hoảng sợ hay chột dạ khi bị vạch trần. Bởi anh hoàn toàn không nói dối. Trái lại, chứng cứ mà viên cảnh sát mắt xám Dunn Smith vừa đưa ra hoàn toàn nằm trong dự đoán của anh. Vào ngày 27 tháng 6, nguyên chủ quả nhiên đã đến biệt thự Welch, khi về tới nhà đã tự sát ngay trong đêm hôm ấy, giống như Welch và Naya!
Klein nở nụ cười khổ, mở miệng nói, “Đây không phải một chứng cứ đanh thép có thể chứng minh tôi trực tiếp dính líu tới cái chết của Welch và Naya. Thực tình thì tôi rất muốn biết chuyện gì đã xảy ra, cũng muốn tìm ra những gì mà hai người bạn đáng thương của tôi đã gặp phải. Có điều, tôi quả thực không hề nhớ được gì. Hầu như ký ức về ngày 27 của tôi đã biến mất. Có lẽ ông không tin, nhưng tôi phải dựa vào ghi chép của bản thân mới miễn cưỡng đoán ra việc mình đã qua biệt thự Welch vào ngày ấy.”
“Tố chất tâm lý tốt đấy.” Viên cảnh sát mắt xám Dunn Smith gật đầu, vẻ mặt không lộ chút giận dữ hay vui vẻ nào.
“Ông hẳn có thể thấy được sự chân thành của tôi.” Klein nói khi nhìn thẳng vào mắt đối phương.
Những gì tôi nói đều là thật. Đương nhiên, chỉ là một phần sự thật!
Dunn Smith không trả lời ngay. Ông đưa mắt nhìn quanh phòng rồi mới từ tốn nói, “Cậu Welch bị mất một khẩu súng lục ổ xoay. Tôi nghĩ tôi có thể tìm thấy nó ở đây, phải không, cậu Klein?”
Quả nhiên... Cuối cùng Klein cũng xác định được lai lịch của khẩu súng lục ổ xoay. Những suy nghĩ lóe lên trong đầu khiến anh lập tức đưa ra quyết định. Anh hơi nâng hai tay lên rồi từng bước lùi sang bên để nhường đường. Đoạn dùng cằm chỉ về phía giường tầng và nói, “Ở mặt sau tấm ván giường.”
Klein không nói rõ là ván giường tầng dưới. Người bình thường không bao giờ giấu đồ ở mặt sau ván giường tầng trên vì khách ghé thăm sẽ nhận ra ngay.
Viên cảnh sát mắt xám Dunn vẫn đứng nguyên tại chỗ, khóe miệng ông giật giật trước khi hỏi, “Cậu muốn nói thêm gì không?”
Klein đáp ngay, “Có! Khi tỉnh dậy vào nửa đêm qua, tôi thấy mình đang nằm úp trên bàn học. Bên cạnh là khẩu súng lục, ở chân tường có một viên đạn. Thoạt nhìn giống như vừa xảy ra một vụ tự sát bất thành. Có lẽ là do thiếu kinh nghiệm hoặc chưa từng dùng súng bao giờ, cũng có thể vì sợ hãi vào phút chót... Tóm lại, viên đạn không đạt được hiệu quả như dự định. Đầu tôi vẫn nguyên vẹn và tôi còn sống đến giờ phút này. Từ lúc đó trở đi, tôi đã quên mất nhiều thứ, bao gồm những gì mình làm hoặc thấy tại nhà Welch hôm 27. Tôi không nói dối, tôi thực sự không nhớ gì cả.”
Để chứng minh mình vô tội và thoát khỏi những sự việc kỳ lạ đang quấn lấy bản thân, Klein gần như kể hết mọi chuyện, ngoại trừ việc xuyên qua và buổi tụ họp.
Mặt khác, anh còn cẩn thận lựa chọn từng câu từng từ để đảm bảo chúng không thể bị bắt lỗi. Chẳng hạn như tránh nói đến viên đạn không bắn trúng đầu mà chỉ bảo nó 'không đạt được hiệu quả như dự định', và đầu vẫn còn nguyên vẹn. Với người khác, hai cách diễn đạt này nghe tương tự nhau nhưng thực chất hoàn toàn khác biệt.
Viên cảnh sát mắt xám Dunn chăm chú nghe hết câu chuyện rồi chậm rãi lên tiếng, “Những gì cậu kể phù hợp với suy đoán của tôi, cũng ăn khớp với mô thức ngầm của các vụ việc tương tự trước đây. Tất nhiên, tôi không biết cậu sống sót được bằng cách nào.”
“Ông tin là tốt rồi. Tôi cũng chẳng hiểu sao mình còn sống được đến giờ.” Klein thở phào nhẹ nhõm.
“Nhưng…” Dunn buông ra một từ chuyển ý, “Việc tôi tin hay không chẳng quan trọng. Hiện tại, cậu vẫn là nghi phạm chính và cần phải trải qua kiểm tra từ chuyên gia để xác nhận rằng cậu thực sự mất trí nhớ hoặc hoàn toàn vô can trong cái chết của Welch và Naya.”
Dunn tằng hắng một cái, nét mặt đanh lại, “Cậu Klein, rất mong cậu hãy phối hợp công tác điều tra và theo chúng tôi về đồn cảnh sát một chuyến. Nếu cậu quả thực không có vấn đề thì sẽ chỉ mất hai đến ba ngày thôi.”
“Chuyên gia đã tới rồi?” Klein kinh ngạc hỏi. Không phải nói là hai ngày nữa sao?
“Cô ấy đến sớm hơn chúng tôi dự kiến.” Dunn nghiêng người qua một bên, ý bảo Klein bước ra.
“Tôi muốn để lại giấy nhắn.“ Klein xin phép.
Benson vẫn còn đang đi công tác, Melissa thì đã đến trường, nên mình chỉ có thể để lại giấy nhắn về việc không may bị dính vào chuyện của Welch, phải tạm thời rời đi và dặn họ đừng lo lắng.
Dunn lơ đãng gật đầu, “Được.“
Klein quay lại bàn học, vừa tìm giấy để viết vừa suy tính bước tiếp theo.
Thực lòng mà nói, anh rất không muốn gặp vị chuyên gia kia, bởi lẽ bản thân anh còn đang giấu một bí mật còn lớn hơn thế.
Trong một thế giới có đến bảy Đại Giáo hội như thế này, cộng thêm việc Hoàng đế Roselle, người có thể là tiền bối, đã bị ám sát, những vụ xuyên không kiểu này chắc chắn sẽ bị đưa ra Tòa dị giáo hoặc Tòa trọng tài!
Song le, một kẻ tay không tấc sắt, không biết võ nghệ, không có năng lực đặc biệt như mình thì làm gì có cửa thắng một cảnh sát được đào tạo bài bản? Huống chi, ngoài cửa còn có vài thuộc hạ của Dunn đang đứng rình trong bóng tối, họ mà đồng loạt nổ súng thì mình tiêu đời!
“Ây dà, được tới đâu hay tới đó vậy.” Klein để lại lời nhắn, cầm theo chìa khóa rồi cùng Dunn rời khỏi phòng.
Trong hành lang tối tăm, bốn viên cảnh sát mặc áo đen kẻ ca rô trắng đứng xếp thành hai hàng, vẻ mặt cảnh giác.
Lộp cộp, lộp cộp, lộp cộp! Klein đi cạnh Dunn, bước từng bước một xuống bậc cầu thang gỗ, thỉnh thoảng lại nghe thấy tiếng kẽo kẹt.
Bên ngoài cửa chung cư, một cỗ xe ngựa một ngựa bốn bánh đang đậu, hai bên hông xe khắc biểu tượng cảnh sát hình hai thanh kiếm chéo nhau với vương miện ngự trên đỉnh, xung quanh chen chúc, náo nhiệt và ồn ào như mọi buổi sáng khác.
“Lên đi.” Dunn ra hiệu cho Klein.
Klein vừa dợm bước thì gã bán hàu rong gần đó bỗng túm lấy một khách hàng, buộc tội người này là kẻ trộm. Hai bên lao vào đánh nhau khiến con ngựa giật mình hí lên, cả khu vực lập tức náo loạn.
Cơ hội! Không kịp suy nghĩ, Klein đột ngột khom người vọt về phía trước, chạy xộc vào đám đông. Xô đẩy, né tránh, anh chạy thục mạng theo hướng khác.
Trong tình hình hiện tại, để tránh gặp vị chuyên gia kia, anh chỉ còn cách đến bến tàu bên ngoài thành phố, lên thuyền xuôi dòng Tussock và trốn đến thủ đô Backlund. Vùng đất đông đúc đó là nơi lý tưởng để ẩn náu. Tất nhiên, anh cũng có thể quá giang tàu hơi nước một cách bất hợp pháp để đến bến cảng Enmat gần nhất ở phía đông, rồi tiếp tục đi đường biển đến Pritz trước khi đặt chân tới Backlund.
Chẳng mấy chốc, Klein chạy đến đầu phố, quẹo vào ô phố Chữ Thập Sắt, nơi có vài chiếc xe ngựa cho thuê đang đậu.
“Đến bến tàu ngoại ô.” Klein chống tay, nhảy lên một cỗ xe.
Anh đã vạch ra kế hoạch rõ ràng, đầu tiên là đánh lạc hướng đám cảnh sát, sau đó chờ xe chạy được một quãng thì nhảy xuống!
“Được rồi!” Xà ích kéo dây cương.
Lộc cộc, lộc cộc, lộc cộc. Xe ngựa rời khỏi phố Chữ Thập Sắt.
Đúng lúc Klein chuẩn bị nhảy, anh bất ngờ phát hiện xe ngựa đã rẽ sang một lối khác, đây hoàn toàn không phải đường ra ngoại ô!
“Anh tính đi đâu đấy?” Klein sửng sốt một lúc rồi mới hỏi.
“Đến biệt thự Welch…” Xà ích trả lời bằng giọng đều đều.
Hả? Trong sự kinh ngạc của Klein, xà ích quay đầu lại, để lộ đôi mắt xám sâu thẳm lạnh lùng của cảnh sát Dunn Smith!
“Ông!” Klein vô cùng kinh hãi. Anh đột nhiên có cảm giác trời đất quay cuồng, cả người bỗng bật dậy.
Bật dậy? Klein hoang mang nhìn xung quanh, trông thấy vầng trăng đỏ đang tỏa sáng bên ngoài cửa sổ, phủ lên căn phòng một lớp ánh sáng mỏng nhẹ như tơ. Anh giơ tay lên, cảm nhận trán và lưng ướt đẫm mồ hôi lạnh.
“Mơ thấy ác mộng…” Klein thở phào nhẹ nhõm. “May, may quá…”
Khi thấy đỡ hơn đôi chút, Klein lấy đồng hồ quả quýt quả quýt ra xem. Mới hơn hai giờ sáng. Anh bèn lặng lẽ xuống giường, định đến phòng tắm chung để rửa mặt và tiện thể giải quyết cảm giác khó chịu nơi bụng dưới.
Khẽ mở cửa ra, anh bước vào hàng lang mờ tối, rón rén tiến về phía phòng vệ sinh công cộng dưới ánh trăng mờ ảo.
Đột nhiên, anh nhìn thấy một bóng người đứng trước cửa sổ cuối hành lang. Người đó khoác một chiếc áo măng tô đen, dài hơn lễ phục nhưng ngắn hơn áo choàng. Thân hình ấy nửa chìm trong bóng tối, nửa đắm mình trong ánh trăng đỏ thẫm, lạnh lẽo.
Bóng người từ từ xoay lại, để lộ đôi mắt sâu thẳm, u ám và lạnh lẽo.
―― Dunn Smith!
Cạch! Klein không khỏi lùi lại một bước, nhất thời không phân biệt được đây là mơ hay thực.
Người đó tháo chiếc mũ chóp đen xuống, hơi cúi người và mỉm cười chào hỏi bằng tông giọng trầm, “Xin được giới thiệu lại một lần nữa, tôi là Kẻ Gác Đêm, Dunn Smith.”
Kẻ Gác Đêm? Danh hiệu của đội Kẻ Phi Phàm thuộc Giáo hội Nữ Thần Đêm Đen mà ‘Công Lý’ và ‘Người Treo Ngược’ từng nhắc đến?
Klein đột nhiên hiểu ra điều gì đó, lại liên tưởng đến chuyện vừa xảy ra, bèn thốt lên, “Ông có thể điều khiển giấc mơ? Ông đã khiến tôi mơ thấy giấc mộng đó?”
'Kẻ Gác Đêm' Dunn Smith đội lại chiếc mũ đen, che đi đường chân tóc hơi cao. Đôi mắt xám sâu thẳm ánh lên ý cười khi ông nói, “Không, tôi chỉ đi vào giấc mơ của cậu và đưa ra những dẫn dắt cần thiết mà thôi.” Giọng nói trầm ấm của ông nhẹ nhàng vang vọng trong hành lang tối mờ, như thể không muốn phá vỡ mộng đẹp của người khác, “Giấc mơ có thể phóng đại những cảm xúc bị đè nén và những góc tối trong tâm hồn, tạo nên một thế giới hỗn loạn, phi lý và điên cuồng, nhưng sự thật vẫn tồn tại và ẩn mình trong đó. Đối với người từng trải như tôi, tất cả những điều này đều rõ như ban ngày. Tôi tin vào con người thật của cậu trong mơ hơn là cậu khi tỉnh táo.”
Chuyện này… Người bình thường nào có thể làm chủ được giấc mơ của bản thân chứ? Nếu anh mơ thấy những ký ức ở Trái Đất thì chẳng phải Dunn Smith sẽ phát hiện ra sao? Klein thót tim, bất giác rùng mình khi hồi tưởng những gì đã diễn ra trong mơ. Nhưng rồi anh nhanh chóng nhận ra điều bất thường. Trong giấc mơ đó, anh vô cùng tỉnh táo và lý trí, biết rõ điều gì nên nói và điều gì không nên nói. Tóm lại, nó hoàn toàn không giống như đang nằm mơ!
