Quyển 1: Demunculus

Chương 01

Chương 01

Những hạt mưa rơi tanh tách trên nắp capo khi chiếc Cadillac đen nhám dừng đợi đèn đỏ ở ngã tư; mưa đã trở nên nặng hạt hơn khi chỉ còn vài giây cuối. Ein ro Jurlua thoáng nhìn lên gương chiếu hậu, chỉ để nhận lại vẻ thờ ơ lạ lẫm của Lanie. Anh ta làm điều đó suốt chuyến đi từ Edinburgh đến London như thể cô là một sinh vật quý hiếm có tên trên sách đỏ. 

“Sao vậy?” Cô nói, vẫn tập trung lái xe.

“Không có gì đâu.” Đó là một lời nói dối, cô ấy biết, và anh cũng biết. Anh có rất nhiều điều muốn nói, nhưng anh không biết bắt đầu từ đâu. Anh cứ nghĩ mãi, nghĩ mãi cho đến khi anh nhận ra mình đã đến ngoại ô, rồi giờ là Mill Hill. Chẳng mấy chốc sẽ đến lâu đài Herlicus để rồi anh và cô sẽ lại tiếp tục lơ nhau mà sống thêm một lần nữa. Điều đó làm anh sốt sắng hơn bao giờ hết, nhưng cũng chỉ là cá nhảy trên chảo dầu.

Anh và cô gặp nhau lần đầu tiên tại London, khi đó cô chỉ mới là một hiệp sĩ còn non kém kinh nghiệm, còn anh là người cộng sự đầy tài năng lẫn tai tiếng của cô ở đội hiệp sĩ. Ấn tượng ban đầu của anh về cô là nét ngờ nghệch, tinh nghịch hiếm thấy ở những hiệp sĩ khác: đôi mắt nâu tròn xoe mở to hết mức khi cô chộp lấy tay anh, môi cô nở một nụ cười rạng ngời. Đó là lần đầu tiên mà anh thấy một người đẹp đến vậy.

Không biết có phải là tình cờ hay do số phận, cô và anh được sắp xếp sống cùng nhau (mãi sau này anh mới biết là do William – Vua Arthur lúc đó – dàn xếp). Thoạt đầu, cả hai người chỉ như là dầu với nước, nhưng càng ở lâu cô càng nhận ra con người thật của anh sau “lớp áo choàng lạnh tanh”. Và ở đâu đó trong cô, hạt giống tình cảm dần chớm nở. Cho tới ngày đó, ngày mà Ein ro Jurlua lẳng lặng rời bỏ London mà không có lấy một lời từ biệt.

Lanie giờ khác hẳn. Cô trông gầy hơn dù vẫn thật quyến rũ; khuôn mặt cô hốc hác, quầng thâm dày, và hai hàng mi như muốn rụng rời bất cứ lúc nào. Khi cô thình lình đứng trước cửa căn hộ, anh đã như chết lặng khi không thể nhận ra vẻ niềm nở năm nào.

“Anh nói dối lúc nào cũng tệ như vậy?” Cô nói, cố tình thả nhẹ chân ga. “Cứ thoải mái đi, tôi vẫn là tôi mà.”

Anh không đáp lại mà chỉ lén nhìn cô qua gương chiếu hậu.

Lanie giơ tay, đẩy chiếc gương chiếu hậu về phía anh. Ánh đèn đường lập lòe phản chiếu trên khuôn mặt u sầu của anh. Và lần đầu tiên anh quay sang cô với một ánh nhìn suy tư.

“Nếu anh đã không muốn nói chuyện với tôi thì anh đã ngồi ở ghế sau rồi. Mới có hai năm thôi mà, có phải cả đời đâu mà anh lại e dè thế. Tôi đâu có cắn anh đâu.”

Anh bật cười. “Không có đâu.” Anh nói, cúi đầu nhìn xuống đôi ủng kim loại đã xước nẻ. “Chỉ là tôi không biết phải nói gì với cô.”

