Volume 5 [Đang Tiến Hành]

Chương Ba

Chương Ba

Huskins, tất nhiên, lập tức nhận ra đây không phải là một con đại bàng bình thường, và qua phản ứng của Col, ông dường như cũng hiểu rằng đây là một người quen của cậu.

Tuy nhiên, họ không thể cứ thế mà bắt chuyện ở nơi có thể bị người khác dòm ngó. Với một phong thái dửng dưng hoàn hảo, Huskins huýt sáo, rồi vươn cánh tay về phía Sharon, và mặc dù Sharon có vẻ hơi khó chịu trước hành động này, cô vẫn bay xuống và đậu lên cánh tay ông.

“Chắc nó xổng ra từ nhà quý tộc nào đó.” Huskins cố tình nói đủ lớn để những người xung quanh có thể nghe thấy, rồi nhờ Col giúp một tay.

Col dọn dẹp một chiếc giỏ lớn đan bằng dây leo, và cẩn thận dùng nó úp lên Sharon. Cậu tự thuyết phục bản thân rằng cô vẫn đang cố tình trừng mắt nhìn cậu cho đến tận lúc bị nhốt vào giỏ.

Khi cả ba rời khỏi chuồng cừu, Huskins hỏi, “Vậy cô là người thu thuế đã gây ra vụ náo động ở Rausbourne đấy à.”

Tiếng kêu lanh lảnh của cô không giống một câu trả lời mà giống một sự phẫn nộ hơn. Huskins khẽ thở dài và nhấc chiếc giỏ ra. Sau đó, ông mở cửa một tòa nhà gần đó trông giống như một cái nhà kho lớn và dẫn họ vào trong.Wolf%20&%20Parchment%20-%20LN%2005-125_page-0001.jpg?updatedAt=1754759355694Đó là nơi cất giữ những cuộn sợi đã được xe, nồng nặc mùi len.

“Tôi không nghĩ con cừu vàng trong những lời đồn đại lại thực sự nằm đúng ở nơi truyền thuyết kể lại đấy.”

Huskins chỉ đáp lại câu nói của Sharon bằng một tiếng thở dài nhè nhẹ khác.

“Tôi không cho là cô đã mang đến một tin tức tốt lành nào, nhỉ?” Col hỏi.

Đáng lý ra giờ này Sharon phải đang đi khảo sát khu đất để xây dựng tu viện mới phải.

“Thật không may là không. Khu đất dự định xây tu viện bị bỏ hoang tồi tệ hơn nhiều so với những gì chúng tôi tưởng tượng, và vì không thể nán lại lâu, chúng tôi đã nhanh chóng trở về Rausbourne. Ngay khi vừa về đến nơi, chúng tôi đã phải đối mặt với rắc rối. Rồi lại phát hiện ra anh đang đi dạo chơi đâu đó. Hyland đã phái một người cưỡi ngựa đưa thư hỏa tốc đến đây, nhưng nếu cứ chờ đợi thì sẽ lãng phí mất hai, ba ngày. Hãy thu xếp hành lý và chuẩn bị quay về đi. Anh sẽ gặp người đưa thư đó trên đường.”

Thân phận thực sự của Sharon vốn được giữ bí mật với Hyland, nên chắc cô đã tự ý bay đến đây.

“Tôi không muốn Clark phát hiện ra tôi đã đi khỏi, nên tôi muốn quay lại càng nhanh càng tốt. Hỏi gì thì hỏi nhanh lên.”

Hình dạng thực sự của Sharon cũng được giữ bí mật với Clark. Không phải vì cô không tin tưởng anh, mà cô cảm thấy việc nói ra sự thật sẽ chỉ trở thành gánh nặng cho anh vì sự tốt bụng của anh.

“Ý cô rắc rối là sao?”

“Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza đang ở Rausbourne.”

Đôi mắt Col mở to trong giây lát vì kinh ngạc, nhưng rồi cậu lập tức hiểu ra vấn đề.

“...Cửa nhà thờ lớn hiện đang mở, nên có lẽ họ đã chọn nơi đó làm nguồn hỗ trợ tạm thời.”

“Những sự kiện giống như một bầy cừu vậy. Một con xuất hiện, kéo theo đó chắc chắn sẽ có thêm nhiều con khác.”

Dù vẻ vô cảm của Sharon mang đậm nét đặc trưng của một loài chim, nhưng cô vẫn có vẻ bối rối trước cuộc trao đổi giữa Col và Huskins.

“Trên đường đến đây, chúng tôi đã chạm mặt một thực tập sinh trẻ tuổi thuộc Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza. Chúng tôi thấy cậu bé ngã gục bên vệ đường, trang bị nghèo nàn, và mang theo một bức thư cầu viện trong túi.”

Sharon là phó chủ tịch của hiệp hội thu thuế, người khiến các thương nhân ở thị trấn cảng phải e sợ. Rất có thể cô đã nghe phong thanh về những khó khăn tài chính của Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza, và hẳn đã lờ mờ đoán ra từ những gì họ kể về Rhodes.

Cô dang rộng đôi cánh và rùng mình vì bực tức.

“Vậy ra họ không phải đến để gây chiến sao?”

“Tôi nghĩ khả năng đó rất thấp, nhưng... tất nhiên, tôi cũng không nghĩ đây chỉ là một chuyến viếng thăm xã giao.”

“Hừm. Chúng ta có dính líu đến Hồng y Chạng vạng. Nếu có một danh sách những kẻ dị giáo bị truy nã, thì tên của anh hẳn sẽ nằm chễm chệ ngay trên cùng đấy. Có thể là vì chuyện đó không?”

Đó có vẻ là lý do khiến Sharon phải tự mình bay đến đây.

Mặc dù cô là hóa thân của một con đại bàng, nhưng cộng sự của cô, Clark, lại là một con người bình thường, nên cô cảm thấy mình có trách nhiệm cá nhân trong việc bảo vệ anh ấy.

“Tôi không dám khẳng định chắc chắn điều đó sẽ không xảy ra, nhưng...”

Col liếc nhìn Huskins, và con cừu vàng lên tiếng, “Thật khó để hình dung như vậy. Nếu họ có đủ nguồn lực để săn lùng những kẻ dị giáo, thì họ đã chẳng cử một cậu bé đơn độc lê bước qua bùn lầy mang theo một bức thư cầu viện.”