Nói cách khác, Dunn Smith chỉ nhìn thấy những gì mình muốn cho ông ta thấy? Đầu óc Klein quay cuồng với hàng loạt suy nghĩ. Anh có cảm giác vừa bắt được điều gì đó. Đây là phúc lợi đi kèm khi xuyên không à? Hay là linh hồn anh thực sự đặc biệt? Hay là ảnh hưởng ngoài lề từ nghi lễ đổi vận kia?
“Vậy thì, ông Smith, ông thực sự tin tôi mất trí nhớ chứ?” Klein cân nhắc lời nói trước khi lên tiếng hỏi lại.
Thay vì trực tiếp trả lời, Dunn nhìn anh thật lâu, “Cậu không cảm thấy kinh ngạc trước những chuyện như thế này sao? Tôi đã gặp nhiều người trong cuộc. Ngay cả khi tỉnh giấc, họ thà nghĩ mình hãy còn đang mơ chứ không chịu tin vào sự tồn tại của sức mạnh siêu phàm.”
Klein “ừm” một tiếng và bảo, “Có lẽ là do tôi đã khẩn cầu, chờ mong có một sức mạnh như vậy đến giúp đỡ mình.”
“Lối suy nghĩ thú vị đấy... Có lẽ cậu sống sót không chỉ nhờ may mắn.” Dunn nghiêm mặt gật đầu. “Bây giờ tôi có thể xác nhận rằng cậu thực sự đã đánh mất một phần ký ức vì sự kiện này, đặc biệt là những ký ức liên quan đến bản thân vụ việc.”
“Vậy tôi có thể đi rồi chứ?” Klein thầm thở phào và dò hỏi.
Dunn đút một tay vào túi, chậm rãi bước tới. Màn đêm xung quanh dần trở nên tĩnh lặng và dịu dàng.
“Không được. Cậu vẫn phải đi gặp chuyên gia với tôi.” Ông nở nụ cười lịch sự.
“Tại sao?” Klein buột miệng hỏi, rồi vội vã bồi thêm. “Ông không tin khả năng dẫn dắt giấc mơ của bản thân à?”
Đây không phải là chuyện đùa, nếu vị chuyên gia đó am hiểu thuật thôi miên hay có khả năng đọc tâm trí thì bí mật lớn nhất của anh sẽ bị phơi bày mất! Hậu quả là không thể lường được!
“Tôi vốn là người khiêm tốn, nhưng về lĩnh vực giấc mơ thì tôi vẫn có chút tự tin.” Dunn ung dung trả lời. “Có điều, với những vấn đề quan trọng như thế này, xác minh thêm một lần nữa vẫn hơn. Huống chi cô ấy còn am hiểu lĩnh vực khác hẳn tôi, biết đâu có thể giúp cậu lấy lại được một vài ký ức.”
Không đợi Klein đáp lại, giọng ông trầm xuống, “Dù sao, cậu cũng liên quan đến tung tích hiện tại của cuốn sổ tay gia tộc Antigonus.”
“Cái gì?” Klein ngẩn ra.
Dunn dừng lại trước mặt Klein, đôi mắt xám nhìn thẳng vào mắt anh, “Dù đã lục tung cả ngôi nhà, chúng tôi vẫn không tìm thấy cuốn sổ tay còn sót lại từ Kỷ Thứ Tư tại hiện trường. Welch và Naya đã chết, nên cậu là đầu mối duy nhất.”
“...Hiểu rồi.” Klein im lặng một lát rồi thở dài.
Cuốn sổ tay đã biến mất... Thật kỳ lạ! Mình thậm chí còn không nghĩ gì về tung tích của cuốn sổ Kỷ Thứ Tư đó!
Dunn khẽ gật đầu, đi ngang qua Klein và nói, “Cậu hãy đi khóa cửa đi, rồi theo tôi đến chỗ Welch. Chuyên gia đang chờ chúng ta ở đó.”
Klein âm thầm hít một hơi, tim đập thình thịch, lòng thấp thỏm bất an. Anh muốn từ chối, thậm chí còn nghĩ đến việc bỏ chạy, nhưng những gì xảy ra trong giấc mơ chắc chắn đã khiến Dunn Smith đề cao cảnh giác. Kẻ Phi Phàm mạnh hơn người bình thường quá nhiều. Dù có dùng vũ lực để tẩu thoát thì cũng khó lòng thành công.
Ông ta hẳn có mang theo súng... có vẻ là người đã dành không ít thời gian luyện bắn... Vô số ý nghĩ hỗn loạn va chạm trong tâm trí. Cuối cùng, Klein đành chọn cách đối mặt với thực tế, “Được rồi.”
Than ôi, tới đâu hay tới đó thôi, biết đâu sức mạnh trong giấc mơ sẽ lại phát huy tác dụng...
“Đi thôi.” Dunn nói bằng giọng đều đều không nhấn nhá.
Klein xoay người đi được hai bước thì đột nhiên dừng lại, “Ông Smith, tôi... tôi muốn đi vệ sinh đã. Nãy tôi ra ngoài là để giải quyết nỗi buồn mà.”
Dunn không ngăn cản, chỉ chăm chú nhìn anh và nói, “Không thành vấn đề. Klein, tin tôi đi, trong đêm đen, tôi còn mạnh hơn cậu tưởng tượng rất nhiều.”
Trong đêm đen... Klein lặng lẽ lặp lại những từ này.
Anh không liều lĩnh thử mà ngoan ngoãn đi vệ sinh, sau đó dùng nước lạnh rửa mặt để đầu óc hoàn toàn tỉnh táo.
Sau khi thay quần áo và đội mũ, đóng lại cửa nhà, Klein nhẹ nhàng theo Dunn xuống cầu thang, đi về phía cổng.
Trong bầu không khí tĩnh lặng ấy, Dunn Smith bỗng cất tiếng hỏi, “Cuối giấc mơ đó, tại sao cậu lại muốn bỏ chạy? Cậu sợ điều gì à?”
Đầu óc Klein chuyển động nhanh như chớp, vừa suy nghĩ vừa đáp, “Tôi không nhớ mình đã làm gì ở nhà Welch, cũng không nhớ có trực tiếp gây ra cái chết của cậu ấy và Naya hay không. Tôi sợ kết quả cuối cùng sẽ chứng minh điều đó là thật, nên không dám đánh cược. Thà tôi chạy trốn và bắt đầu một cuộc sống mới ở Lục địa Nam còn hơn.”
“Nếu là tôi, tôi cũng sẽ làm vậy.” Dunn đẩy cửa ra, để gió đêm mát rượi lùa vào, đuổi đi cái nóng ngột ngạt trong chung cư.
Dunn thản nhiên bước lên xe ngựa trước, hoàn toàn không lo ngại việc Klein có thể bỏ chạy. Cỗ xe giống hệt như những gì Klein thấy trong mơ, bốn bánh, một ngựa kéo, một xà ích, hông xe khắc biểu tượng của hệ thống cảnh sát hình hai thanh kiếm chéo nhau và vương miện ngự trên đỉnh
Klein bước lên sau. Bên trong xe được trải một tấm thảm dày, thoang thoảng hương tinh dầu dịu nhẹ đầy thư thái.
Anh ngồi xuống một cách tự nhiên rồi gợi chuyện để dò la thêm, “Ông Smith, nếu như, tôi nói là nếu như, chuyên gia xác nhận rằng tôi thực sự đã quên phần ký ức đó và không có bằng chứng nào cho thấy tôi là thủ phạm thay vì nạn nhân… thì chuyện này có kết thúc không?”
“Về mặt lý thuyết là vậy. Chúng tôi sẽ dùng cách khác để truy tìm cuốn sổ ấy. Chỉ cần nó vẫn tồn tại thì sớm muộn gì cũng bị phát hiện. Đương nhiên, trước đó thì chúng tôi phải đảm bảo trên người cậu không có lời nguyền, mùi ma quỷ, vấn đề tâm lý tương ứng, và có thể đón nhận tương lai một cách bình an và khỏe mạnh.” Dunn Smith nở một nụ cười có phần kỳ quái.
Klein nhanh chóng nhận ra điều này, chẳng kịp thở phào mà vội vàng hỏi, “Về mặt lý thuyết?”
“Đúng thế, đó chỉ là lý thuyết mà thôi. Trong lĩnh vực này, luôn có những điều méo mó, phi lý và khó tin.” Dunn nhìn thẳng vào mắt Klein khi nói tiếp. “Chúng có tiếp tục hay không, chúng đã kết thúc hay chưa, đôi khi không phải là điều mà chúng ta có thể đoán trước hay kiểm soát.”
“Ví dụ?” Klein chợt cảm thấy sợ hãi.
Xe ngựa lao nhanh trên con phố vắng người. Dunn lấy tẩu thuốc ra, đưa lên mũi ngửi rồi chậm rãi nói, “Khi chúng ta nghĩ rằng mọi thứ đã kết thúc, rằng tất cả đã trở lại bình thường… thì nó sẽ ập đến theo những cách đáng sợ và kinh hoàng.
“Mấy năm trước, chúng tôi từng xử lý một vụ án liên quan tới giáo phái. Bọn chúng đã tổ chức các nghi lễ hiến tế người sống để lấy lòng Tà Thần bằng cách yêu cầu tín đồ tự sát. Nhờ ham muốn sống sót mãnh liệt, một trong số những tín đồ được chọn đã vượt qua sự ngu muội, chiến thắng tín ngưỡng sai trái và chất gây ảo giác để lén đến cục cảnh sát báo án. Vụ việc được giao cho chúng tôi xử lý. Đây chỉ là một nhiệm vụ nhỏ. Bởi tà giáo kia không có Kẻ Phi Phàm, còn vị thần mà bọn chúng tôn sùng chỉ là thứ do kẻ cầm đầu tùy tiện dựng lên. Để vơ vét của cải, để thỏa mãn dục vọng cá nhân, bọn chúng đã hoàn toàn vứt bỏ nhân tính. Chỉ với hai người đội viên phối hợp với cảnh sát, chúng tôi đã tiêu diệt toàn bộ giáo phái này mà không để sót một ai. Người báo án cũng đã được xác nhận không có mùi tà ma hay dính phải nguyền rủa. Anh ta cũng không mắc phải chướng ngại tâm lý, có vấn đề về nhân cách hoặc có bất kỳ dấu vết kỳ lạ nào. Về sau, sự nghiệp của anh ta bắt đầu tiến triển, cưới được vợ hiền, sinh được một trai một gái. Dường như tất thảy bóng mờ đều đã rời khỏi anh ta. Nỗi kinh hoàng và máu tanh tựa hồ cũng hoàn toàn biến mất.”
Nói đến đây, Dunn Smith khẽ cười, “Nhưng tháng Ba năm nay, vào lúc tình hình tài chính tốt đẹp, tình cảm vợ chồng vẫn thắm thiết, con cái thông minh đáng yêu thì anh ta đã tự sát ngay trong văn phòng, bằng cách tự bóp cổ mình đến chết.”
Ánh trăng đỏ thẫm hắt qua cửa sổ xe, phủ lên người Dunn Smith. Giờ khắc này, nụ cười có phần tự giễu của ông khiến Klein ớn lạnh đến tận xương tủy.
“Tự bóp cổ mình đến chết…” Klein bất giác rít nhẹ một hơi, như thể vừa nhìn thấy kết cục thê thảm của bản thân.
Mình chỉ tạm thời thoát nạn thôi à? Có cách nào có thể giải quyết triệt để không? Hay phải trở thành Kẻ Phi Phàm mới có sức chống lại? Thùng xe chìm trong sự yên lặng. Vô số ý nghĩ dồn dập hiện lên rồi lại vụt tắt trong đầu Klein.
Trong sự tĩnh lặng khó tả, cỗ xe phi nhanh suốt quãng đường dài.
Ngay khi Klein định đánh liều hỏi Dunn Smith về biện pháp giải quyết thì cỗ xe dừng lại.
“Ông Smith, đến biệt thự Welch rồi.” Giọng xà ích lọt vào tai hai người.
“Chúng ta xuống thôi.” Dunn chỉnh lại chiếc áo măng tô đen dài đến đầu gối và nói, “À, để tôi giới thiệu sơ qua, vị chuyên gia này được biết đến rộng rãi như người thông linh nổi tiếng nhất hạt Awwa.”
Klein gạt những suy nghĩ khác sang một bên, tò mò hỏi, “Còn thân phận thực sự của cô ấy thì sao?”
Dunn khẽ nghiêng người, quay đầu lại, đôi mắt xám sâu thẳm nhìn anh, “‘Người Thông Linh’ chân chính.”
“'Người Thông Linh' chân chính…” Klein thầm nhắc lại. Anh không mở miệng thêm nữa, đi theo Dunn Smith xuống xe.
Nơi ở của Welch tại Tingen là một biệt thự đơn lập có vườn hoa. Bên ngoài cánh cổng sắt chạm trổ là một con đường rộng đủ cho bốn xe ngựa chạy song song. Hai bên đường cứ cách năm mươi mét lại có một cột đèn khí cao ngang tầm một người trưởng thành để thuận tiện cho việc thắp sáng. Chúng khác hẳn với loại đèn đường mà Klein từng thấy ở kiếp trước. Kim loại đen ôm lấy lớp pha lê, tạo thành hoa văn dạng lưới, trông như đèn lồng cổ điển. Ở nơi ấy, hơi lạnh và hơi ấm cùng nhau nhảy múa, bóng tối và ánh sáng đan xen.
Bước trên con đường phủ ánh đèn vàng nhạt, Klein và Dunn Smith đi qua cánh cổng sắt hé mở rồi tiến vào biệt thự mà Welch thuê. Đối diện cổng chính là lối đi lát xi măng rộng vừa đủ cho hai xe ngựa chạy song song, dẫn thẳng đến ngôi nhà hai tầng. Bên trái là vườn hoa; bên phải là thảm cỏ. Hương hoa nhẹ nhàng hòa quyện với mùi cỏ tươi tạo nên một thứ hương thơm khiến tâm trí thư thái.
Vừa bước vào, Klein bỗng nổi da gà, bèn đưa mắt nhìn quanh. Anh có cảm giác rằng trong vườn hoa, bóng tối của bãi cỏ, trên nóc nhà, sau xích đu và ở mỗi góc khuất đều có những đôi mắt đang âm thầm dõi theo mình.