“Cũng đúng, anh có bao giờ bắt chuyện với ai đâu.” Cô ngừng lại một nhịp, dò xét phản ứng của anh rồi nói tiếp: “Trừ tôi ra.”

Anh không thể phủ nhận điều đó, nhưng giờ chính anh cũng chẳng nhớ nổi lý do cho mỗi cuộc trò chuyện là gì. Và trong một khoảnh khắc anh như nhận ra bản thân mình đã không còn chút kỉ niệm gì với cô. Điều duy nhất mà anh còn nhớ về chỉ là dáng vẻ của một cô nàng ngờ nghệch nắm lấy tay anh mà đung đưa. Với ý nghĩ đó, anh chọn cách im lặng, tựa đầu vào ô cửa sổ và để những nỗi lo âu vơi đi theo những hạt mưa trượt dài trên mặt kính mát lạnh.

Họ cứ im lặng mãi cho đến khi họ dừng lại ở cột đèn giao thông cuối cùng trên chuyến đi, Lanie mới mở lời.

“Đó không phải lỗi của anh.” Cô nói, giọng cô nhẹ nhàng, êm dịu. “Tôi rất tiếc vì chuyện của William. Và với một người như anh, tôi biết chuyện đó không dễ dàng gì cho lắm.”

Cô quay sang anh, với vẻ ân cần. Nhưng anh thì không. Anh nghiêng đầu về bên cửa sổ, mưa lúc này đã ngừng rơi. “Cảm ơn cô.” Anh nói, và đó là lần cuối cùng anh đáp lại cô. 

Lâu đài Herlicus chẳng có gì quá nổi bật so với các lâu đài khác ở London, hay cả với Edinburgh. Nhưng sự tồn tại của nó lại là định nghĩa cho cái thứ được xem là vĩnh hằng. Lâu đài không thể bị tổn hại theo bất kì cách nào. Nếu ta bóc cả một mảng tường đi, thì chỉ sau một giấc ngủ trưa, mọi thứ sẽ lại đâu vào đấy. Bụi và thời gian sẽ bị xóa nhòa chỉ sau một ngày. Cứ như thể rằng khi ta không để ý, những kẻ hầu cận mang chấp niệm với lâu đài sẽ “sống dậy” và làm phần việc mà họ được giao. Có thể những câu chuyện kì bí về lâu đài là giả, nhưng sự vĩnh hằng của nó là thật.

Chiếc Cadillac đen nhám dừng ngay trước cổng thành, Ein ro Jurlua bước ra khỏi xe. Và khi anh định đóng cửa lại, Lanie ngăn anh ta lại bằng một giọng trấn an, nhưng có chút gì đó buồn bã.

“Anh không cần phải để tâm tới chuyện giữa tôi và anh đâu. Chuyện đã qua rồi.” Cô nói, mà không nhìn vào anh. “Tháng tới tôi sẽ kết hôn với Hank Henderson. Hy vọng anh có thể đến.”

Ein không nói gì và cũng chẳng nhìn vào cô. Anh chỉ khẽ gật đầu, rồi đóng cửa xe lại. 

Lanie lái xe rời đi trong màn đêm đã tờ mờ sáng le lói. Ein đứng đó, nhìn theo bóng dáng chiếc Cadillac cho tới khi chiếc xe hòa mình vào làn sương mờ xa xăm, anh mới quay vào lâu đài.

Vua Arthur của năm 1934 – chẳng hiểu vì lí do gì – đã chọn lâu đài Herlicus làm trụ sở chính của Hội Bàn Tròn. Và nhiều năm sau đó, các hiệp sĩ luôn phải tự thuyết phục bản thân về những lợi ích mà lâu đài mang lại (dù cũng chẳng thấm thía vào đâu), nhưng kể cả khi họ có phàn nàn gì về nó thì chỉ sau vài tuần, họ gần như bị mê hoặc bởi những vết tích lịch sử và vẻ cổ kính thơ mộng mà nó mang lại. Đó chắc hẳn là những gì mà một tay sưu tầm đồ cổ cảm nhận.