Thật khó để nói liệu Sharon có thấy câu trả lời đó thuyết phục hay không, nhưng cô không hỏi thêm câu nào nữa.

“Dù thế nào đi nữa, có vẻ cũng chẳng yên bình gì. Tôi về trước đây.”

“À-ờ, được rồi. Cảm ơn cô.”

Cái vỗ cánh của cô làm bụi bay mù mịt trên những đống len trong nhà kho. Trong lúc Col ho sặc sụa và cố gắng phẩy cho không khí quanh mặt mình bớt ngột ngạt, Sharon bay vụt ra khỏi một trong những ô cửa sổ đang mở để đón gió.

“Cậu định rời đi sao?” Huskins hỏi ngắn gọn.

“Chúng cháu phải đi thôi. Cháu tin là Trữ quân Hyland sẽ buộc phải giải quyết tình hình này.”

Những nếp nhăn nơi khóe mắt Huskins co lại trước câu trả lời của cậu, và ông nói, “Cậu có thể lơ là bước chân của mình, nhưng cậu đang đi đúng hướng đấy.”

“Cháu...”

“Những người đi cùng cậu đang dõi theo từng bước đi của cậu. Hãy tự tin và mạnh mẽ sải bước. Ít nhất thì trong câu chuyện của ta, điều đó luôn mang lại kết quả tốt đẹp.”

Câu chuyện của ông là về một vị quý tộc trẻ tuổi mang trong mình sự lạc quan vô bờ bến và một con cừu cổ đại vẫn tiếp tục kể về những thời đại xa xưa, ngay cả trong thời điểm hiện tại, bằng cách tự nguyện đặt bản thân mình vào những gian khổ. Và cả hai đã cùng nhau vụt sáng như một tia lửa qua một thời đại đã lùi xa.

Col suýt chút nữa đã nói, Chúng cháu không hề xuất chúng như vậy, nhưng cậu đã cố kiềm lại được.

Myuri muốn mang chính xác sự kinh ngạc đó vào trong huy hiệu của họ.

Cậu không thể phủ nhận những gì Huskins đã nói.

“Cháu sẽ ghi nhớ điều đó.”

Huskins, với đôi vai so lại, vỗ lưng Col, rồi rời khỏi nhà kho.

“Ừm, có lẽ cháu phải đi báo cho người hộ tống biết rằng chúng cháu sẽ rời đi trước...”

Mặc dù người hộ tống có thể không thẳng thừng từ chối nếu Col nói với anh ta rằng họ sẽ quay trở lại thành phố ngay lập tức, nhưng anh ta chắc chắn sẽ sinh nghi.

“Nếu cậu muốn giữ bí mật về con đại bàng, thì hãy bảo anh ta rằng cậu cảm thấy bất an vì bức tượng Đức Mẹ đã nhỏ lệ.”

Đây là Tu viện Brondel—những phép màu báo hiệu nguy hiểm cận kề hoàn toàn có thể xảy ra ở đây.

“Vậy cháu sẽ đi tìm Myuri.”

Khi Col chuẩn bị chạy đi, Huskins lại lên tiếng.

“Không, ta sẽ đến thư viện.”

“Sao cơ ạ? Không sao đâu ông. Dù cháu chỉ mới đến đây một lần mười năm trước, nhưng cháu vẫn nhớ đường đến thư viện mà.”

Hồi đó có rất nhiều thương nhân ở quanh đây, và cậu nhớ rất rõ mình đã từng được cho xem một cuốn danh mục các thánh tích.

Lúc đó cậu đã rất háo hức, cảm thấy như thể đây là lần đầu tiên cậu thực sự giúp ích được cho Lawrence và Holo. Không đời nào cậu lại quên được một chuyện như thế.

Huskins có vẻ vẫn muốn nói điều gì đó, nhưng cuối cùng ông vẫn giữ im lặng.

Col vội vã chạy đi, men theo trí nhớ của mình và cuối cùng cũng đi qua bức tượng hình một con quỷ, được đặt để hù dọa bất cứ kẻ nào có ý định đánh cắp sách, và tìm người quản lý thư viện.

Người quản lý là một người đàn ông gầy gò với cái mũi dài, người chỉ tay một cách chán chường vào cuốn sổ đăng ký sử dụng.

Khi Col báo với ông ta rằng cậu có việc gấp cần tìm người bạn đồng hành của mình, người quản lý chỉ nhún vai.

“Vậy thì cứ để sách lại như cũ, và chỉ cần mang chìa khóa sách đến cho tôi là được. Anh có thể làm hỏng sách nếu cố vội vàng cất chúng đi đấy.”

Chìa khóa cho sách—mặc dù tập tục này đã trở nên ít phổ biến hơn trong những năm gần đây, những thư viện cũ thỉnh thoảng vẫn khóa sách lại và xích chúng vào bàn hoặc giá đọc sách.

“Tôi hiểu rồi, cảm ơn ông,” Col trả lời, và người quản lý dường như hiểu rằng cậu là người đã quen với sách vở, nên ông ta gật đầu cường điệu và mở cửa.

Mùi bụi bặm, da thuộc và mực bất chợt xộc vào mũi khiến cậu dâng lên một cảm giác hoài niệm, và cậu tiến sâu hơn vào khu rừng sách rậm rạp của thư viện.

Cậu bắt gặp Myuri đang bám chặt vào một chiếc giá đọc sách, trước mặt cô bé là một cuốn sách lớn đang mở sẵn.

“Myuri?”

Dù không có ai khác xung quanh, cậu vẫn gọi cô bé bằng một giọng thì thầm theo thói quen.

Cô bé giật thót mình như thể vừa nhảy dựng lên, tập trung hơn nhiều so với những gì cậu nghĩ.

“Hả—? A, ồ, anh trai?”

“Myuri, cô Sharon vừa đến cách đây không lâu. Chúng ta phải—”

“Cái gì? Con gà đó á?”

Tâm trạng của cô bé chùng xuống, nhưng rồi nhanh chóng bị thay thế bởi sự hoảng loạn khi cô nhận ra Col đang nhìn vào thứ gì.