Rõ ràng không một bóng người, vậy mà Klein lại cảm thấy như mình đang đứng giữa một con phố đông đúc. Sự tương phản quái đản cùng với cảm giác kỳ lạ ấy khiến toàn thân anh căng ra, một luồng hơi lạnh từ đáy sống lưng trào lên.
“Ở đây có vấn đề!” Anh không thể không mở miệng nhắc Dunn.
Dunn bình tĩnh đi bên cạnh anh, thản nhiên đáp, “Đừng để ý.”
Nghe Kẻ Gác Đêm nói thế, Klein đành chịu đựng cảm giác rùng rợn khi bị vô số ánh mắt vô hình rình rập, theo dõi, đánh giá mà không thể xác định được nguồn gốc, trong khi bước từng bước đến cửa chính.
Ở chỗ này lâu chắc mình sẽ trở nên hoang tưởng mất... Khi Dunn đưa tay gõ cửa, Klein lập tức nghoảnh lại, chỉ thấy những bông hoa đung đưa theo gió giữa chốn không người.
“Các quý ông, mời vào.” Một giọng nói trong trẻo vọng ra từ trong nhà.
Dunn vặn tay nắm cửa, đẩy cửa bước vào, nói với người phụ nữ đang ngồi trên ghế sofa, “Daly, có kết quả gì không?”
Trong phòng, đèn chùm không được thắp sáng, chỉ có bộ sofa da một dài hai ngắn bao quanh chiếc bàn trà mặt đá cẩm thạch. Trên bàn đặt một ngọn nến đang cháy tỏa ánh lửa xanh lam rực rỡ, phủ lên căn phòng khách có kết cấu nửa mở liên thông với phòng ăn và phòng bếp một màu sắc quỷ dị.
Ngồi giữa chiếc ghế sofa dài là một quý cô mặc áo choàng đen có mũ trùm đầu, kẻ viền mắt xanh và đánh má hồng, quấn một sợi chuyền bạc có đính mặt đá thạch anh trắng trên cổ tay. Vừa thấy cô, không hiểu sao Klein lại có suy nghĩ: Ăn mặc rất giống Người Thông Linh thực sự… Cô ta đang đóng vai gì vậy?
'Người Thông Linh' Daly với vẻ đẹp ma mị liếc nhìn Klein, rồi quay sang Dunn Smith và bảo, “Những linh hồn ban đầu đều đã biến mất, bao gồm cả Welch và Naya. Đám nhỏ đang ở chỗ này không biết gì cả.”
Linh hồn? Người Thông Linh… Những thứ vô hình đã theo dõi mình lúc nãy chính là linh? Có nhiều linh hồn đến vậy sao? Klein nghĩ thầm. Anh cởi mũ, để trước ngực và hơi cúi người chào, “Chào buổi tối, quý cô.”
Dunn Smith thở dài, “Đúng là rắc rối… Daly, cậu này là Klein Moretti. Em hãy thử xem có thể tìm ra được gì từ cậu ta không.”
“Người Thông Linh” Daly lập tức chuyển hướng sang Klein. Cô chỉ về phía ghế đơn bên cạnh và nói, “Mời ngồi.”
“Cảm ơn.” Klein gật nhẹ, đi tới, ngồi xuống ngay ngắn với trái tim bất giác thót lên.
Là sống hay là chết, là thuận lợi vượt qua hay để lộ bí mật, tất cả đều dựa vào cách tình huống tiếp theo tiến triển như thế nào!
Điều khiến anh bất lực nhất là việc không có gì để dựa vào, chỉ có thể trông chờ vào khả năng đặc biệt của bản thân... Quả thật là một cảm giác tệ hại... Klein cay đắng nghĩ.
Sau khi Dunn ngồi xuống chiếc ghế sofa đôi đối diện, “Người Thông Linh” Daly lấy từ chiếc túi bên hông ra hai bình thủy tinh cỡ ngón cái. Đôi mắt xanh lục biếc mang ý cười nhìn Klein, “Tôi cần một chút sự trợ giúp. Dẫu sao cậu cũng không phải là kẻ thù, không thể đối đãi quá thẳng thừng, thô bạo được. Làm vậy sẽ khiến cậu khó chịu, đau đớn, thậm chí còn để lại di chứng nghiêm trọng mất. Tôi sẽ cho cậu ngửi một vài mùi hương, để mọi chuyện diễn ra thật dịu dàng và suôn sẻ, để cậu từ từ buông lỏng và hoàn toàn đắm chìm vào cảm giác ấy.”
Mấy lời này nghe cứ sai sai thế nào ấy nhỉ… Klein sững người, mắt lộ vẻ kinh ngạc.
Dunn ngồi đối diện mỉm cười, “Sao cậu lại ngạc nhiên. Khác với đám người bên Giáo hội Chúa tể Gió Bão, phụ nữ bên chúng ta cũng có thể trêu chọc đàn ông bằng lời. Chắc hẳn cậu cũng biết điểm này chứ. Mẹ cậu là tín đồ sùng kính của Nữ Thần, cậu và anh trai đều theo học trường Chúa Nhật của Giáo hội mà.”
“Tôi biết, chỉ là không ngờ lại... lại...” Klein lúng túng múa tay, không tìm được từ nào thích hợp, suýt buột miệng nói ra từ 'tay chơi'.
Khóe miệng Dunn nhếch lên, “Yên tâm đi. Daly hiếm khi làm thế lắm. Cô ấy chỉ dùng cách này để giúp cậu bình tĩnh và thư giãn thôi. Dù sao cô ấy cũng thích xác chết hơn đàn ông.”
“Anh nói như thể em là kẻ biến thái vậy.” “Người Thông Linh” Daly mỉm cười chen ngang. Cô mở một bình nhỏ, nhỏ vài giọt vào ngọn lửa xanh rực, “Đây là tinh chất được chưng cất và chiết xuất từ hỗn hợp cỏ Dạ hương, hoa Thâm miên và cúc Dương cam. Tôi gọi nó là 'Amantha', có nghĩa là 'bình yên' trong tiếng Hermes cổ. Mùi của nó rất dễ chịu.'“
Giữa tiếng chuyện trò, ánh nến khẽ chao đảo mấy lần, vài giọt tinh dầu nhanh chóng bốc hơi, tỏa hương khắp căn phòng. Một mùi hương tinh khiết, u ẩn và quyến rũ len lỏi vào mũi Klein. Anh không còn cảm thấy căng thẳng nữa, tâm trí nhanh chóng trở nên bình yên, như thể đang nhìn vào bóng tối giữa đêm khuya tĩnh mịch.
“Bình này có tên là ‘Con mắt Linh hồn’, được làm từ vỏ và lá cây Long văn cùng cây Bạch dương. Nó đã được phơi nắng bảy ngày, sắc nấu ba lần trước khi ngâm trong rượu Ranze. Tất nhiên, trong quá trình pha chế thì còn phải kết hợp với một số câu thần chú nữa…” Trong lúc “Người Thông Linh” Daly miêu tả, chất lỏng hổ phách rơi xuống ánh nến xanh diễm lệ.
Klein ngửi thấy mùi rượu, một mùi hương thanh thoát, phiêu bồng. Anh thấy ánh nến đang rung lắc dữ dội, thấy viền mắt xanh lam và má hồng của Daly ánh lên tia sáng quỷ dị, thậm chí nhìn thấy cả bóng chồng.
“Nó là trợ thủ đắc lực khi thông linh, cũng là tinh linh hoa đầy mê hoặc...”
Theo lời kể tỉ mỉ của Daly, Klein cảm thấy giọng nói của cô vang lên từ mọi hướng. Anh hoang mang nhìn xung quanh, thấy mọi thứ đang lay động và trở nên mờ ảo, như bị bao phủ bởi từng lớp từng lớp sương mù dày đặc, đến mức cả cơ thể anh cũng rung chuyển, mờ dần và trở nên bay bổng.
Màu đỏ càng đỏ thêm, màu xanh càng xanh thêm, màu đen càng đen thêm, màu sắc hòa trộn như bức tranh sơn dầu của trường phái ấn tượng, mờ ảo và huyễn hoặc. Xung quanh vang lên những tiếng thì thầm trùng trùng điệp điệp như thể có vô số người vô hình đang bàn tán.
Trải nghiệm này giống như lúc mình thực hiện nghi lễ đổi vận, nhưng không có cảm giác khiến người ta điên cuồng hay muốn nổ tung... Klein nhìn tất cả những điều này và thấy hơi thắc mắc.
Đúng lúc này, ánh mắt anh bị thu hút bởi đôi mắt long lanh như ngọc lục bảo. Daly trong bộ áo choàng đen ngồi trên chiếc ghế sofa mờ ảo, ánh mắt kỳ quái của cô tập trung vào đỉnh đầu Klein và dịu dàng cười nói, “Hãy làm quen chính thức nào, tôi là 'Người Thông Linh' Daly.”
“Ồ... mình vẫn có thể suy nghĩ tỉnh táo và bình tĩnh này... giống như lúc làm nghi lễ đổi vận và buổi tụ họp...” Chợt nảy ra một ý, Klein cố tình tỏ ra mơ màng, “Chào... cô.”
“Tư duy con người vô cùng rộng lớn, ẩn chứa vô vàn bí mật. Hãy nhìn vùng biển kia xem, những gì chúng ta hiểu được chỉ là bề nổi của hòn đảo lộ ra trên mặt biển, nhưng dưới mặt nước, hòn đảo còn có một bộ phận lớn hơn rất nhiều. Thực ra, ngoài hòn đảo còn có cả đại dương mênh mông và bầu trời vô tận tượng trưng cho Linh Giới...
“Cậu là linh hồn của thể xác. Cậu không chỉ biết phần đảo nổi trên mặt biển, mà còn biết phần chìm dưới đáy, biết cả đại dương bao la... Phàm đã tồn tại, ắt để lại dấu vết. Ký ức trên bề mặt hòn đảo có thể bị xóa đi, nhưng dưới đáy biển và giữa đại dương vẫn còn những hình chiếu sót lại...”
Theo lời dẫn dắt lặp đi lặp lại của Daly, những cơn gió và cái bóng mờ ảo cũng biến thành những hình dạng tương tự, như thể vùng biển tâm linh của Klein đã hoàn toàn được tái hiện ở nơi đây, chờ đợi anh tự mình tìm kiếm và khám phá.
Klein bình tĩnh nhìn vùng biển dậy sóng, đáp lại bằng giọng phiêu hốt, “Không… Tôi không nhớ… Tôi đã quên…” Anh thể hiện vẻ thống khổ vừa phải.
Daly lại thử dẫn dắt thêm lần nữa. Tuy nhiên, Klein vẫn không bị ảnh hưởng.
“Được rồi. Hãy kết thúc ở đây. Trở về đi.”
“Trở về đi.”
“Trở về đi…”
Giọng nói thanh thoát vẳng lại, Daly biến mất, gió và những cái bóng dần lắng xuống, mùi hương tinh khiết và mùi rượu thoang thoảng lại trở về.
Tất cả các màu sắc trong tầm mắt đã trở lại bình thường. Cảm giác mơ hồ rối loạn không còn nữa. Cơ thể Klein khẽ run lên khi tìm về trọng lượng.
Khi mở đôi mắt không rõ đã nhắm từ lúc nào ra, trước mặt anh vẫn là ngọn nến xanh diễm lệ ấy, vẫn là Dunn Smith đang thư thái tựa lưng, vẫn là 'Người Thông Linh' Daly trong chiếc áo choàng đen có mũ trùm.
“Sao em lại dùng lý luận của đám ‘Hội Tâm Lý Luyện Kim’ tà ác mất trí kia vậy?” Dunn nhíu mày với Daly.
Daly vừa cất gọn hai chiếc bình vừa bình tĩnh trả lời, “Em thấy nó khá đúng, ít nhất là đúng với những điều mà em từng trông thấy hay tiếp xúc…” Trước khi Dunn mở miệng, Daly đã xòe tay ra và nói, “Đó là một kẻ gian xảo, hắn không để lại bất kỳ dấu vết nào.”
Nghe vậy, Klein ngồi cạnh đó thở phào một hơi và giả bộ không biết gì mà hỏi, “Xong rồi à? Chuyện gì vừa xảy ra vậy? Tôi cảm thấy như mình vừa đánh một giấc…”
Có thể coi là vượt ải rồi chứ? May mà có diễn tập từ nghi lễ đổi vận!
“Cứ cho là như vậy.” Dunn ngắt lời Klein rồi quay sang Daly nói, “Em đã kiểm tra xác của Welch và Naya chưa?”
“Thi thể có thể tiết lộ rất nhiều chuyện hơn ta nghĩ. Đáng tiếc, Welch và Naya thực sự tự sát. Em chỉ có thể nói rằng, thứ sức mạnh tác động lên họ rất đáng sợ, nó hoàn toàn không lưu lại bất kỳ dấu vết nào.” Daly đứng dậy và vươn tay về phía ngọn nến, “Em muốn nghỉ ngơi.”
Ánh nến xanh rực rỡ biến mất, màu đỏ thẫm mê ly tức thì nhấn chìm căn phòng nhỏ.
“Chúc mừng, cậu có thể về nhà rồi. Nhớ là không được kể chuyện này cho gia đình hay bạn bè nhé. Phải hứa với tôi đấy.” Dunn dẫn Klein về cổng chính.
Klein ngạc nhiên hỏi lại, “Không cần kiểm tra dấu vết nguyền rủa hay ác linh gì sao?”
“Daly không nói, tức là không có.” Dunn trả lời ngắn gọn.
Klein vừa yên lòng thì chợt nghĩ đến những lo lắng trước đó, bèn hỏi, “Làm thế nào để tôi có thể chắc chắn là mình sẽ không gặp phiền phức nào nữa?”
“Đừng lo.” Dunn hơi nhếch môi. “Theo thống kê, khoảng tám mươi phần trăm người sống sót sau những tình huống tương tự đều không gặp chuyện đáng sợ nào nữa. Mà... số liệu này tôi chỉ nói theo ấn tượng thôi, đại khái thế.”