Ein đã không hỏi người trực lễ tân mà trực tiếp đi thẳng đến tòa tháp phía đông, nơi anh khăng khăng rằng là văn phòng của Vua Arthur hiện tại. Nhưng khi anh đến mọi thứ chỉ còn là chổi quét, lau sàn, thùng giấy và đầy ụ những thứ tạp nham không theo bất cứ trật tự hay quy luật cụ thể nào. Anh không ngạc nhiên. Vì kể cả là một hiệp sĩ tập sự họ cũng đều biết vị trí đặt văn phòng luôn thay đổi luân phiên theo thứ tự phương hướng. Thế mà, anh vẫn bước vào căn phòng. 

Tiếng đôi ủng kim loại đánh lộp cộp trên mặt sàn đá phiến, Ein nhấc các thùng bìa cứng, đặt chúng qua một bên, anh lặp lại việc đó cho đến khi tạo thành một khoảng trống lớn ở giữa căn phòng. Anh bước đến nơi mà theo như trong kí ức là nơi mà anh đã cắm thanh kiếm của mình xuống trong cuộc cãi vã giữa anh và William. Lúc đó anh là gã tài năng được đề cử trở thành hiệp sĩ Danh dự, nhưng anh đã vô tình để đồng đội của mình mất mạng và vì thế đánh mất hoàn toàn cơ hội thăng chức. Dù anh không mấy tiếc nuối, nhưng ông thì có, và đó là lý do mà họ to tiếng với nhau. Để rồi, Ein cắm thanh kiếm của mình xuống trong cơn phẫn uất. Cũng từ dạo đó mà cả hai ít khi nói chuyện với nhau, cho đến khi ông mất vì bệnh ung thư.

Giờ thì mọi dấu vết đã biến mất. Nhưng nó vốn đã biến mất từ sau ngày hôm đó. Chỉ là anh đã không còn đến đây từ sau cái ngày đó.

Khi Ein lại băng ngang qua đại sảnh, những hiệp sĩ trong ca trực quay lại nhìn anh, và trong ánh mắt của họ anh là một tên ngớ ngẩn vừa chui từ cái hang nào đó ra.

Anh tới văn phòng của Vua Arthur hiện tại khi ánh bình minh dần ló dạng, nhưng thứ ánh sáng chói lóa phát ra từ phòng ông đã tiệm cận với mặt trời. Văn phòng của James Marterlie – Vua Arthur hiện tại – sang trọng hơn tất thảy các Vua Arthur trước đó: sàn của căn phòng được lót bằng những tấm ván gỗ so le với nhau; một cái đèn chùm cổ điển, to tướng, lủng lẳng trên trần nhà; xung quanh căn phòng là những chiếc tủ trưng bày đầy những điếu xì gà đắt đỏ, quý hiếm, ít nhất là với ông; giữa căn phòng là một bộ sô pha màu vàng đồng và bàn trà gỗ gụ, nhìn sơ là biết hàng được làm riêng; và trên bộ sô pha là bàn làm việc của Vua Arthur. Với cách sắp đặt này, ông ta trông như một vị Vua đích thực.

James Marterlie ngồi sau chiếc bàn ngổn ngang giấy tờ và bút viết, tay ông ta mân mê một tờ giấy đầy nét gập, khuôn mặt ông ánh lên vẻ xúc động khi ông đọc thầm từng dòng chữ trên tờ giấy mờ. Đây là lần đầu tiên mà anh nhìn thấy ông. Vào hôm mà ông lên làm Vua Arthur; đó cũng là ngày mà anh khăn gói lên đường, chuyển công tác đến Edinburgh. Dĩ nhiên với các hiệp sĩ khác, việc tự ý chuyển địa điểm công tác là điều bất khả thi, nhưng không phải với anh. Và bản thân anh cũng không thoải mái gì khi lạm dụng quyền hạn của William. 