“Ồ, cái đó—em—”

Ngay cả khi cô bé vội gập cuốn sách lớn lại, Col đã với tay tới chồng sách đặt bên cạnh cô bé. Cậu lật mở một cuốn, và ngay lập tức nhận ra chúng là loại sách gì.

“...Những cuốn sách này, chúng là...”

Myuri cắn chặt môi dưới và nhìn đi chỗ khác, chống cự lại việc trả lời bằng toàn bộ cơ thể.

Nhưng không còn chỗ để cô bé viện cớ nữa. Khi cậu lật mở cuốn thứ ba, rồi cuốn thứ tư, cậu thấy tất cả chúng về cơ bản đều giống hệt nhau.

Tất cả đều có hình minh họa về gấu, và một trong số đó vẽ rõ mồn một hình ảnh một con gấu khổng lồ đang với tay về phía mặt trăng.

“...”

Myuri bướng bỉnh giữ im lặng. Những lúc cô bé hành xử như thế này, quả thực rất khó để đối phó, ngay cả khi còn ở Nyohhira cũng vậy.

Cô bé thường làm vậy một là khi đã sẵn sàng chống cự đến cùng vì tin chắc rằng mình không làm gì sai và sẽ chẳng ai có thể thuyết phục cô bé điều ngược lại, hai là khi cô bé hiểu mình đã làm sai nhưng vẫn cố tỏ ra cứng cỏi vì nhất quyết không chịu xin lỗi.

Và việc cô bé lén lút đến đây để đọc những câu chuyện về Gấu Săn Trăng rơi vào cả hai trường hợp đó.

“...Dù sao thì chúng ta cũng phải đi thôi. Cô Sharon đến để báo tin cho chúng ta về tình hình ở Rausbourne.”

Cậu nắm lấy tay Myuri, và mặc dù cô bé không có phản ứng gì, nhưng cô cũng không cố giằng ra.

Chủ đề về con gấu là một vấn đề phức tạp đối với cả hai người.

Không ai trong số họ biết phải phản ứng thế nào khi chủ đề này được nhắc đến.

Col tin rằng Myuri sẽ đi theo nếu cậu kéo cô bé, nên cậu dùng tay còn lại bắt đầu thu gom những chiếc chìa khóa trên bàn.

“Em lấy tổng cộng bao nhiêu cái thế?”

“...Năm cái.”

Số lượng đã khớp. Cậu gật đầu và họ rời khỏi thư viện, trên đường đi, họ trao trả chìa khóa cho người quản lý.

“Ồ, anh hiểu rồi.” Col nhận ra một điều gì đó khi họ bước xuống những bậc thang đá bên ngoài thư viện. “Lý do một đứa sâu ngủ như em lại thức dậy giữa đêm hôm khuya khoắt để lùa cừu ra ngoài là để được nói chuyện với Ông Huskins, đúng không?”

Rốt cuộc thì Huskins đã cho phép người hộ tống đi cùng, nhưng lại ngăn Col lại. Sau đó, ông biết rằng Myuri đang đọc những cuốn sách về con gấu trong thư viện, và nhận thức được rằng Col sẽ không vui vẻ gì khi nói về con gấu, nên ông đã cố ngăn cản Col đi tìm cô bé.

Và điều đó dẫn cậu đến một suy nghĩ.

“Vậy ra lý do ban đầu chúng ta đến đây là—”

“Không, không phải đâu,” Myuri nói và dừng bước. “...Em thực sự muốn hỏi về các huy hiệu mà.”

Col biết lúc này cô bé sẽ không cất công nói dối nữa, và cậu có một lý do khác để không muốn tin rằng cô bé đang nói dối.

Myuri đã vô cùng mong đợi được nhận chiếc huy hiệu của riêng mình, và họ đến đây để nghe những câu chuyện về huy hiệu vì cô bé muốn gửi gắm tất cả những gì cô trân trọng vào trong thiết kế đó.

Sẽ thật đáng buồn đối với cậu nếu cô bé bảo rằng tất cả những điều đó chỉ là những lời ngụy biện.

“Myuri.” Cậu gọi tên cô và khẽ lắc nhẹ bàn tay đang nắm hờ lấy tay cậu. “Một khi chúng ta rời khỏi đây và đi về thành phố, người hộ tống sẽ luôn ở bên chúng ta. Và khi về đến thành phố, chúng ta có thể bị cuốn vào một vụ náo động khác. Hãy nói chuyện ngay bây giờ đi.”

Myuri đứng thẫn thờ giữa lối đi, như một cô bé đi lạc, nhưng cuối cùng, cô bé cũng chầm chậm ngước nhìn cậu.

“Con gà đó đã nói gì vậy?”

“Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza đã đến Rausbourne.”

Đôi mắt Myuri mở to.

“Nhưng nghe có vẻ như không phải họ bất ngờ tấn công thành phố hay gì đâu. Chúng ta vẫn còn chút thời gian để nói chuyện trước khi bắt đầu dọn hành lý.”

Myuri đảo mắt nhìn đi chỗ khác, không phải vì không muốn chạm mắt với Col, mà có lẽ vì cô bé đang tìm kiếm Rhodes, người chắc hẳn đang ở đâu đó trong khuôn viên tu viện.

Cô bé quay lại nhìn cậu.

“Anh sẽ không giận đâu, đúng không anh trai?”

Col lại thấy nhẹ nhõm trước câu hỏi của cô bé, một câu hỏi không mang hàm ý rằng cô bé sợ làm cậu tức giận, mà thiên về việc cô bé thấy quá phiền phức khi phải đối phó với cậu nếu cậu thực sự nổi cáu, hệt như cách cô bé vẫn thường hành xử.

“Còn tùy.”

Myuri nhíu mày và thở dài.

Sự im lặng là quy luật tại tu viện, điều đó đồng nghĩa với việc nơi này tĩnh lặng một cách lạ thường; những âm thanh duy nhất là tiếng cừu kêu be be và tiếng bước chân đi lại của những tân tòng đang làm việc ngoài đồng.