“Vẫn có hai mươi phần trăm người xui xẻo…” Klein không dám đặt cược vào vận may của mình.
“Vậy cậu có thể cân nhắc tới việc trở thành nhân viên văn phòng của chúng tôi. Nếu thế, chúng tôi có thể kịp thời phát hiện ra những điềm báo trước.” Dunn tiến lại gần xe ngựa và thuận miệng nói, “Hoặc cậu có thể trực tiếp trở thành một Kẻ Phi Phàm. Dù sao chúng tôi cũng không phải bảo mẫu của cậu, không thể trông chừng cậu cả ngày lẫn đêm, ngay cả lúc cậu lên giường với cô nào đó được.”
“Tôi có thể chứ?” Klein thuận theo câu đó để hỏi.
Đương nhiên, anh cũng không ôm quá nhiều hy vọng, làm gì có chuyện dễ dàng gia nhập đội ngũ Kẻ Gác Đêm và có được sức mạnh phi phàm như thế! Đây chính là sức mạnh siêu phàm!
Dunn dừng chân, nghiêng đầu nhìn Klein, “...Không phải là không được, tùy tình huống…”
Hả? Câu trả lời bất ngờ khiến Klein không khỏi sửng sốt. Anh đứng sững bên xe ngựa một lát rồi mới hỏi, “Thật sao?”
Đùa hả? Trở thành Kẻ Phi Phàm dễ đến thế à?
Dunn cười khẽ, đôi mắt xám của ông bị bóng xe ngựa che khuất, “Cậu không tin? Thực ra, cậu sẽ mất rất nhiều thứ khi trở thành một Kẻ Gác Đêm, như tự do chẳng hạn. Tạm thời đừng bàn tới chuyện này, còn có một vài vấn đề khác. Thứ nhất, cậu không phải chức sắc có công hay tín đồ sùng đạo, nên không có quyền kén chọn, cũng không thể chọn con đường an toàn nhất.”
“Thứ hai…” Dunn nắm lấy tay vịn khi trèo lên xe. “Một phần tư những vấn đề mà chúng tôi, Thế Phạt Giả, Trái Tim Máy Móc cùng các cơ quan tư pháp tương tự phải giải quyết mỗi năm là chuyện Kẻ Phi Phàm mất khống chế.”
Một phần tư… Kẻ Phi Phàm mất khống chế… Klein lập tức choáng váng.
Dunn hơi xoay người. Với đôi mắt xám sâu thẳm và khóe miệng không chút ý cười, ông nói, “Trong số một phần tư đó, có rất nhiều người là đồng đội của chúng tôi.”
“Tại sao lại như vậy?” Những lời của Dunn đã khiến lòng Klein dậy sóng, anh bất giác thốt lên.
Kẻ Phi Phàm có rủi ro tiềm ẩn lớn đến vậy sao? Ngay cả những Kẻ Phi Phàm xử lý sự kiện dị thường trong cơ quan xét xử của Giáo hội cũng dễ gặp vấn đề?
Dunn Smith bước vào xe, ngồi tại vị trí cũ, vẫn giữ biểu cảm và giọng nói không thay đổi, “Đó không phải điều cậu cần biết, cũng không phải điều cậu có thể hiểu được, trừ khi cậu trở thành người của chúng tôi.”
Klein lặng người, ngồi xuống và hỏi bằng giọng nửa đùa nửa nghi, “Làm sao tôi có thể quyết định gia nhập khi không hiểu rõ về nó chứ?”
Không gia nhập thì lại không có cách nào hiểu được. Thật là một vòng luẩn quẩn...
Dunn Smith lại rút tẩu thuốc ra, đưa lên mũi ngửi ngửi, “Có vẻ cậu hiểu lầm rồi. Thành viên của chúng tôi gồm cả những người làm công việc giấy tờ.”
“Nói cách khác, chỉ cần trở thành nhân viên hành chính, tôi có thể biết được những bí mật liên quan, hiểu rõ về nguy cơ tiềm ẩn và những hiểm nguy mà Kẻ Phi Phàm phải đối mặt, rồi mới quyết định có trở thành Kẻ Phi Phàm hay không?” Klein vừa sắp xếp suy nghĩ vừa diễn đạt lại.
Dunn cười bảo, “Đúng thế, trừ một điều, không phải cậu muốn trở thành Kẻ Phi Phàm là sẽ được. Trong chuyện này, các Đại giáo hội đều rất khắt khe.”
Không khắt khe mới là lạ… Klein thầm nghĩ rồi dùng cử chỉ tay để nhấn mạnh, “Nhân viên hành chính thì sao? Nó cũng rất nghiêm ngặt phải không?”
“Nếu là cậu thì tôi nghĩ sẽ không có vấn đề gì.” Dunn khép hờ mắt, nét mặt hơi giãn ra khi ngửi tẩu, nhưng chưa có ý định châm lửa.
“Tại sao?” Klein lại rơi vào nỗi nghi hoặc.
Đồng thời, anh cũng tự giễu trong lòng: Phải chăng là bởi sự đặc thù của tôi? Hào quang kẻ xuyên không của tôi sáng rực như đom đóm trong đêm và nổi bật đến thế sao?
Dunn mở mắt. Đôi đồng tử xám vẫn sâu thẳm như trước.
“Thứ nhất, cậu đã sống sót qua chuyện này mà không cần chúng tôi giúp đỡ, điều này cho thấy cậu có ưu điểm khác biệt so với người khác. May mắn chẳng hạn, mà người may mắn thì luôn được chào đón.” Trước vẻ ngây dại của Klein, Dunn khẽ cười. “Được rồi, cậu cứ coi đó là một câu nói đùa đi. Thứ hai, cậu tốt nghiệp khoa Lịch sử đại học Khoy, là nhân tài mà chúng tôi rất cần. Tuy Leumi, tín đồ của Chúa Tể Gió Bão, có thái độ khinh miệt phụ nữ, nhưng y cũng có quan điểm về xã hội, nhân văn, kinh tế và chính trị rất sắc sảo. Y cho rằng nhân tài là yếu tố then chốt để duy trì lợi thế cạnh tranh và phát triển tích cực. Tôi rất tán thành điều này.”
Thấy Klein hơi nhíu mày, Dunn thuận miệng giải thích, “Hẳn cậu có thể tưởng tượng được, chúng tôi thường xuyên phải tiếp xúc với những tài liệu và vật phẩm từ Kỷ thứ Tư hoặc xa xưa hơn. Có không ít tà giáo và dị giáo luôn muốn giành lấy sức mạnh từ những thứ này. Đôi khi, bản thân chúng có thể gây ra những điều kỳ lạ và khủng khiếp.
“Ngoài những Kẻ Phi Phàm thuộc lĩnh vực đặc thù, phần lớn chúng tôi không phải người hợp với chuyện học hành, hoặc có thể nói là đã qua cái tuổi đó rồi..” Nói đến đây, Dunn chỉ vào đầu mình, khóe miệng cong lên như thể tự giễu. “Những kiến thức khô khan, nhàm chán ấy luôn khiến người ta muốn ngủ. Ngay cả 'Người Không Ngủ' cũng không cưỡng lại được. Trước đây chúng tôi thường tìm đến các nhà sử học và khảo cổ học để hợp tác. Nhưng việc này có rủi ro làm lộ bí mật, cũng có thể gây nguy hiểm cho các vị giáo sư và phó giáo sư ấy. Vì vậy, nếu có được một người chuyên môn trong hàng ngũ chúng tôi, đó là một cơ hội tốt khó từ chối.”
Klein gật nhẹ, chấp nhận lý do của Dunn rồi hỏi tiếp, “Sao các ông không tự đào tạo ai đó?”
Dunn nói tiếp, “Đây là điểm thứ ba, cũng là điểm quan trọng nhất. Bởi cậu đã trải qua một sự kiện tương tự, việc mời cậu không vi phạm điều khoản bảo mật. Còn nếu tôi tuyển mộ người khác mà thất bại thì tôi sẽ phải chịu trách nhiệm vì để lộ bí mật. Hầu hết các đội viên và nhân viên hành chính của chúng tôi đều đến từ nội bộ Giáo hội.”
Klein nghe xong, tò mò hỏi, “Tại sao các ông phải giữ bí mật kín kẽ như vậy? Nếu những chuyện này được công bố và lan truyền rộng rãi, chẳng phải sẽ giúp nhiều người tránh được việc lặp lại những sai lầm tương tự sao? Nỗi sợ hãi lớn nhất đến từ những gì chưa biết. Vậy chúng ta hãy biến những điều chưa biết thành đã biết.”
“Không. Sự ngu ngốc của con người nằm ngoài sức tưởng tượng của cậu. Ngược lại, điều này sẽ khiến những kẻ bắt chước xuất hiện ngày càng nhiều, dẫn đến hỗn loạn và những sự cố nghiêm trọng hơn.” Dunn Smith lắc đầu nói.
Klein “ừ' một tiếng, tỏ vẻ thấu hiểu, “Thứ duy nhất con người học được từ lịch sử chính là con người không bao giờ rút ra được bài học nào từ quá khứ. Chúng ta cứ lặp đi lặp lại những bi kịch như thế.”
“Câu danh ngôn đó của Hoàng đế Roselle quả là đầy triết lý.” Dunn tỏ vẻ đồng tình.
... Hoàng đế Roselle đã nói điều đó? Tiền bối xuyên không này thực sự đã chặt đứt mọi cơ hội được ra vẻ ta đây của người đến sau… Klein nhất thời không biết nên đáp lại thế nào.
Dunn quay đầu nhìn ra ngoài xe. Ánh vàng nhạt của những ngọn đèn đường đan xen thành ánh hào quang của văn minh.
“Trong nội bộ cơ quan tư pháp của các Đại Giáo hội cũng có một câu nói tương tự. Có lẽ đây mới là lý do chính của việc bảo mật nghiêm ngặt và cấm người thường biết đến.”
“Nó là gì vậy?” Klein hưng phấn hỏi, cảm thấy thích thú khi được nhòm ngó bí mật.
Dunn xoay đầu, vẻ không thoải mái thoáng qua gương mặt ông, “Niềm tin và nỗi sợ sẽ mang lại rắc rối. Niềm tin và nỗi sợ càng lớn thì rắc rối cũng càng lớn, cho đến khi tất thảy diệt vong.” Nói xong những lời này, Dunn thở dài. “Con người chỉ có thể khẩn cầu thần linh trợ giúp và phù hộ chứ không có cách nào giải quyết những rắc rối thực sự nghiêm trọng kia.”
Niềm tin và nỗi sợ hãi sẽ mang lại rắc rối. Niềm tin và nỗi sợ càng lớn thì rắc rối cũng càng lớn... Klein thầm nhẩm. Anh không thể hiểu thấu những từ ấy. Cảm giác không biết khiến anh trở nên sợ hãi, như thể những cái miệng há to và con mắt hiểm độc đang lẩn khuất đâu đó trong trong bóng tối dưới đèn hoặc nơi ánh sáng không thể vươn tới.
Vó ngựa thoăn thoắt, bánh xe xoay tròn. Xa xa đã thấy phố Chữ Thập Sắt. Dunn phá vỡ sự im lặng đột ngột, chính thức lên tiếng mời, “Cậu có muốn gia nhập và trở thành một nhân viên hành chính của chúng tôi không?”
Biết bao suy nghĩ lóe qua tâm trí. Klein chưa thể đưa ra quyết định vào lúc này, bèn suy nghĩ một lát rồi nói, “Để tôi cân nhắc thêm, được chứ?”
Trước vấn đề quan trọng như vậy, anh không thể đưa ra quyết định một cách vội vàng và thiếu thận trọng được.
“Không sao, chỉ cần trả lời trước Chủ Nhật là được.” Dunn gật đầu. “Quan trọng nhất là cậu phải giữ kín chuyện về Welch và không được nói với bất kỳ ai, kể cả anh trai và em gái của cậu. Hễ vi phạm thì không chỉ gây rắc rối cho họ mà cậu còn có thể bị đưa ra tòa án đặc biệt đấy.”
“Vâng.” Klein trịnh trọng đáp.
Thùng xe lại chìm trong yên lặng.
Khi thấy phố Chữ Thập Sắt đã hiện ra trước mắt và sắp về đến nhà, Klein chợt nghĩ đến một điều. Anh do dự vài giây rồi lên tiếng hỏi, “Thưa ông Smith, mức lương và chế độ đãi ngộ của nhân viên hành chính chỗ các ông như thế nào vậy?”
Đây là một vấn đề nghiêm túc...
Dunn ngạc nhiên một thoáng rồi cười bảo, “Không cần phải lo về điều đó đâu. Kinh phí của chúng tôi được đảm bảo bởi Giáo hội và Sở Cảnh sát. Nhân viên hành chính mới vào làm sẽ có mức lương tuần là 2 Bảng 10 Soli, cộng thêm 10 Soli trợ cấp giữ bí mật và rủi ro, tổng cộng là 3 Bảng, không kém giảng viên đại học trong biên chế là bao. Sau này, mức lương sẽ tăng dần dựa theo thời gian và thành tích công tác của cậu. Hợp đồng thông thường là năm năm. Sau năm năm, nếu không muốn làm nữa thì cậu có thể nghỉ việc, chỉ cần ký thêm một thỏa thuận giữ bí mật suốt đời là được. Khi không có sự chấp thuận từ chúng tôi thì cậu không được phép rời khỏi Tingen. Nếu chuyển đến thành phố khác, cậu sẽ phải tìm Kẻ Gác Đêm ở đó để đăng ký ngay lập tức. À phải rồi, chúng tôi không có ngày nghỉ cố định mà sẽ thay phiên, vì phải đảm bảo luôn có ba nhân viên tức trực. Nếu cậu muốn đi du lịch miền Nam hay vịnh Desi thì phải thỏa thuận trước với đồng nghiệp.”
Dunn vừa dứt lời thì xe ngựa dừng lại, tòa nhà nơi gia đình Klein sinh sống hiện ra bên cạnh.
“Tôi hiểu rồi.” Klein bước xuống và đứng bên cạnh xe. “À ông Smith, sau khi cân nhắc xong thì tôi tìm ông ở đâu?”