Trái với vẻ hào nhoáng của căn phòng, cách ăn mặc của Vua Arthur đi ngược lại hoàn toàn. Ông vận một cái áo sơ mi trắng phanh ngực nhưng vẫn sơ vin; đi quần tây đen, không mang theo thắt lưng; mái tóc bạch kim được vuốt ngược ra sau; đôi mắt hổ phách của ông lấp lánh những dòng lệ; và khuôn mặt ông thật hiền từ. Lần đầu tiên mà Ein ro Jurlua cảm thấy hoài nghi về lựa chọn của mình vào ngày đó.

Kể cả vậy thì sao?

“Tôi có thể ngồi chứ?” Ein nói, đánh dấu sự tồn tại của mình.

“Ồ, xin lỗi.” James nói, cất tờ giấy vào túi áo khoác sau ghế, ra hiệu. “Mời ngồi.” 

Ông vươn vai, và các khớp xương bắt đầu reo lên răng rắc. “Lanie làm việc hiệu quả thật đấy.” Ông nói, khoanh hai tay lên trước ngực. “Hai cô cậu đã hòa giải gì với nhau chưa đấy?”

“Vậy đó là cách ông hành hạ thư ký của mình à?” Ein nói, ánh mắt anh chăm chăm lên bàn trà sáng bóng. “Đi một cuốc xe hơn tám tiếng chỉ để ông hỏi mấy câu ngớ ngẩn này à?”

“Hai năm không gặp, mà cậu cũng chẳng có thay đổi gì mấy nhỉ?”

“Tôi chưa từng gặp ông.”

“Không. Cậu đã gặp tôi rồi.” Ông nhìn Ein với những dòng hồi tưởng ùa về nơi chiếc bàn gỗ dài hiện ra. Ông ngồi bên đầu kia của chiếc bàn, và anh ngồi ở bên phải cách ông hai người. “Ở Leeds, vụ Woodlane.”

Ein không đáp lại. Anh tựa người trên chiếc sô pha, với các ngón tay đan vào nhau. Anh không cố nhớ về bất cứ đều gì, nhưng hai hàm răng bắt đầu nghiến chặt vào nhau để lộ lên những đường gân trên thái dương.

“Cậu biết không, lúc đó, tôi vô cùng ấn tượng về cậu. Về những những lập luận khô khan của cậu về gã ác quỷ hoành hành tại đó.”

Anh cười khẩy, vẫn lặng thinh.

“Đó cũng là lý do mà sau khi cuộc họp ở Vatican kết thúc, tôi phải gặp cậu ngay.”

“Chà, lại gặp rắc rối với mấy ‘gã giết người’ à?”

“Không.” Ông đưa tay vào ngăn bàn và lấy một tập tài liệu dày được niêm phong bởi con dấu mật đỏ chói của FBDC (Cục Kiểm soát Quỷ Liên bang). 

Ein đứng dậy, nhận tập tài liệu. James ra hiệu cho phép. Và anh giở nó ra.

Nội dung tập tài liệu chỉ là sơ yếu lý lịch của một đặc vụ thuộc FBDC có tên là Kazari Saphire. Gồm hình ảnh – một tấm hình thẻ – của một cô gái với làn da trắng; khuôn mặt nhỏ nhắn; mái tóc vàng óng ả được buộc sang hai bên; và đôi mắt đỏ rực đầy cuốn hút. Các thông tin cá nhân, quá trình đi học và những gì đang, hoặc có lẽ đã diễn ra cho đến hiện tại. Chẳng có gì khác lạ. Có lẽ ông ấy đưa nhầm chăng?

“Theo cậu…” Vua Arthur nói, lấy điếu xì gà Trinidad bản giới hạn ra và cắt phần đầu đi. “…liệu một ác quỷ có thể bị chụp ảnh không?”

“Dĩ nhiên là không.” Anh nói, và nhìn ông đầy ngờ vực, nhưng đó không phải vì anh không chắc chắn với câu trả lời của mình.