Myuri ngồi xuống những chiếc thùng gỗ đặt ngay bên ngoài nhà kho nơi Sharon vừa rời đi, và nói, “Em nói thật lòng khi bảo em muốn nghe những câu chuyện về vương quốc và các hiệp sĩ từ Ông Lão Huskins.”

Cách chọn từ của cô bé nghe có vẻ cộc cằn, nhưng giọng điệu lại mang vẻ yếu ớt.

Cô bé không muốn Col nghi ngờ sự thật đó.

Col gật đầu, và sau một tiếng thở dài thườn thượt, Myuri tiếp tục, “Nhưng việc em muốn hỏi về con gấu cũng là thật.”

Gấu Săn Trăng được cho là kẻ đã đặt dấu chấm hết cho thời đại của các tinh linh.

Truyền thuyết về trận chiến giữa con gấu và các tinh linh khác, dường như đã diễn ra từ hàng thế kỷ trước, giờ đây chỉ còn sót lại trong thế giới loài người như một câu chuyện cổ tích. Thậm chí còn có những câu chuyện về những thung lũng bị móng vuốt của gấu cào xé, về những hồ nước được tạo ra từ nơi những ngọn núi bị nhổ bật tận gốc rễ, về việc ngọn núi bị ném xuống biển để tạo thành các hòn đảo.

Mỗi câu chuyện nghe đều có vẻ kỳ ảo, nhưng khi xâu chuỗi rất nhiều những câu chuyện cổ xưa đó lại với nhau, nó bắt đầu khoác lên một hình hài khác. Con gấu đã chiến đấu với những vị vua của rừng rậm và núi non, di chuyển từ vùng đất này sang vùng đất khác. Cuối cùng, nó tiến đến vùng biển phía tây và biến mất.

Và vô số tinh linh đã bỏ mạng dưới tay con gấu, chấm dứt kỷ nguyên của họ.

Cha mẹ của Myuri, Lawrence và Holo, đã thu thập được những mảnh ghép của câu chuyện cho đến thời điểm đó trong chuyến hành trình của riêng họ.

Rất có thể Gấu Săn Trăng đã thực sự tồn tại, và việc nó tàn sát rất nhiều sinh mạng là sự thật.

Nhưng trong tất cả những câu chuyện mà Holo và Lawrence đã dày công thu thập, vẫn còn một bí ẩn chưa có lời giải:

Gấu Săn Trăng đã đi đâu?

Myuri và Col đã từng được nghe một chút manh mối có thể liên quan đến câu trả lời từ Autumn, hóa thân của một con cá voi, người mà họ quen biết trên những hòn đảo phương bắc. Ông ấy đã kể với họ rằng có những dấu chân khổng lồ dưới đáy biển.

Và những dấu chân đó trùng khớp với một lời đồn đại đang lan truyền trong xã hội loài người.

Con người đã sử dụng sức mạnh công nghệ để đốn hạ những khu rừng rậm rạp, giong buồm trên những con tàu và mở rộng bản đồ thế giới. Họ đã thắp sáng những bí ẩn từng bị bóng tối bao phủ, và những sinh vật sống sót sau thời đại của các tinh linh đang nhanh chóng đánh mất đi không gian sinh tồn của mình. Đó chính là thời đại mà họ đang sống hiện tại, và những kiến thức mới mẻ mang ánh sáng lý trí đến với những điều bí ẩn giờ đây đã soi rọi một khía cạnh mới cho một câu chuyện xa xưa.

Và đó chính là tin đồn về một lục địa mới được cho là nằm ở tận cùng vùng biển phía tây.

Thật trùng hợp một cách kỳ lạ, Gấu Săn Trăng cũng đã biến mất vào vùng biển phía tây.

Đối với Myuri, Gấu Săn Trăng không chỉ là đối tượng để trả thù, là kẻ đã sát hại những người bạn từ quê hương của mẹ cô bé, Hiền giả Sói Holo, mà còn là thứ báo hiệu sự khởi đầu cho một chuyến phiêu lưu kỳ thú.

Giá như cô bé chỉ mới bám lấy ý nghĩ đó bằng một tay, thì Col có lẽ đã có thể nhẹ nhàng kéo cô ra.

Nhưng cô bé đã bám chặt lấy nó bằng cả hai tay, và sẽ không dễ gì bắt cô buông bỏ.

“Em đã nghĩ rằng biết đâu Ông Huskins có thể kể một câu chuyện về thời điểm đó, ngay lúc Gấu Săn Trăng đang hoành hành, có phải không?”

Mọi chuyện trở nên thật hiển nhiên với Col khi cậu thốt ra thành lời, nhưng cậu chưa từng mường tượng ra khả năng đó. Cậu đúng là một kẻ ngốc khi thậm chí còn chẳng suy nghĩ thấu đáo về lý do tại sao ban đầu họ lại đến thăm Tu viện Brondel. Mỗi khi quy mô của một vấn đề trở nên quá đỗi vĩ đại, giống hệt như chuyện này, cậu lại đánh mất tầm nhìn về những thứ ngay sát cạnh mình.

“Vì thấy không, mẹ bảo hồi đó mẹ đang thong dong chăm sóc lúa mì ở một nơi xa xôi trong khi mọi chuyện xảy ra, còn ông cá voi thì bảo ông ấy chỉ nằm không dưới đáy biển, và chị Ilenia lại bảo chị ấy chỉ lớn hơn em một chút.”

Ilenia quả thực trông chỉ lớn hơn Myuri vài tuổi, nhưng Col dám chắc cô ấy lớn tuổi hơn cả cậu, chỉ là cậu kìm lại không nói ra.

“Một người thực sự biết chuyện gì đã xảy ra hồi đó còn quý giá hơn cả một thỏi vàng vứt bên vệ đường. Và chị Ilenia đã nói rằng chị ấy không hề ưa Ông Lão Huskins chút nào.”

Huskins đã quyết định trở thành một người ẩn mình dưới lớp bụi bặm ở tận cùng dòng chảy thời gian. Ilenia, mặt khác, lại là một đứa con của thời đại mới, một người đã đặt mục tiêu hướng tới một vùng đất xa xôi bên kia bờ đại dương như nơi cô sẽ xây dựng vương quốc cho những sinh vật phi nhân.