Dunn khẽ cười, “Cậu hãy đến 'Quán Rượu Chó Săn' ở phố Besik, tìm chủ quán Wight và nói cậu cần thuê một đội lính đánh thuê làm nhiệm vụ.”
“Hở?” Klein không hiểu.
“Địa chỉ của chúng tôi cũng là bí mật. Trước khi cậu đồng ý thì tôi không thể nói thẳng cho cậu. Được rồi, cậu Klein, chúc cậu đêm nay vẫn có một giấc mơ đẹp.” Dunn mỉm cười tạm biệt.
Klein ngả mũ chào, đưa mắt nhìn theo cỗ xe từ từ lăn bánh rồi tăng tốc.
Anh lấy chiếc đồng hồ bỏ túi ra bấm nắp. Lạch cạch. Mới bốn giờ sáng. Gió mát lướt qua phố mang theo cảm giác dễ chịu, ánh đèn đường vàng nhạt tỏa khắp nơi.
Klein hít một hơi thật sâu, cảm thụ đêm khuya tĩnh lặng. Khu phố ồn ào nhộn nhịp nhất vào ban ngày bỗng trở nên quạnh quẽ và yên tĩnh vào ban đêm, hoàn toàn khác với ánh nhìn lặng lẽ và sự thông linh huyễn hoặc ở nhà Welch. Bấy giờ, anh mới phát hiện lưng áo sơ mi lanh của mình đã ướt đẫm mồ hôi lạnh.
Phù, cuối cùng cũng vượt qua ải “Người Thông Linh” rồi... Klein thở phào. Anh chậm rãi quay người, thong thả bước về phía cổng tòa nhà, tận hưởng làn gió đêm mát lành và sự yên tĩnh của màn đêm.
Anh móc chìa khóa ra, cắm vào ổ, nhẹ nhàng vặn một cái, bóng tối pha sắc đỏ dần tỏa ra cùng tiếng kẽo kẹt.
Bước đi trên cầu thang vắng vẻ, hít thở bầu không khí lạnh buốt, Klein bỗng có cảm giác kỳ diệu như thể mình vừa được sống thêm mấy tiếng so với người khác. Điều đó khiến bước chân anh trở nên nhẹ bẫng.
Kẹt! Anh mở cửa phòng với tâm trạng đó. Còn chưa kịp bước vào, anh đã thấy một bóng người lặng lẽ ngồi trong bóng tối trước bàn học. Mái tóc đen ánh đỏ, đôi mắt nâu trong trẻo cùng gương mặt thanh tú. Là Melissa Moretti!
“Klein, anh đã đi đâu vậy?” Nét mặt Melissa giãn ra khi em hỏi.
Không đợi Klein trả lời, em liền nói thêm như muốn làm rõ mọi việc, “Em vừa dậy đi vệ sinh thì thấy anh không có ở nhà.”
Với kinh nghiệm phong phú trong việc nói dối cha mẹ, Klein nhanh trí nghĩ ra lý do và thản nhiên cười gượng, “Nửa đêm anh bị bừng tỉnh rồi không ngủ lại được nữa, thay vì cứ nằm lãng phí thời gian thì chi bằng ra ngoài chạy vài vòng cho khỏe. Em xem, toát hết mồ hôi rồi này.”
Klein cởi áo khoác, xoay nửa người, chỉ vào phần lưng.
Melissa đứng lên, lơ đãng liếc nhìn. Em ngập ngừng vài giây và nói, “Klein, thực ra anh không cần... không cần áp lực quá đâu. Anh chắc chắn sẽ qua được vòng phỏng vấn của đại học Tingen mà. Dù không được... ý em là giả sử vậy... anh vẫn có thể tìm được chỗ tốt hơn.”
Anh còn chẳng nghĩ gì tới chuyện phỏng vấn... Klein chỉ gật đầu bảo, “Anh hiểu.” Chứ không nhắc đến offer (lời mời công việc) mà mình nhận được vì chưa biết có nên đi hay không.
Melissa nhìn chằm chằm anh một lát trước khi đột ngột xoay người, lon ton chạy vào phòng trong, mang một món đồ hình con rùa được ghép từ bánh răng, sắt gỉ, lò xo và dây cót ra ngoài. Em vặn dây cót thật nhanh rồi đặt nó lên bàn học. Lách cách... Tạch tạch... Con rùa vừa đi vừa nhún nhảy theo nhịp, khiến người ta không tự chủ nhìn về phía nó.
“Mỗi khi buồn phiền, em chỉ cần nhìn nó chuyển động là thấy dễ chịu hơn hẳn. Dạo này em toàn làm thế thôi. Hiệu quả lắm! Klein, anh thử xem.” Melissa hào hứng mời với đôi mắt sáng rực.
Klein không từ chối thiện chí của em gái mình. Anh đến gần con rùa, đợi nó dừng lại mới cười nói, “Những chuyển động đơn giản lặp đi lặp lại như thế này quả thực có thể giúp người ta thư giãn.” Không chờ Melissa đáp lời, anh chỉ vào con rùa và thuận miệng hỏi. “Em tự làm à? Làm lúc nào vậy? Sao anh không biết nhỉ?”
“Em đã tận dụng vật liệu bỏ ở trường và những thứ nhặt trên đường để làm đấy. Hai hôm trước mới xong.” Vẻ mặt Melissa vẫn như thường lệ, chỉ có khóe miệng hơi nhếch lên.
“Giỏi ghê.” Klein cất lời khen từ tận đáy lòng.
Là một cậu bé có kỹ năng lắp ráp cơ giới kém cỏi, anh vẫn nhớ mình từng phải vật lộn với việc ráp một chiếc xe đồ chơi bốn bánh lúc nhỏ như thế nào.
Melissa khẽ ngẩng cằm, mắt cong cong, đáp bằng giọng bình thản, “Tàm tạm thôi ạ.”
“Khiêm tốn quá mức là một đức tính xấu.” Klein cười khẽ. “Đây là con rùa hả?”
Không khí trong phòng bỗng đọng lại, Melissa cất giọng nhẹ như làn the hồng, “Là búp bê.”
Búp bê… Klein ngượng nghịu cười, cố giải thích, “Là do vật liệu còn quá đơn sơ.” Ngay sau đó, anh chuyển chủ đề. “Sao em lại đến phòng tắm chung vào lúc nửa đêm vậy? Trong phòng em có wc mà? Bình thường em hay ngủ một mạch đến sáng nhỉ?”
Melissa lập tức ngẩn người. Phải mất mấy giây, em mới chuẩn bị mở miệng giải thích. Đúng lúc này, tiếng ùng ục phát ra từ bụng Melissa.
“Em… em ngủ tiếp đây!”
Rầm! Em tóm lấy con búp bê giống rùa của mình rồi chạy vội về phòng trong và sập cửa lại.
Xem chừng bữa tối hôm qua ngon quá, ăn nhiều nên bị khó tiêu đây mà... Klein lắc đầu cười, chậm rãi đi về phía bàn làm việc, lặng lẽ ngồi xuống ghế. Dưới vầng trăng đỏ thẫm đang ló ra từ sau những đám mây đen, anh suy nghĩ về lời mời của Dunn Smith.
Những nhược điểm khi trở thành nhân viên hành chính của đội Kẻ Gác Đêm rất rõ ràng: Mình vừa là kẻ xuyên không, vừa là 'Kẻ Khờ' khởi xướng buổi tụ họp bí ẩn. Với không ít bí mật trên người như vậy, thường xuyên lượn lờ trước mặt đội ngũ chuyên xử lý sự kiện siêu nhiên của Giáo hội Nữ thần Đêm Đen là một việc khá liều lĩnh; nếu gia nhập nhóm Dunn Smith, mình nhất định phải đặt mục tiêu trở thành Kẻ Phi Phàm để che giấu những gì đạt được từ buổi tụ họp; nhưng trở thành Kẻ Phi Phàm, thành thành viên chính thức thì chắc chắn sẽ bị hạn chế tự do. Ngay cả nhân viên hành chính muốn rời khỏi Tingen cần phải trình báo, không thể muốn đi đâu thì đi, muốn làm gì thì làm, sẽ bỏ lỡ rất nhiều cơ hội;
Kẻ Gác Đêm là một tổ chức nghiêm ngặt. Một khi có nhiệm vụ, mình chỉ có thể chờ lệnh và chấp hành chứ không thể từ chối; hơn nữa Kẻ Phi Phàm còn có nguy cơ bị mất khống chế…
Sau khi liệt kê hết những mặt trái trong đầu, Klein chuyển sang cân nhắc tính cần thiết và những lợi ích đi kèm.
Những chuyện xảy ra gần đây cùng nghi lễ đổi vận đã chứng tỏ mình không thuộc nhóm tám mươi phần người may mắn mà Dunn Smith nói. Kiểu gì mình cũng sẽ phải đối mặt với những sự kiện quái dị hoặc nguy hiểm. Chỉ có trở thành Kẻ Phi Phàm hoặc gia nhập Kẻ Gác Đêm thì mới đủ sức chống đỡ; muốn trở thành Kẻ Phi Phàm thì không thể trông chờ vào mỗi buổi tụ họp. Kiếm Công Thức Ma Dược không khó. Khó ở chỗ là mình không biết tìm nguyên liệu ở đâu, lấy bằng cách nào, điều chế ra sao và những kiến thức rèn luyện thường ngày của Kẻ Phi Phàm. Không thể chuyện gì cũng hỏi “Công Lý” và “Người Treo Ngược”, cái gì cũng giao dịch với họ. Làm vậy không chỉ khiến hình tượng “Kẻ Khờ” bị tổn hại mà còn khiến đối phương sinh nghi. Chưa kể họ cũng không có dư thời gian để giải đáp những chuyện vụn vặt. Và mình cũng không có gì đáng giá để trao đổi với họ; mặt khác, thường xuyên giao dịch vật chất sẽ làm tăng nguy cơ bại lộ danh tính ở thế giới thực. Một khi tranh chấp trực tuyến biến thành xung đột ngoại tuyến thì rắc rối to;
Gia nhập Kẻ Gác Đêm, mình chắc chắn sẽ được tiếp xúc với những kiến thức cơ bản và nguồn lực liên quan tới thế giới huyền bí, đồng thời xây dựng được mạng lưới quan hệ cần thiết. Lấy đó làm bàn đạp, mình mới có thể vận hành buổi tụ họp một cách trơn tru, gặt hái lợi ích lớn nhất từ “Công Lý” và “Người Treo Ngược”. Ngược lại, điều này cũng giúp mình cải thiện địa vị ngoài đời, có thêm nhiều tài nguyên, tạo thành một vòng tuần hoàn tốt đẹp.
Dĩ nhiên, mình cũng có thể thử tìm kiếm “Hội Tâm Lý Luyện Kim” mà Dunn hé lộ. Đó là một tổ chức bị các Đại Giáo hội chèn ép. Nói cách khác, trở thành thành viên của họ đồng nghĩa với việc mất đi tự do và lúc nào cũng phải sống trong cảnh nơm nớp lo sợ. Quan trọng nhất là mình hoàn toàn không biết tìm họ ở đâu. Dù moi được thông tin từ 'Người Treo Ngược' đi nữa, tùy tiện tiếp cận những kẻ như thế có thể khiến tính mạng mình lâm nguy; chi bằng cứ làm công chức nhà nước trước, như vậy vừa có thời gian để chuẩn bị lại vừa có đường lui. Ẩn mình nơi hoang dã là hạ sách, ẩn mình giữa chợ đời là trung sách, còn ẩn mình chốn quan trường mới là thượng sách. Kẻ Gác Đêm có vẻ là một vỏ bọc hoàn hảo; chờ đến khi leo lên vị trí cao trong Pháp Đình thì ai mà ngờ được mình lại là một kẻ dị giáo, là kẻ giật dây đứng sau một tổ chức bí mật chứ?
Ánh bình minh ló rạng, sắc đỏ thẫm dần tan, Klein ngắm nhìn vầng dương vàng rực nơi chân trời và hạ quyết tâm – Hôm nay mình sẽ đến gặp Dunn Smith, trở thành nhân viên hành chính của Kẻ Gác Đêm!
“Anh không ngủ à?” Lúc này, Melissa lại rời giường. Em đẩy cửa ra, ngạc nhiên thấy anh trai mình đang vươn vai một cách thoải mái.
“Anh nghĩ một số chuyện.” Klein mỉm cười, người nhẹ bẫng.
Melissa ngẫm nghĩ một lát rồi nói, “Mỗi lần gặp chuyện khó nghĩ, em thường liệt kê từng điều tốt và xấu ra để so sánh, như vậy sẽ biết mình nên làm gì.”
“Thói quen tốt đấy, anh cũng hay làm vậy.” Klein cười đáp.
Melissa giãn đôi mày, không nói gì thêm, cầm tờ giấy nháp khổ lớn đã ngả vàng và đồ dùng rửa mặt đi đến phòng tắm chung.
Sau bữa sáng, em gái rời đi, Klein không vội ra ngoài ngay mà tranh thủ ngủ bù một giấc với tâm trạng phấn chấn. Theo anh biết, hầu hết các quán rượu đều không mở cửa vào buổi sáng. Đến hai giờ chiều, anh dùng bàn chải nhỏ và khăn tay vuốt phẳng những nếp nhăn trên mũ, lau sạch các vết bẩn để nó có vẻ tươm tất hơn. Tiếp theo, anh diện bộ trang phục chính thức ra đường, trông như đi phỏng vấn.
Phố Besik hơi xa, Klein sợ lỡ giờ làm của Kẻ Gác Đêm nên không đi bộ mà đứng đợi xe ngựa công cộng ở đầu phố Chữ Thập Sắt.
Ở Vương quốc Loen, xe ngựa công cộng chia làm hai loại: không ray và có ray. Loại không ray do hai con ngựa kéo có thể chở được khoảng hai mươi người nếu tính cả nóc xe thường chạy trong một khu vực nhất định, không có điểm dừng cụ thể, cứ có người vẫy là dừng, trừ khi đã kín chỗ; loại có ray do Công ty Xe ngựa Có ray vận hành, họ lắp đặt hệ thống tương tự như đường ray trên các phố lớn, ngựa sẽ chạy theo rãnh ở giữa, còn bánh xe lăn trên ray, nhờ đó nhẹ nhàng và ít tốn sức hơn, cho phép kéo theo một toa xe hai tầng cỡ lớn chở được gần năm mươi hành khách. Vấn đề duy nhất là tuyến đường và điểm dừng đều cố định, nhiều nơi không thể tới, khá là cứng nhắc.