“Chúng ta luôn tin vào điều đó.” Ông rít một hơi thuốc cay nồng. “Đó vừa là lý do khiến chúng ta không đề phòng, đồng thời đó cũng là lý do khiến chúng ta chắc chắn.”

Ein ném ánh mắt hoài nghi sang tập hồ sơ, tay anh siết chặt chúng trước khi anh kịp nhận ra. Anh dần mường tượng ra những gì ông ấy đang ám chỉ. Và anh lại nghiến chặt răng.

Ông rít thêm một hơi. “Điều duy nhất mà tôi rút ra sau cuộc họp đó là… chúng ta chẳng biết gì về chúng cả.” Ông buồn bã nói, nhưng trong sắc giọng có thứ gì đó cay đắng như điếu xì gà trên tay ông lẫn vào. “Kể từ ngày máy ảnh ra đời, đây là lần đầu tiên mà chúng ta có thể chụp được chúng.”

“Cô ta là thứ gì?”

“Một thứ đặc biệt.” Ông nói, đặt điếu xì gà xuống, quay chiếc ghế xoay sang ô cửa sổ phía sau lưng. “Cô ta không phải người, cũng chẳng phải quỷ dữ. Và theo như cách mà họ nói… cứ gọi đấy là Gris.”

Ein đặt tập tài liệu xuống, ngã người trên sô pha, lơ đãng nhìn lên trần nhà. “Một giống lai à?” Anh nói, giọng bình thản. “Vậy, việc đó liên quan gì đến tôi?”

“Đúng, chuyện đó không liên quan gì đến cậu…” Ông nói. “…nhưng chuyện sau đó… thì có.”

Anh nghiêng đầu nhìn qua bóng lưng ông.

“Trong cuộc họp ở Vatican, Cha Musklat vì muốn có một quyết định công bằng và nhân đạo hơn với cô ta. Nên ông ấy đã đề nghị thêm thời gian, và khi đã có đủ dữ kiện, quyết định việc sống chết của cô ta sẽ được thông qua. Cho đến khi đó…”

“Cho đến khi đó, họ cần một người giám sát cô ta.” Ein ngắt lời. “Phải không?”

Vua Arthur xoay chiếc lại, và dáng vẻ của anh làm ông có chút e dè. “Đúng vậy.” Ông nói. “Vatican đã chọn chúng ta. Họ muốn Hội Bàn Tròn cử ra một đại diện của hội để làm người giám sát cho ả bán quỷ đó.”

Ein siết chặt tay lại thành một quả đấm, nắm nó trong lòng bàn tay kia.

“Thế là, tôi đã gọi cho anh.”

“Tôi không đồng ý.”

“Anh không có quyền từ chối.” Ông nghiêm nghị nói, chống hai tay lên cằm. “Ein ro Jurlua, anh sẽ phải đến Mỹ và trở thành người giám sát cho Kazari Saphire.”

Khi Ein ro Jurlua đi dọc hành lang phía tây, anh va phải Hank Henderson, và làm mớ tài liệu trên tay anh ta văng tứ tung. Anh không có ý giúp cũng không có ý xin lỗi. Anh chỉ đứng đó, nhìn chăm chăm vào anh ta. Hank bị cận nặng, nhưng anh không thấy kính anh ta đâu.

“Ôi trời, xin lỗi anh.” Hank nói, nheo mắt nhìn Ein. Và khi anh nhận ra người mà vừa đụng mình, anh vui vẻ nói: “Ôi, là anh à. Lâu quá rồi không gặp anh đấy. Dạo này anh khỏe không?”

Hank chìa tay ra, tỏa vẻ thân thiện hết mực. Nhưng Ein chỉ nhìn anh ta bằng một ánh mắt chán chường, di chuyển từ tay lên tới khuôn mặt đang nheo nheo của anh ta. Rồi anh quay gót, tiếng đôi ủng kim loại lại vang lên lộp cộp.

Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!