Mặc dù mục tiêu của họ có nét tương đồng, nhưng phương pháp và lối tư duy của họ lại hoàn toàn trái ngược nhau.

Hai người họ lần lượt là biểu tượng của cái cũ và cái mới.

“Nhưng nếu em nói với anh rằng em muốn xin nghe những câu chuyện về con gấu, anh chắc chắn sẽ cự tuyệt.”

“Ừm... anh...”

“Nhưng rồi chủ đề về huy hiệu xuất hiện, và trong lúc đọc những cuốn sách ở thư viện, em đã nảy ra đủ thứ chuyện khác muốn hỏi, chẳng hạn như những huy hiệu hình con cừu. Lúc đó em nghĩ rằng anh cũng sẽ đồng tình với điều đó.”

Cũng như cách Col đã chứng kiến Myuri trưởng thành kể từ khi cô bé cất tiếng khóc chào đời, Myuri cũng đã dõi theo Col kể từ chính ngày sinh nhật của cô bé. Và gần đây, Myuri đã tỏ ra nhỉnh hơn cậu đôi chút.

“Và em nghĩ câu chuyện về con gấu mà em muốn biết khác với những gì anh đang nghĩ đấy.”

“Hả?”

Myuri luôn xem Gấu Săn Trăng như một kẻ thù. Col không thể nào chịu nổi ánh mắt tối tăm của cô bé mỗi khi họ nhắc đến nó và luôn thầm cầu nguyện rằng cô bé đừng dính líu gì đến nó cả.

Nhưng cậu nhận ra cô gái đang đứng trước mặt mình không hề mang một ánh mắt bừng bừng sát khí; thay vào đó, cô bé đang nhìn đăm đăm vào khoảng không xa xăm, như thể đang đắm mình trong những ký ức.

“Em đã xem qua rất nhiều huy hiệu trong những cuốn sách đó và nhận thấy có điều gì đó thật kỳ quặc. Càng đọc về nguồn gốc của các mẫu thiết kế huy hiệu, cảm giác kỳ quặc đó càng trở nên mạnh mẽ hơn,” Myuri nói, ngước lên, rồi chỉ tay về phía con đường.

Col quay lại và nhìn thấy Huskins.

“Huy hiệu mang trong mình những câu chuyện; chúng có lý do để mang hình dáng như vậy. Một hiệp sĩ đoàn chiến đấu trên biển sẽ có thiết kế hình một con rùa ngậm cánh buồm và những thứ đại loại thế.”

Đó là Hiệp sĩ đoàn Euran, nếu trí nhớ của cậu không lầm.

Nhưng cậu không hiểu chuyện này thì có liên quan gì đến con gấu.

Trong lúc cậu đang thắc mắc lý do tại sao, Huskins bước đến gần họ.

“Cậu ta có giận nhóc không?”

Ông lão mang một vẻ mặt nghiêm nghị, nên rất khó để nhận biết liệu ông có đang nói đùa hay không.

Myuri hậm hực nhún vai.

“Cô nhóc bảo ta đừng nói gì cả vì cậu sẽ nổi giận đấy.”

Nổi cáu với Huskins cũng chẳng giải quyết được gì.

Nhưng cậu lại có một thắc mắc.

“Ông đã nói chuyện gì với Myuri vậy ạ?”

Gấu Săn Trăng.

Có điều gì đó về nó đã khiến cô bé cảm thấy kỳ quặc khi đọc những câu chuyện về các huy hiệu.

“Thật đáng kinh ngạc khi nghe thấy điều đó. Nó cũng đã mở rộng tầm mắt cho ta,” Huskins nhận xét, bất chấp việc ông là kiểu người không còn bị ngạc nhiên bởi bất cứ điều gì trên cõi đời này nữa. “Chuyện đó đã xảy ra từ bao nhiêu thế kỷ trước rồi nhỉ...? Câu chuyện ấy giống như một hòn đá trên lòng sông cạn—bị thời gian bào mòn, chẳng còn gì sót lại để mà đẽo gọt thêm. Tại sao lại có người nghĩ rằng vẫn còn một khía cạnh của nó mà ta chưa từng nghĩ tới chứ?”

Người chăn cừu này được mệnh danh là nhà hiền triết của những cánh đồng.

Người chăn cừu ngước nhìn lên mặt trời trong lúc nói.

“Nhưng quả thực là có. Giống như những thắc mắc mà ta vẫn dành cho mặt trời, thứ mà ta đã chiêm ngưỡng cả cuộc đời mình.”

Nghe không có vẻ gì là Huskins đang giúp đỡ Myuri chỉ vì ông muốn giúp một cô bé. Đó là vì ông đã nhận thấy giá trị trong việc đó.

“Nó giống như những chiếc huy hiệu hình sói vậy, Anh trai,” Myuri nói. “Con gấu là sinh vật hùng mạnh nhất từng tồn tại, nhưng hầu như chẳng còn chiếc huy hiệu nào về chúng cả.”

“...”

Người bán hàng ở quầy bùa hộ mệnh đã từng nói rằng xu hướng thiết kế huy hiệu luôn thay đổi theo thời gian.

Về điểm đó, loài sói từng được dùng làm biểu tượng trong thời đế quốc cổ đại, và chúng đã trở nên lỗi thời vì bị coi là quá cổ hẹp.

Nhưng vẻ bí ẩn và hình ảnh một kẻ đi săn nhanh nhẹn luồn lách qua những khu rừng của loài sói vẫn rất được giới lính đánh thuê ưa chuộng cho đến tận ngày nay.

Giống như việc con hươu được chọn làm biểu tượng cho núi non, và con rùa được chọn làm biểu tượng cho biển cả, thật sự rất kỳ quặc khi con gấu lại không được chọn làm biểu tượng của sức mạnh.

Vị vua của bạo lực, kẻ mà không một tinh linh cổ đại nào có thể địch lại.

Col cảm thấy như thể mọi yếu tố cần thiết đã hội tụ đủ để thế giới tràn ngập những chiếc huy hiệu hình gấu.

“Một khi em bắt đầu thắc mắc về điều đó, mọi câu chuyện quá khứ mà em từng nghe lại càng trở nên kỳ lạ hơn bao giờ hết.”