Khoảng mười phút sau, từ xa vọng lại tiếng bánh xe lăn trên đường ray, một chiếc xe ngựa hai tầng đỗ trước điểm dừng ở phố Chữ Thập Sắt.
“Cho tôi đến phố Besik.” Klein nói với tay xà ích.
“Thế thì anh phải xuống ở phố Champagne rồi chuyển tuyến, hoặc là đi bộ thôi. Từ đó đến phố Besik mất độ mười phút gì đó.” Xà ích đáp.
“Vậy đi phố Champagne.” Klein gật đầu.
“Hơn bốn ki-lô-mét, 4 Penny.” Chàng trai mặt mày trắng trẻo ngồi cạnh xà ích chìa tay ra. Anh ta là người thu tiền.
“Đây.” Klein lấy 4 Penny đưa cho đối phương.
Anh lên xe, thấy khách không đông lắm, ngay cả tầng một cũng còn vài chỗ trống.
“Trong túi chỉ còn 3 Penny, lát phải cuốc bộ về rồi...” Klein đè mũ, ngồi xuống cho vững.
Đa số các ông các bà ngồi ở tầng xe này đều ăn mặc chỉn chu và ngồi ngay ngắn. Nhưng vẫn có người mặc đồ lao động đang nhàn nhã đọc báo. Chẳng mấy ai nói chuyện nên khá yên tĩnh.
Klein nhắm mắt nghỉ ngơi, không để ý đến những hành khách lên xuống xung quanh. Hết chặng này đến chặng khác, cuối cùng anh cũng nghe thấy hai chữ 'phố Champagne'. Xuống xe, Klein hỏi thăm người đi đường, chẳng mấy chốc tìm được phố Besik và nhìn thấy quán rượu có biển hiệu hình con chó săn màu nâu vàng.
Klein đưa tay phải ra đẩy mạnh. Cánh cửa nặng nề từ từ mở ra, tiếng ồn ào và hơi nóng hầm hập ùa tới. Tuy còn là buổi chiều, trong quán đã có khá nhiều khách. Nhiều người là lao động thời vụ đến đây tìm việc và chờ được thuê, cũng có kẻ vô công rồi nghề chỉ biết mượn rượu giải sầu.
Bên trong quán khá tối tăm. Ở giữa dựng hai chiếc lồng sắt lớn, một phần ba đáy lồng cắm sâu xuống đất không để lại khe hở. Mọi người cầm cốc gỗ, vây quanh lồng, khi thì lớn tiếng bàn tán, lúc lại chửi rủa, cười đùa.
Klein tò mò nhìn vào, thấy bên trong nhốt hai con chó. Một con lông trắng pha đen rất giống chó Husky ở Trái Đất. Con kia lông đen tuyền, bóng mượt, to khỏe và hung dữ.
“Muốn cược không? Douglas đang thắng tám trận liên tiếp đấy!” Một gã đàn ông lùn tịt đội chiếc mũ mềm màu nâu đến gần và chỉ vào con chó đen.
Cá cược? Klein sửng sốt một chút rồi chợt hiểu, “Chọi chó à?”
Hồi còn học ở Đại học Khoy, đám cậu ấm cô chiêu hay hỏi mình bằng giọng khinh khỉnh rằng có phải đám công nhân thô lỗ và lũ du côn không nghề không nghiệp thường tụ tập ở quán rượu để đánh đấm và cá độ không? Ngoài đấm bốc và đánh bài ra, có phải còn có những trò tàn nhẫn, máu me như chọi gà, chọi chó không?
Gã lùn cười khẩy, “Này anh, chúng tôi là người văn minh, ai lại làm mấy trò mất mặt đó.” Nói đến đây, gã lẩm bẩm. “Vả lại năm ngoái đã có luật cấm mấy trò này rồi...”
“Vậy mấy người cược cái gì?” Klein nhất thời tò mò.
“Xem con nào là thợ săn giỏi hơn.” Gã lùn vừa dứt lời thì đám đông ồ lên. Gã quay lại nhìn, phấn khích xua tay. “Ván này bắt đầu rồi, không cược được nữa, anh đợi ván sau nhé.”
Klein nghe vậy bèn kiễng chân, ngẩng đầu lên nhìn. Anh thấy hai gã đàn ông lực lưỡng kéo hai bao tải đến cạnh lồng sắt, mở cửa lồng và đổ thứ bên trong vào.
Đó là những con vật xám xịt, kinh tởm! Klein cẩn thận quan sát mới nhận ra chúng là chuột. Hơn mấy trăm con chuột!
Bởi phần dưới lồng cắm sâu xuống đất, không có kẽ hở nào nên lũ chuột nháo nhào chạy tán loạn vẫn không tìm ra lối thoát. Lúc này, cửa lồng đóng sập lại, xích của hai con chó cũng được tháo ra.
“Gâu!” Con chó đen lao tới, ngoạm chết một con chuột.
Con chó có bộ lông trắng pha đen kia ban đầu ngơ ngác, sau đó phấn khích chơi đùa với lũ chuột.
Những người xung quanh nâng chén, chăm chú nhìn hoặc lớn tiếng hét.
“Cắn chết nó! Cắn chết nó!”
“Douglas! Douglas!”
Ra là chó bắt chuột... Klein bừng tỉnh, khóe miệng giật giật. Hóa ra ở đây người ta cá cược xem con chó nào bắt được nhiều chuột hơn, có khi còn cược cả số lượng cụ thể... Thảo nào lại có người thu mua chuột sống ở khu Chữ Thập Sắt, đúng là đặc sắc thật...
Klein lắc đầu cười, lách khỏi đám đông chen chúc và đến trước quầy bar.
“Người mới à?” Người pha chế vừa lau cốc vừa ngẩng đầu nhìn anh, “Một cốc bia lúa mạch đen là 1 Penny, bia Enmat là 2 Penny, bia Southville 4 Penny. Hay cậu muốn một ly Lanti ủ từ mạch nha nguyên chất?”
“Tôi tìm ông Wright.” Klein nói thẳng.
Người pha chế huýt sáo rồi gọi với vào trong, “Lão già, có người tìm lão này.”
“Hửm, thằng nào...” Một giọng nói lè nhè vang lên. Một ông già say khướt đứng dậy từ sau quầy.
Ông ta dụi mắt, nhìn Klein và hỏi, “Nhóc, mày tìm tao?”
“Ông Wright, tôi muốn thuê một đội lính đánh thuê làm nhiệm vụ.” Klein nhắc lại lời dặn của Dunn.
“Đội lính đánh thuê? Cậu đang sống trong truyện phiêu lưu đấy à? Mấy thứ đó thành dĩ vãng lâu lắm rồi!” Người pha chế cười chen ngang.
Wright im lặng vài giây trước khi hỏi, “Ai bảo mày đến đây?”
“Dunn. Dunn Smith.” Klein thành thật đáp.
Wright cười khà khà, “Tao biết ngay mà. Thực ra… tiểu đội lính đánh thuê vẫn tồn tại, chỉ đổi sang hình thức khác, lấy cái tên hiện đại hơn mà thôi. Mày đến tầng 2 số nhà 36 phố Zouteland sẽ thấy.”
“Cảm ơn ông.” Klein chân thành cảm ơn rồi xoay người chen ra khỏi quán bar.
Lúc anh đi đến cửa, đám khách nhậu đang túm tụm một chỗ bỗng im bặt, chỉ còn tiếng thì thào nho nhỏ.
“Douglas thực sự thua…”
“Thua…”
Klein buồn cười lắc đầu, rảo bước rời khỏi quán và đi tới phố Zouteland gần đó.
“30, 32, 34… Đây rồi.” Anh đếm số nhà trước khi bước lên cầu thang.
Vòng qua chỗ ngoặt và leo lên từng bước, anh trông thấy tấm biển dọc có ghi tên hiện tại của cái gọi là đội lính đánh thuê – “Công ty An ninh Blackthorn”.
Nhìn thấy bảng hiệu, Klein sững sờ hồi lâu, vừa bất ngờ lại vừa thấy rất hợp tình hợp lý. Đúng là... không biết phải nói thế nào nữa... Anh lắc đầu cười rồi đặt chân lên bậc thềm, đưa tay phải ra, gõ nhẹ lên cánh cửa khép hờ.
Cốc, cốc, cốc!
Tiếng gõ chậm rãi mà nhịp nhàng vang dội, nhưng trong phòng không có tiếng đáp lại, chỉ láng máng nghe được tiếng ‘cạch, cạch, cạch’.
Cốc cốc cốc! Klein gõ lại lần nữa, kết quả vẫn như cũ.
Anh đổi từ gõ sang đẩy. Khi khe cửa rộng ra, Klein nhìn thấy một bộ sô pha cổ điển không biết có phải dùng để tiếp khách hay không, một chiếc ghế bành bọc đệm và một chiếc bàn trà bằng gỗ màu tự nhiên. Đối diện cửa là một chiếc bàn, cùng với một cô gái tóc nâu đang gục đầu xuống.
Mặc dù bảng hiệu công ty bảo vệ chỉ để ngụy trang, nhưng thế này thì thật là… quá thiếu chuyên nghiệp đấy? Chỗ này bao lâu không có khách rồi? Thôi, dù gì mấy người cũng đâu cần phải kinh doanh. Klein một mặt oán thầm, một mặt tiến lại gần và gõ nhẹ lên bàn hai tiếng ngay cạnh tai cô gái.
Cộc, cộc!
Cô gái tóc nâu giật mình ngồi thẳng người, quơ lấy tờ báo đang mở lên để che kín cả khuôn mặt.
“Báo Người Trung Thực Thành phố Tingen”, tên hay đấy… Klein đọc nhẩm tiêu đề tờ báo đang quay về phía mình.
“Đoàn tàu hơi nước ‘Phi Tường’ đến thẳng thành phố Constant chính thức được đưa vào hoạt động kể từ hôm nay… Thiệt là, lúc nào mới có tuyến đi thẳng đến vịnh Desi đây? Mình chán ngồi thuyền lắm rồi, rất khó chịu, vô cùng khó chịu… Ủa, anh là ai?” Cô gái tóc nâu giả vờ đọc một lèo và đưa ra ý kiến của mình. Vừa nói, cô vừa hạ tờ báo xuống, để lộ vầng trán mịn màng và đôi mắt màu nâu nhạt. Cái nhìn nịnh nọt chuyển thành kinh ngạc khi nhìn thấy Klein.
“Xin chào, tôi là Klein Moretti, đến đây theo lời mời của ông Dunn Smith.” Klein cởi mũ, đặt trên ngực và hơi cúi đầu.
Cô gái tóc nâu chừng đôi mươi, mặc một chiếc váy dài nhẹ nhàng màu xanh nhạt kiểu Loen. Những đường ren đính ở cổ tay, cổ áo và trước ngực càng làm tôn lên khuôn mặt khả ái của cô.
“Đội trưởng… À vâng, anh đợi đây một chút. Tôi đi hỏi ông ấy đã.” Cô gái tất tả chạy vào phòng trong.
Quên cả rót nước mời khách. Ý thức phục vụ kém thật… Klein mỉa thầm, anh đứng chờ tại chỗ chứ không ngồi xuống bộ sô pha gần đó.
Khoảng hai đến ba phút sau, cô gái tóc nâu đẩy cửa bước ra, mỉm cười ngọt ngào, “Anh Moretti, xin hãy đi theo tôi. Hôm nay đội trưởng phải trực ở Cổng Chanis, không thể rời đi được.”
“Được.” Klein bình tĩnh bước theo, trong lòng thì thắc mắc: Cổng Chanis là gì?
Qua vách ngăn, điều đầu tiên đập vào mặt anh là một hành lang ngắn, mỗi bên có khoảng ba phòng làm việc. Phòng được khóa chặt, phòng thì mở toang, có thể thấy những người bên trong đang gõ lạch cạch không ngừng trên những chiếc máy đánh chữ cơ khí nặng nề.
Lướt mắt qua, Klein còn phát hiện ra một người quen. Đó là viên cảnh sát trẻ tuổi tóc đen mắt xanh có khí chất lãng mạn của một nhà thơ đã đến khám xét nhà anh hôm nọ. Anh ta không mặc âu phục, áo sơ mi trắng cũng không được sơ vin, trông rất phóng khoáng.
Có lẽ anh ta thực sự là một nhà thơ... Klein nhủ thầm trong khi gật đầu chào. Đối phương đáp lại bằng một nụ cười mỉm.
Cô gái tóc nâu vặn tay nắm của căn phòng bên trái cuối hành lang, đẩy cửa ra, chỉ vào trong và líu lo nói, “Còn phải xuống mấy tầng cầu thang nữa.”
Không có đồ vật nào trong phòng này, ngoại trừ một cầu thang đá xám kéo dài dẫn xuống dưới. Hai bên tường cầu thang có gắn những chiếc đèn khí kiểu cổ điển. Ánh sáng ổn định xua tan bóng tối, mang lại cảm giác yên bình.
Cô gái tóc nâu dẫn đường nhìn xuống chân, đặt bước rất cẩn thận, “Mặc dù thường xuyên đi qua chỗ này, nhưng tôi vẫn cứ sợ, cứ lo mình sẽ ngã dúi dụi. Anh không biết chứ Leonard từng làm trò ngu xuẩn ấy rồi. Vào ngày đầu tiên trở thành 'Người Không Ngủ', lúc anh ta còn chưa hoàn toàn làm chủ được sức mạnh của bản thân ấy, Leonard đã định dùng tốc độ chạy nước rút để lao xuống, sau đó lăn lông lốc như cái bánh xe. Haha, nghĩ lại mà thấy buồn cười. Ừ, chính là cái người vừa chào hỏi anh đó. Chuyện đó xảy ra vào ba năm trước rồi. Nhắc mới nhớ, tôi đã gia nhập Kẻ Gác Đêm được năm năm, khi ấy tôi mới mười bảy tuổi…” Cô gái vừa nhìn đường vừa nói chuyện như thể hai người rất thân thiết. Đoạn, cô vỗ trán bảo. “Tôi quên chưa giới thiệu, tôi là Rozanne. Cha tôi là thành viên chính thức của Kẻ Gác Đêm, đã hy sinh trong một vụ tai nạn cách đây năm năm. Về sau chúng ta hẳn sẽ là đồng nghiệp rồi, dùng từ ‘đồng nghiệp’ chắc là đúng nhỉ? Dù sao chúng ta cũng không phải là Kẻ Phi Phàm, không thể tính là ‘đồng đội’ được.”
“Tôi hy vọng có được vinh dự ấy, nhưng cuối cùng còn phải xem ông Smith nói thế nào đã.” Klein đánh giá không gian khép kín xung quanh. Trực giác cho anh biết hai người đã xuống đến lòng đất, hơi ẩm lạnh toát ra từ vách đá, xua tan cái nóng của mùa hè.
“Yên tâm, đội trưởng để anh đến thẳng đây thế này thì tức là đã đồng ý rồi. Tôi luôn có chút sợ đội trưởng. Tuy ông ấy rất tốt bụng, rất biết săn sóc người khác, cho tôi cảm giác giống hệt như một người cha, chính là không hiểu sao tôi vẫn thấy sợ.” Giọng Rozanne ngọt như mía lùi.
Klein hài hước đáp lại, “Sợ bố là chuyện rất bình thường mà?”
“Chí lý.” Rozanne vịn tường ở góc ngoặt.
Vừa nói, hai người vừa đi hết cầu thang xoắn ốc xuống một khoảng đất bằng lát đá tảng. Đây là một hành lang dài, hai bên tường khảm những ngọn đèn khí đốt được bao quanh bởi lưới kim loại. Ánh sáng vẩy xuống khiến bóng của Klein và Rozanne đổ dài. Klein tinh ý nhận ra những Huy hiệu Thần thánh Hắc ám được đặt cách đều trên tường. Chúng có nền đen tuyền với những đốm sao lấp lánh bao quanh nửa vầng trăng đỏ thắm. Đó chính là biểu tượng của Nữ Thần Đêm Đen. Đi giữa những huy hiệu trông không có gì đặc biệt này, tâm trạng Klein dần trở nên bình thản. Rozanne cũng im lặng, không còn huyên thuyên như lúc nãy nữa.
Chẳng mấy chốc, một ngã tư hiện ra phía trước, cô gái tóc nâu giới thiệu ngắn gọn, “Rẽ trái là đến Nhà thờ Thánh Selena, rẽ phải là kho vũ khí, vật liệu và kho tư liệu, đi thẳng là cổng Chanis.”
Nhà thờ Thánh Selena? Chẳng lẽ phố Zouteland nằm ngay sau phố Ánh Trăng Đỏ? Nghe thế, Klein có chút ngẩn ngơ.
Nhà thờ Thánh Selena ở phố Ánh Trăng Đỏ là trụ sở chính của Giáo hội Nữ Thần Đêm Đen tại Tingen, là chốn linh thiêng mà những tín đồ sùng đạo ở địa phương đều hướng tới. Cùng với Nhà thờ Thánh Số của Giáo hội Thần Hơi Nước Và Máy Móc ở ngoại ô và Nhà thờ Sông và Biển của Giáo hội Chúa Tể Gió Bão ở quận Bắc Tingen, cả ba cùng chiếm vị trí quan trọng trong đời sống tôn giáo của thành phố Tingen và các thị trấn, làng mạc lân cận.
Biết thân phận hiện nay không thích hợp để hỏi nhiều, Klein chỉ im lặng nghe chứ không lên tiếng.
Họ băng qua ngã tư và tiến thẳng về phía trước. Chưa đầy một phút sau, một cổng hai cánh bằng sắt đen có khắc bảy biểu tượng linh thiêng xuất hiện trong tầm mắt hai người. Nó sừng sững ở nơi đó, tức thì gợi lên cảm giác nặng nề, lạnh lẽo và áp đảo, tựa một gã khổng lồ đang thầm lặng canh gác trong đêm tối.
“Cổng Chanis.” Rozanne nhắc một câu, chỉ vào phòng bên cạnh, “Đội trưởng ở bên trong. Anh tự vào nhé.”
“Ừm, cảm ơn cô.” Klein lịch sự đáp.
Căn phòng mà Rozanne chỉ nằm ngay trước Cổng Chanis. Ánh đèn hắt ra từ cửa sổ mở rộng. Klein hít sâu một hơi, bình tĩnh uốn cong đốt ngón tay.
Cốc, cốc, cốc!
“Mời vào.” Giọng nói trầm ấm của Dunn Smith truyền tới.
Klein nhẹ nhàng đẩy cánh cửa khép hờ. Bên trong chỉ có một cái bàn và bốn cái ghế. Dunn Smith với mép tóc cao đang ung dung đọc báo. Ông vẫn mặc chiếc áo măng tô màu đen hôm qua, cạnh hàng cúc áo trước ngực lấp ló một dây xích đồng hồ ánh sắc vàng.
“Ngồi đi. Nghĩ kỹ chưa? Có chắc chắn muốn gia nhập chúng tôi không?” Dunn đặt tờ báo xuống rồi cười hỏi.
Klein cởi mũ, cúi đầu chào. Sau khi ngồi xuống bên bàn, anh từ tốn gật đầu, ‘Vâng, tôi chắc chắn.”
“Vậy cậu hãy xem tờ khế ước này. Haha, bây giờ mọi người thích gọi nó là hợp đồng hơn.” Dunn mở ngăn bàn, lấy ra hai bản hợp đồng giống nhau.
Điều khoản trong đó không nhiều, hầu hết chúng đã được Dunn đề cập. Trọng điểm nằm ở điều khoản giữ bí mật. Những kẻ vi phạm sẽ bị xét xử trực tiếp bởi Hội đồng trọng tài của Nữ Thần Đêm Đen chứ không thông qua Tòa án vương quốc, tựa như binh lính và sĩ quan có tội phải hầu tòa án binh vậy.
Hợp đồng năm năm, lương hàng tuần là 2 Bảng 10 Soli, trợ cấp thêm 10 Soli phí giữ bí mật và rủi ro…
Klein đọc từng dòng một trước khi nghiêm mặt đáp, “Tôi không có thắc mắc.”
“Vậy cậu hãy ký tên đi.” Dunn chỉ vào chiếc bút màu đỏ sẫm và bình mực trên bàn.
Klein dùng một mẩu giấy vụn để thử bút trước. Sau đó anh kín đáo hít một hơi và ký tên mình lên hai bản hợp đồng: Klein Moretti. Do chưa có con dấu, anh đành phải điểm chỉ.
Dunn cầm hợp đồng, lấy một con dấu từ ngăn kéo, lần lượt đóng dấu vào phần cuối và một số điểm quan trọng trên đó. Xong xuôi, ông đứng lên, một tay đưa trả hợp đồng, một tay vươn về phía Klein, “Hoan nghênh cậu. Từ giờ trở đi, cậu chính là một trong số chúng tôi. Hãy lưu ý rằng cậu cũng phải giữ bí mật về hợp đồng đấy.”
Klein đứng theo, nhận hợp đồng và mỉm cười bắt tay đối phương, “Tôi sẽ gọi ông là đội trưởng hả?”
“Đúng thế.” Dưới ánh sáng mờ tối, đôi mắt xám của Dunn trở nên sâu thẳm vô cùng.
Sau khi bắt tay, cả hai ngồi về chỗ cũ. Klein liếc nhìn con dấu trên hợp đồng, phát hiện dòng chữ 'tiểu đội Kẻ Gác Đêm, thành phố Tingen, hạt Awwa, vương quốc Loen', bèn nói, “Thật không ngờ các ông sẽ dùng 'Công ty An ninh Blackthorn' làm vỏ bọc.”
“Thực ra chúng tôi còn có bảng hiệu khác.” Dunn cầm lấy một tờ giấy trong ngăn kéo, phía trên có đóng dấu kép của chính quyền thành phố và sở cảnh sát, nội dung như sau:
Sở Cảnh sát hạt Awwa, vương quốc Loen…
Đội đặc nhiệm số bảy…
“Bốn đội đầu tiên là cảnh sát bình thường chịu trách nhiệm an ninh. Chẳng hạn như Đội bảo vệ yếu nhân hay Đội bảo vệ địa điểm quan trọng, vân vân. Từ đội số năm trở đi thì chuyên xử lý sự kiện siêu nhiên ở các thành phố trong hạt. Đội chúng ta phụ trách những sự kiện liên quan đến tín đồ của Nữ Thần ở Tingen. Nếu có tín ngưỡng khác, trách nhiệm sẽ phân chia theo khu vực. Những khu vực thuộc quản lý của chúng ta là quận Bắc, quận Tây và quận Kim Ngô Đồng.” Dunn giới thiệu sơ lược, “Đội số sáu dưới quyền Thế Phạt Giả của Giáo hội Chúa Tể Gió Bão phụ trách bến cảng, quận Đông, quận Nam. Khu vực trường đại học và vùng ngoại ô thì thuộc quyền Đội số năm, cũng chính là tiểu đội Trái Tim Máy móc ở Tingen.”
“Ừm.” Klein không có thắc mắc nào về vấn đề này, liền mỉm cười nói, “Nếu thực sự có người giao phó nhiệm vụ cho 'Công ty An ninh Blackthorn' thì phải làm sao?”
“Nhận chứ, sao lại không nhận? Miễn là không ảnh hưởng đến công việc thường ngày là được.” Dunn nhẹ nhàng đáp một cách hài hước, “Tiền kiếm được coi như trợ cấp thêm. Các thành viên đều rất vui lòng. Dù sao mấy chuyện lặt vặt phiền toái như tìm chó tìm mèo giờ đã bị đám thám tử tư ôm đồm hết rồi.”
“Tiểu đội Kẻ Gác Đêm chúng ta có tổng cộng bao nhiêu người vậy?” Klein tranh thủ hỏi theo đề tài này.
“Các sự kiện siêu nhiên rất hiếm, Kẻ Phi Phàm càng hiếm hơn. Toàn thành phố Tingen này chỉ có sáu người là thành viên chính thức của tiểu đội Kẻ Gác Đêm, trong đó có tôi. Còn nhân viên văn phòng tính cả cậu vào mới được sáu người.” Dunn từ tốn nói.
Klein gật đầu, cuối cùng hỏi đến chuyện mà anh quan tâm nhất, “Đội trưởng, chuyện Kẻ Phi Phàm mất khống chế trong lời ông là sao? Tại sao lại mất khống chế?”
Trước câu hỏi của Klein, Dunn nhìn ra ngoài cửa sổ thông với hành lang dẫn đến Cổng Chanis. Ông cầm tẩu thuốc, nhét một ít thuốc lá và lá bạc hà vào trước khi đưa lên mũi ngửi một hơi thật sâu và mở miệng bằng giọng phập phồng đầy xúc động, “Chỉ khi ở nhà, tôi mới có thể thoải mái tận hưởng hương vị tuyệt vời của thuốc lá trộn bạc hà… Klein, cậu biết thần thoại sáng thế chứ?”
“Tất nhiên. Hồi còn học vỡ lòng trong trường Chủ nhật của Giáo hội, tôi đã dùng « Ghi chép Khải huyền của Đêm » để học từ. Trong đó có hai chương 'Sách sáng suốt' và 'Bức thư từ các vị Thánh' đều nhắc đến thần thoại sáng thế.” Klein vừa hồi tưởng những mảnh vỡ ký ức của nguyên chủ, vừa chậm rãi nói, “Đấng Tạo Hóa thức tỉnh từ Hỗn Loạn, phá vỡ tối tăm và tạo ra tia sáng đầu tiên. Bản thân Ngài hoàn toàn hòa vào vũ trụ, hóa thành vạn vật. Cơ thể Ngài trở thành mặt đất và các vì sao. Một mắt của Ngài trở thành mặt trời, mắt kia biến thành mặt trăng đỏ. Một phần máu Ngài đổ ra làm biển cùng sông, nuôi dưỡng và thai nghén sự sống…”
Đến đây, Klein bất giác dừng lại. Một phần do ký ức liên quan tới đoạn sau đã phai nhạt, một phần bởi thần thoại sáng thế này có chút giống tích “Bàn Cổ khai thiên tích địa” ở Trái Đất… Dù ở thế giới khác nhau thì trí tưởng tượng về truyền thuyết, thần thoại của người dân vẫn có điểm giống nhau!
Thấy Klein gặp khó, Dunn tiếp lời, “Phổi của Ngài hóa thành Tinh Linh; trái tim Ngài biến thành Người khổng lồ; gan Ngài hóa thành Thụ Nhân; đầu Ngài tạo ra Cự Long; thân Ngài biến thành Rắn lông vũ; tóc ngài hóa thành Chim bất tử; tai Ngài biến thành Quỷ sói; miệng và răng Ngài biến thành Dị chủng; chất lỏng còn lại trong cơ thể Ngài tạo ra các loài quái vật biển, tinh hoa trong đó là Naga; dạ dày, đại tràng, ruột ngon và những phần xấu xa trong cơ thể Ngài chuyển hóa thành ác ma, ác linh và những thực thể tà ác vô danh. Linh hồn Ngài trở thành Mặt Trời Chói Lọi Vĩnh Cửu, Chúa Tể Gió Bão, Thần Tri Thức Và Trí Tuệ…”
“Con người được sinh ra từ trí tuệ của Ngài. Đây chính là Kỷ đầu tiên, Kỷ nguyên Hỗn mang.” Khi nói xong câu kết, Klein vừa buồn cười lại vừa thấy vớ vẩn. Là một “chuyên gia văn hóa dân gian bàn phím”, đây là lần đầu tiên anh tiếp xúc với một thần thoại sáng thế được sắp đặt chi tiết đến vậy, chi tiết đến mức mỗi chủng tộc đáng kể đều được liệt kê cụ thể là hóa thân từ bộ phận nào của Đấng Tạo Hóa, thật giống như đang xếp hàng ngay ngắn vậy...