“Bản thân ta cũng không biết phải nói gì.” Huskins quay sang Col với đôi mắt trong veo. “Khi cô nhóc hỏi ta tại sao những truyền thuyết về Gấu Săn Trăng luôn luôn xảy ra vào ban đêm.”

Col cũng thấy cạn lời. Cậu biết lý do đằng sau câu hỏi đó, tất nhiên rồi. Nhắc đến Gấu Săn Trăng, hình ảnh của nó gắn liền mật thiết với bóng đêm, không chỉ bởi vì từ "trăng" trong cái tên của nó.

Nhưng tại sao cô bé lại hỏi một điều như vậy? Chẳng phải đó đơn thuần chỉ là một cách dễ dàng hơn để nói về một thực thể quá đỗi kinh hoàng sao?

Dường như đó không phải là suy nghĩ của Myuri.

“Anh trai, Gấu Săn Trăng to lớn đến mức có thể ngồi gọn trên một ngọn núi. Bỏ qua ban đêm, thì làm thế nào nó có thể giấu mình vào ban ngày được chứ?”

“...”

“Sinh vật đó được cho là đã làm đủ mọi điều ác độc khắp nơi, khiến ai ai cũng căm ghét nó, nhưng rồi nó cũng đâu thể cứ thế mà chợp mắt ngủ trưa giữa ban ngày được, phải không? Nếu không, chúng ta hẳn đã có hàng tá những câu chuyện cổ tích về một con gấu to hơn cả một ngọn núi nằm ngủ trên một ngọn núi rồi. Suy cho cùng thì con gấu đó được cho là to lớn đến mức có thể chạm tới mặt trăng nếu nó vươn mình mà.”

Col cứng họng, nhưng nếu cậu định nói bất cứ điều gì, thì điều đầu tiên hiện lên trong đầu cậu sẽ là việc đặt ra những câu hỏi như vậy về một câu chuyện cổ tích thật là vô nghĩa.

Bản thân cậu cũng kinh ngạc trước cái lý do khiến mình câm nín.

Bởi vì đứng ngay trước mặt cậu chính là con cừu vàng trong truyền thuyết, kẻ đã chung tay xây dựng nên Vương quốc Winfiel.

Huskins, nhân vật huyền thoại ấy, khẽ nói, “Liệu cái tên săn trăng có phải là một sự phóng đại không?” Ông lắc đầu để trả lời cho chính câu hỏi của mình. “Khi ta và những người đồng hành chạy trốn khỏi nó, đây là những gì chúng ta đã nghĩ: Cho dù có chạy bao xa, chúng ta chưa bao giờ có cảm giác như mình đang tạo được khoảng cách với nó. Cái bóng đen ngòm của nó luôn hiện hữu ở đó. Nó đứng sừng sững trong ánh trăng và trông hệt như chính mặt trăng vậy. Nó khổng lồ đến mức ấy đấy.”

Nó to lớn đến mức khiến ông mất đi cảm giác về khoảng cách, nhưng một lần nữa, câu chuyện của ông lại diễn ra vào ban đêm.

“Con gấu đã làm gì vào ban ngày, và nó ngủ ở đâu...?” Có một nụ cười nửa miệng trên khuôn mặt Huskins. “Ta thậm chí còn không thể tưởng tượng nổi. Chúng ta chưa bao giờ coi nó là một sinh vật cần phải ngủ.”

Có lẽ có những điều người ta không thể nhìn thấu khi một thứ gì đó ở quá gần.

“Nhưng khi cô nhóc nhắc đến điều đó, ta nhận ra cô nhóc đã đúng—chắc chắn phải có những người khác đã nhìn thấy sinh vật đó. Những con người trên khắp thế giới giống như ta, những người sống vào thời kỳ đó và vẫn còn tồn tại cho đến tận ngày nay.”

Có vẻ như cho đến nay vẫn còn lưu truyền những câu chuyện về việc nhìn thấy mẹ của Myuri, Hiền giả Sói Holo, từ hồi cô còn chu du từ bắc chí nam.

Điều đó có nghĩa là việc tồn tại một bức tranh rõ nét hơn về Gấu Săn Trăng cho đến tận ngày nay là một lẽ đương nhiên. Chắc chắn phải có những vị vua đã kinh ngạc trước sự táo tợn của nó, những người khao khát có được một phần sức mạnh thần thánh của nó.

“Thật buồn khi không có nhiều huy hiệu hình sói, nhưng có những ghi chép vững chắc chứng minh rằng từng có rất nhiều huy hiệu như vậy từ rất lâu rồi, và vẫn còn những người sử dụng chúng cho đến tận ngày nay. Nhưng lại có quá ít huy hiệu hình gấu. Nếu câu chuyện về Gấu Săn Trăng là sự thật, thì điều đó lại càng kỳ lạ hơn.”

Myuri đã đưa ra một câu hỏi rất có lý. Có điều gì đó không ổn.

Con gấu là một từ đồng nghĩa với sức mạnh, đến mức có những câu tục ngữ cổ nói rằng khỏe như gấu và những thứ đại loại thế. Đó là một lý do hoàn toàn thuyết phục để hình ảnh một con gấu được sử dụng trong thiết kế huy hiệu.

Ngay cả bây giờ, một con gấu thông thường vô tình bắt gặp trong rừng cũng nguy hiểm hơn nhiều so với một bầy sói.

“Vì vậy, khi em bắt đầu tra cứu các huy hiệu hình gấu, rất nhiều gia tộc sử dụng những huy hiệu đó đã tuyệt diệt từ rất lâu, rất lâu rồi. Cứ như thể họ bị dính một lời nguyền vậy.”

“Gì cơ?” Col vặn lại, và Huskins trả lời, giọng điệu mang chút thích thú.

“Ta biết đứa trẻ này sẽ nảy ra một ý tưởng khó tin mà.”

Đôi mắt đỏ rực của Myuri mở to, và cô bé quay sang nhìn Col.

Đôi mắt trong sáng của cô bé đầy trí tuệ và tràn ngập trí tưởng tượng.

“Điều gì sẽ xảy ra nếu Gấu Săn Trăng có thể biến thành con người?”

Ngay cả khi câu trả lời hiện sờ sờ ngay trước mắt họ, nó chưa chắc đã có thể được đem ra sử dụng.

“Điều đó giải thích được con gấu đã làm gì vào ban ngày. Rất có thể nó chỉ đang ngủ giống như một người bình thường. Nhưng rồi câu chuyện về việc nó biến mất vào vùng biển phía tây lại trở nên có chút kỳ lạ.”

Myuri, với sức trẻ không hề biết sợ là gì, thậm chí không chút đắn đo trong một thế giới tưởng tượng.

“Nó có thể chỉ muốn ở ẩn.”

Sau một cuộc chiến tranh tàn khốc kết thúc cả một thời đại, kẻ chiến thắng, vì một lý do nào đó, lại biến mất vào dòng chảy thời gian.

Khi hỏi tại sao, cậu biết câu trả lời dễ dàng nhất là nó biến mất theo ý muốn của riêng mình.

Nhưng nếu đúng là vậy, thì nó sẽ mang đến một câu trả lời rùng rợn cho tất cả những câu hỏi kỳ lạ mà Myuri vừa đặt ra.

“Điều đó có nghĩa là... lý do tại sao có quá ít gia tộc sử dụng huy hiệu hình gấu là...”

“Chính xác.” Myuri toét miệng cười. “Bởi vì Gấu Săn Trăng đã đi khắp nơi và tiêu diệt họ. Để giữ cho bản thân nó được che giấu.”

“Cái đó thì...”

Suy luận của Myuri sẽ giải thích được câu chuyện đầy rắc rối của con gấu, nhưng nó vẫn có vẻ khiên cưỡng. Lý do lớn nhất là câu hỏi tại sao nó lại muốn làm một việc như vậy. Nó chắc chắn chỉ luôn xuất hiện vào ban đêm, nó đặt dấu chấm hết cho toàn bộ một thời đại, và nó thực sự để lại những vết vuốt trên thế giới chỉ để trở thành kẻ không bị chinh phục rồi biến mất qua vùng biển phía tây nhằm che giấu bản thân. Nó thậm chí còn đi khắp nơi giết hại những con người sùng bái nó để ký ức về nó không còn lưu truyền trong thế giới loài người...

Và có vẻ như trí thông minh của Myuri không nằm ở tầm mà Col có thể với tới.

Tất nhiên là cô bé đã nghĩ đến khả năng đó.

Thay vào đó, khi cậu nhìn vào khuôn mặt rạng rỡ của đối phương, cậu hiểu rằng đó chính là phần cốt lõi nhất trong tinh thần của cô bé.

“Sói và cừu nhìn nhận những thế giới khác nhau. Không, ta cho rằng khi nói đến cô nhóc này, sẽ đúng hơn nếu nói rằng số lượng những câu chuyện mà chúng ta đã tiếp xúc là khác nhau,” Huskins lầm bầm.

Đáp lại, Myuri, người yêu những câu chuyện hơn bất cứ ai ở Nyohhira, nói, “Anh trai, nghe này. Một khi Gấu Săn Trăng kết thúc một thời đại, thì ai là kẻ đã tiếp quản thời đại tiếp theo?”

Col cảm thấy như thể mặt đất dưới chân mình vừa mở toang ra một vực thẳm sâu hun hút dẫn thẳng xuống địa ngục.

Điều đó không thể nào xảy ra được.

Myuri hỏi, “Anh đã bao giờ gặp Chúa chưa, Anh trai?”

Cậu đã bị ném vào một cơn ác mộng trong khi đôi mắt vẫn mở trừng trừng.

Đó là một cú sốc mạnh mẽ đến nhường nào; giọng nói của Myuri nghe như thể đang vang vọng từ một nơi rất xa.

Tất nhiên, chẳng có bằng chứng nào chứng minh suy nghĩ của cô bé là đúng. Cậu có thể phớt lờ nó như một ảo tưởng của trẻ con, một thứ thậm chí còn chẳng đáng để cười trừ.

Nhưng rồi Huskins lại nói, “Kinh Thánh là một bộ sưu tập những lời của Chúa, được chắp bút bởi một số con người. Nhưng lại chẳng có câu chuyện nào kể về việc có ai đó từng tận mắt nhìn thấy chính Chúa cả. Và cũng có một vài sự mâu thuẫn kỳ lạ nữa. Ta tin rằng cậu đang thực hiện công việc dịch Kinh Thánh sang ngôn ngữ thông dụng, nhưng chẳng lẽ điều này chưa từng khiến cậu bận tâm sao, Hồng y Chạng vạng? Chúa được cho là đấng sáng tạo ra vạn vật, vậy tại sao Giáo hội lại coi những sinh vật phi nhân là kẻ thù?”

Từng có một con gấu chiến đấu chống lại các sinh vật phi nhân. Vì một lý do nào đó, nó đã đi khắp nơi tiêu diệt các tinh linh của rừng rậm.

Dù tính cách của họ hoàn toàn trái ngược nhau, nhưng cả Myuri và Huskins đều đứng cùng một chiến tuyến.

Làm sao cậu có thể chống đỡ lại điều này đây?

“Và, anh trai này, đây là một câu hỏi mà em đã trăn trở, nên em đã hỏi Ông Lão Huskins.” Myuri hắng giọng. “Em đã hỏi, ông đã bao giờ gặp một hóa thân của gấu chưa?”

Col quay sang nhìn Huskins, và cậu thấy câu trả lời đã quá rõ ràng. Ông lão trông như thể vừa tìm thấy chiếc chìa khóa nhà kho mà ông đã đánh rơi trên cánh đồng cả trăm năm trước.

“Chưa từng. Ta chưa từng gặp một hóa thân nào của gấu.”

Holo không phải là hóa thân duy nhất của loài sói. Huskins không phải là hóa thân duy nhất của loài cừu.

Điều tương tự chắc chắn cũng đúng với hươu, với thỏ.

Điều đó có nghĩa là loài gấu cũng phải như vậy.

“Khoảng mười năm trước, một nhóm người kỳ lạ đã đến đây mang theo những câu chuyện thú vị, nhưng ta tin rằng hai đứa đã đánh bại họ ở điểm đó rồi.”