Không chỉ kinh văn điển tích của Nữ Thần Đêm Đen nói vậy, Giáo hội Chúa Tể Gió Bão và Giáo hội Thần Hơi Nước Và Máy Móc cũng có mô tả tương tự, không ai tự nâng mình lên và hạ thấp các vị thần khác. Điều này hoặc chứng tỏ thần thoại sáng thế là thật, hoặc mơ hồ ám chỉ rằng các Đại Giáo hội đã trải qua quá trình đấu tranh và thỏa hiệp dài đằng đẵng ở thời tiền sử, ít nhất là trước Kỷ thứ Năm, mới đạt được sự nhất trí về vấn đề này...
Với suy nghĩ này, Klein đột nhiên có thêm một thắc mắc, anh chau mày hỏi, “Tôi cảm thấy cái này có chút vấn đề. Tại sao Mặt Trời Chói Lọi Vĩnh Cửu, Chúa Tể Gió Bão, Thần Tri Thức Và Trí Tuệ được sinh ra trực tiếp từ linh hồn của Đấng Tạo Hóa, trong khi Nữ Thần thì không?”
Trong « Ghi chép Khải huyền của Đêm » thời tiền sử, mãi đến cuối Kỷ thứ hai thì Nữ Thần Đêm Đen mới thức tỉnh. Ngài đã cùng Chúa Tể Gió Bão, Mặt Trời Chói Lọi Vĩnh Cửu cũng như các vị thần khác phù hộ và trợ giúp nhân loại vượt qua 'Tai Nạn Lớn'. Đây chính là tên thường gọi của Kỷ thứ Ba, Kỷ nguyên Tai nạn. Mẫu Thần Đại Địa và Thần Chiến Tranh cũng xuất hiện vào thời kỳ này. Còn Thần Hơi Nước Và Máy Móc, vốn có tên là 'Thần Thợ Thủ Công', mãi đến Kỷ thứ Tư mới ra đời.
Theo đó, địa vị của các vị thần cao thấp ra sao, không cần nói cũng biết. Ai cổ xưa hơn, ai chính thống hơn đã được thể hiện rất rõ ràng!
Điều này đã gây ra không ít bối rối cho các tín đồ Nữ Thần Đêm Đen.
Dunn Smith đổi tay cầm tẩu và hỏi ngược lại thay vì trả lời, “Cậu hãy lặp lại tôn danh đầy đủ của Nữ thần đi.”
Klein lập tức có cảm giác tự mình đâm mình một nhát. Anh vắt óc suy nghĩ và cố gắng hết sức để nhớ lại, “Ngài là Nữ Thần Đêm Đen, cao quý hơn cả trời sao, xa xưa hơn cả vĩnh hằng. Ngài là chúa tể của sắc đỏ, là tổ mẫu của những điều ẩn giấu. Ngài là đế vương của kinh hoàng và bất hạnh, là chủ nhân của tĩnh lặng và sự yên nghỉ.”
May mà mẹ của Klein là một tín đồ sùng kính Nữ Thần Đêm Đen. Hồi còn tại thế, bà vẫn thường hay đọc những lời cầu nguyện này trước khi ăn tối. Cho dù trí nhớ của Klein gốc có vỡ tan thành từng mảnh nhỏ thì cũng không bị mất đi toàn bộ.
“Chúa tể sắc đỏ” tượng trưng cho điều gì?” Dunn đặt câu hỏi dẫn dắt.
“Mặt trăng đỏ.” Khoảnh khắc thốt lên câu trả lời, Klein dường như đã hiểu.
“Vậy mặt trăng đỏ được tạo ra từ bộ phận nào của Đấng Tạo Hóa?” Dunn cười hỏi tiếp.
“Một con mắt!” Klein nhìn đối phương và cùng cất tiếng cười. So với Chúa Tể Gió Bão được hình thành từ một phần ba linh hồn của Đấng Tạo Hóa thì điều này không hề kém cạnh chút nào!
Hẳn giáo hội Mẫu Thần Đại Địa và Thần Chiến Tranh cũng có cách giải thích tương tự. Chỉ có Thần Hơi Nước Và Máy Móc là ra đời quá muộn, không thể tìm được lý do, khiến giáo hội này luôn ở thế yếu trong hơn ngàn năm qua. Mãi đến khi động cơ hơi nước ra đời, họ mới nắm bắt được thời cơ, chính thức trở thành một giáo hội có thể sánh ngang với các giáo hội khác.
Dunn vuốt ve chiếc tẩu, “Sinh ra từ trí tuệ của Đấng Tạo Hóa, con người có được bộ não thông minh, phi thường, lại khuyết thiếu các năng lực thần kỳ. Nhưng qua thần thoại sáng thế, chúng ta đã rút ra một kết luận đơn giản và rõ ràng, đó là mọi thứ đều có chung một cội nguồn.”
“Chung một cội nguồn…” Klein nhắc lại mấy từ cuối cùng.
“Căn cứ vào kết luận này, những con người đã chiến đấu chống lại Người khổng lồ, Ác ma, Dị chủng dưới sự phù hộ của các vị thần dần tìm ra biện pháp đạt được sức mạnh siêu phàm. Bằng cách sử dụng ác linh, cự long, quái vật, cây cối hoa cỏ thần kỳ hoặc những tinh thể tương ứng bộ phận cơ thể người kết hợp với các vật liệu khác để điều chế Ma Dược, rồi sử dụng và hấp thụ nó, chúng ta sẽ nắm giữ được những năng lực khác nhau. Đây là kiến thức phổ biến trong tất cả các hệ phái thần bí học.”
Dunn không đi sâu vào chi tiết mà chỉ giới thiệu sơ lược, “Trong quá trình này, thông qua những bài học đau đớn, tổ tiên chúng ta đã phát hiện ra rằng, nếu trực tiếp sử dụng Ma Dược đẳng cấp cao hoặc Ma Dược vượt xa quy chuẩn thì rất dễ phải gánh chịu những hậu quả bi thảm. Mà kết quả chỉ có ba loại khả năng.”
“Ba loại nào vậy?” Klein đuổi theo với sự tò mò.
“Thứ nhất, tinh thần tử vong, thân thể sụp đổ. Mỗi phần máu thịt sẽ bị biến thành những quái vật đáng sợ; thứ hai, nhân cách lập tức bị thay đổi do sức mạnh chứa trong Ma Dược, trở nên nhạy cảm hơn, lạnh lùng hơn, dễ cáu giận, tàn nhẫn và dửng dưng với mọi thứ; thứ ba, chà...” Dunn đặt cái tẩu xuống, cầm cốc sứ bên cạnh lên nhấp một ngụm, “Cà phê Fermo của thung lũng sông Paz có dư vị đắng và rất thơm. Cậu muốn thử một tách không?”
“Tôi thích cà phê từ cao nguyên Feynapotter hơn. Tất nhiên, tôi mới chỉ được uống nó vài lần ở chỗ Welch thôi.” Klein lễ phép từ chối, “Thứ ba là gì?”
“Mất trí, phát điên ngay tại chỗ, còn quỷ dữ hơn cả quỷ dữ, đó chính là mất khống chế.” Dunn nhấn mạnh từ “mất khống chế”. Không đợi Klein mở miệng, ông đặt tách cà phê xuống và tiếp tục, “Sau một thời gian dài thử nghiệm và tìm tòi, cùng với sự xuất hiện của Phiến Đá Báng Bổ, con người cuối cùng cũng hoàn thiện được hệ thống Ma Dược, hình thành sự phát triển theo từng bước và ổn định Chuỗi Danh Sách tăng trưởng. Số Danh Sách càng thấp, phẩm cấp Ma Dược càng cao. Đến nay, bảy Đại giáo hội đều nắm trong tay ít nhất một Danh Sách hoàn chỉnh. Ngoài ra cũng có những Con Đường không trọn vẹn được sưu tập về trong suốt hàng trăm, nghìn năm qua.”
“Phiến Đá Báng Bổ?” Klein nhạy bén bắt giữ thuật ngữ này. Trong buổi tụ họp, “Người Treo Ngược” cũng nhắc đến nó! Theo “Người Treo Ngược”, Phiến Đá Báng Bổ là yếu tố quan trọng nhất trong việc định hình và hoàn thiện hệ thống ma dược! Điều này không giống những gì Dunn vừa nói.
“Đó là thứ do một số Tà Thần tạo ra. Tôi không biết chính xác niên đại xuất hiện, những ghi chép trên đó và đặc thù của nó là gì. Nhưng nếu cậu phát hiện ra bất kỳ manh mối nào thì phải báo ngay cho tôi biết. Nó được xếp vào cấp cần được phản ứng cao nhất.” Dunn giải thích một cách mơ hồ, “Ban nãy tôi đã nói đến một loại mất khống chế rồi nhỉ. Giờ tôi sẽ kể về bốn loại còn lại.”
“Vâng.” Klein vứt thắc mắc về Phiến Đá Báng Bổ ra sau đầu và chuyên tâm lắng nghe.
“Dẫu con người chỉ có cái đầu thông minh, chứ không có năng lực phi phàm nào. Nhưng điều đó cũng không phải là tuyệt đối. Trên đời luôn có một vài người may mắn, hoặc có thể gọi là bất hạnh, bẩm sinh đã sở hữu linh cảm tương đối cao, cũng chính là năng lực cảm ứng với linh ấy. Họ có thể nghe được âm thanh mà người khác không nghe thấy, nhìn được những thứ mà người khác không nhìn thấy và có một số đặc điểm phi phàm.” Ánh mắt nhìn quanh không gian trống trải của Dunn khiến Klein phải rùng mình, “Có thể nói, những người đó chẳng khác nào một nửa Kẻ Phi Phàm ‘Danh sách 9’, có được đặc tính cố định. Ừm, ‘Danh Sách 9’ là cấp thấp nhất trong ‘Chuỗi’... Tóm lại, họ chỉ có thể chọn Con Đường Danh Sách tương ứng và cố định. Nếu uống Ma Dược khác, hậu quả nhẹ là thần kinh không bình thường, nặng thì mất khống chế, nghiêm trọng hơn là tử vong.”
“Tôi hiểu rồi.” Klein chậm rãi gật đầu.
“Loại thứ ba tương tự như loại thứ hai. Một khi cậu đã chọn xong Chuỗi Danh Sách nào thì bắt buộc phải đi tiếp Con Đường này, chứ không thể quay đầu được nữa. Nếu uống Ma Dược của một Đường thuộc Danh Sách khác, mặc dù cậu có khả năng nhận được những năng lực hỗn hợp, bất thường và méo mó rất cao, song gần như chắc chắn là cậu sẽ rơi vào trạng thái nửa điên, trở nên mẫn cảm bất cần, tàn nhẫn khát máu hoặc trầm cảm u sầu.
“Mà cơ hội như vậy chỉ có một lần. Sau này, bất kể cậu uống Ma Dược từ Con Đường ban đầu hay Ma Dược của Danh Sách hiện tại thì đều sẽ bị mất khống chế. Có thể là tinh thần tử vong, thân thể sụp đổ thành quái vật hoặc biến thành ác linh.”
Dunn vừa nói vừa thưởng thức cốc cà phê trong tay.
Những điều nghe được làm Klein có chút kinh hồn bạt vía. Anh trầm mặc trong vài giây rồi hỏi, “Loại mất khống chế thứ tư thì sao?”
“Loại thứ tư, haha. Đó là một vấn đề rất dễ gặp phải. Khi uống Ma Dược, chúng ta sẽ nhận được sức mạnh vốn thuộc về chủng loài siêu phàm. Sự tiến hóa phi tự nhiên này khiến chúng ta ít nhiều phải gánh chịu ảnh hưởng từ tinh thần còn sót lại. Tuy triệu chứng không rõ rệt, người ngoài không cách nào phát hiện, nhưng nó chắc chắn vẫn tiềm ẩn trong nội tâm. Nếu vội vàng uống Ma Dược tương ứng Danh Sách cao hơn trước khi hoàn toàn nắm giữ được năng lực phi phàm đến từ nó, và chưa loại bỏ những dấu vết tinh vi kia thì chẳng khác nào tích lũy nguy cơ tiềm tàng, cho đến khi phát điên và mất khống chế.”
Dunn đột nhiên trầm mặc. Sau khi dừng một lát, ông thở dài nói, “Nội bộ của Kẻ Gác Đêm chúng ta có quy định, cho dù đội viên lập được nhiều công lao đến đâu cũng nhất định phải có thời gian uống Ma Dược trên ba năm và vượt qua kỳ sát hạch phù hợp mới được thăng cấp. Dù vậy, hàng năm vẫn có không ít người mất khống chế bởi loại thứ tư.”
Đáng sợ thật đấy... Klein hít vào một hơi và đặt vấn đề, “Còn loại cuối cùng?”
Khóe miệng nhếch lên của Dunn không hề chứa chút ý cười nào, “Loại thứ năm cũng là một kiểu nguyên nhân gây mất khống chế phổ biến. linh cảm của Kẻ Phi Phàm thường được nâng lên ít nhiều. Số của Danh Sách càng thấp thì linh cảm tăng lên càng cao. Vậy nên, họ có thể nghe thấy những gì người khác không nghe được, nhìn thấy những gì người khác không nhìn được, gặp phải những điều mà người khác sẽ không gặp phải, thường xuyên đối mặt với sự cám dỗ bí ẩn và sự mê hoặc hư ảo. Một khi gặp kích thích hoặc nảy lòng tham thì họ sẽ bước từng bước đến bờ vực mất khống chế.”
Nói đến đây, Dunn chuyển sang nhìn thẳng Klein. Đôi mắt xám của ông phản chiếu bóng hình anh.
Giọng ông trở nên trầm buồn, “Người sáng lập hệ thống Kẻ Gác Đêm hiện đại, Tổng Giám mục Chanis từng nói rằng, chúng ta là những người bảo vệ, cũng là những kẻ đáng thương luôn phải chống chọi với hiểm nguy và sự điên cuồng."


12 Bình luận
"công nhân viên chức" -> "nhân viên công chức"
Chúc trans buổi trưa vv