Đó là một câu chuyện hoang đường, hay nếu không, là một ý tưởng vĩ đại? Dù thế nào đi nữa, đó là một khía cạnh của câu chuyện mà chưa ai từng nghĩ đến, một lối tư duy mà chưa ai từng thử nghiệm.

Col cảm thấy chóng mặt, như thể đất trời đang đảo lộn xoay cuồng, nhưng ánh mắt cậu vẫn kiên định nhìn vào một điểm, tựa như sao Bắc Đẩu.

“Vậy ra câu chuyện về lục địa mới... là một lời nói dối sao?”

Có lẽ những dấu chân dưới đáy biển, được cho là thuộc về Gấu Săn Trăng, là một trò đánh lạc hướng được tạo ra nhằm thuyết phục những người khác rằng nó đã biến mất về phía tây.

Có lẽ việc tin tức về một lục địa mới dường như có liên quan đến con gấu chỉ là một sự trùng hợp.

Khi Col đặt câu hỏi, Myuri chỉ tay về phía Huskins.

“Em nhớ những gì chị Ilenia đã nói, và chị ấy không hề ưa Ông Lão Huskins chút nào.”

“...Con cừu non đó còn xấc xược hơn cả mẹ nhóc đấy.”

Đã đủ ấn tượng khi Ilenia, người có mái tóc đen bồng bềnh mang lại ấn tượng nổi bật, và Huskins, người khiến ngay cả Myuri cũng phải chùn bước, lại bất đồng quan điểm sau một cuộc trao đổi, nhưng nghe có vẻ như cô ấy còn khó đối phó hơn cả Holo.

“Đó là cách nhìn nhận của ta,” Huskins tiếp tục. “Đầu tiên, Gấu Săn Trăng đã cố gắng xây dựng một vương quốc chỉ dành cho những người giống như nó.”

Giả định đó khá thuyết phục, xét đến việc nó đã châm ngòi cho một cuộc chiến tranh tàn khốc như vậy. Và mặc dù phương pháp của họ khác nhau, cả ông lão đứng trước mặt cậu và Ilenia đều có chung một mục tiêu.

“Nhưng sau chiến tranh, nó đã xây dựng Giáo hội, có thể vì việc xây dựng một vương quốc chỉ dành cho loài gấu là quá sức, hoặc nó nghĩ rằng việc thao túng thế giới loài người từ trong bóng tối sẽ dễ dàng hơn nhiều. Nhưng đó rốt cuộc cũng chỉ là phương án tốt thứ hai, vì nó thực sự khao khát một vùng đất mới chỉ dành riêng cho loài gấu sinh sống.

“Ngay cả con người ở những vùng đất phía bắc vào thời điểm đó cũng bắt đầu đẩy lùi bóng tối của các khu rừng rậm. Nhờ số lượng đông đảo và sức mạnh đặc biệt mà công nghệ mang lại, họ bắt đầu tạo ra một tầm ảnh hưởng chưa từng tồn tại trong thế giới của chúng ta.”

“...Và đó là lúc họ lên đường tìm kiếm một nơi không có con người sao?” Col hỏi.

Cả sói và cừu đều không trả lời, chỉ chăm chú nhìn vào con người duy nhất đang đứng trước mặt họ.

Cứ như thể họ đang bảo cậu hãy dũng cảm nhìn thẳng vào câu chuyện ngớ ngẩn đó.

Bởi vì nếu câu chuyện của họ là thật, thì điều đó có nghĩa là vị thần mà cậu đang sùng bái không chỉ là một sự giả tạo, mà còn là một con gấu.

Col nắm chặt lấy huy hiệu Giáo hội đeo trên cổ, bám víu lấy nó.

“Em tin điều đó là sự thật sao?” cậu hỏi Myuri.

Cậu không hỏi cô bé với tư cách là cô em gái đáng yêu của mình, mà là với tư cách của một người đang đứng trên bờ vực chối bỏ toàn bộ đức tin của mình.

“Em không nghĩ tất cả đều có thể là sự thật.”

Nghe không có vẻ gì là cô bé đang buông vũ khí đầu hàng chỉ vì cô bé biết cậu nghiêm túc đến mức nào.

Myuri rất thông minh, đủ để đôi khi khiến cậu cạn lời, và cô bé cũng thể hiện một mặt điềm tĩnh không kém gì Hiền giả Sói Holo mỗi khi cô bé nghiêm túc suy nghĩ về một vấn đề nào đó.

“Đặc biệt là phần nói về việc Gấu Săn Trăng sáng lập ra Giáo hội. Sẽ thật buồn cười nếu chuyện đó là sự thật. Anh đã bị sốc, phải không anh trai?”

Cô bé nhe răng cười ranh mãnh với cậu, và cậu chẳng còn biết mình có nên nổi giận với cô bé hay không nữa.

“Nhưng nếu bản thân con gấu chính là Chúa, thì chẳng phải việc những con gấu lũ lượt kéo đến tụ tập trong Giáo hội sẽ tự nhiên hơn sao, giống như tu viện này vậy? Nhưng rồi em lại tự hỏi liệu có khả năng nào một người sống lâu năm như Ông Lão Huskins lại chưa từng gặp một con gấu nào hay không.”

Giáo hoàng ngồi ở vị trí cao nhất của Giáo hội, và ngay dưới ngài là vài người mang tước hiệu hồng y đóng vai trò như bộ máy hành chính của ngài. Bản đồ thế giới được phân chia dưới sự chỉ huy của họ, và những người tham gia vào hệ thống phân cấp của họ với các tước vị như tổng giám mục và giám mục cai quản từng khu vực đó.

Mỗi vị trí trên nấc thang đó sẽ thường xuyên liên lạc với những người khác, và điều đó cũng đúng với các thẩm phán dị giáo.

Nếu hai sinh vật phi nhân tình cờ lướt qua nhau trên phố, họ chắc chắn sẽ nhận ra nhau.

Thật không thể tin được là sẽ không có ai nhận ra.

“Khả năng là có thể Gấu Săn Trăng đã vượt biển và ngay lập tức tìm thấy một lục địa mới, rồi sau đó mới đi cùng với những con gấu đã xây dựng nên Giáo hội. Nếu chuyện đó thực sự xảy ra, thì điều đó sẽ giải thích lý do tại sao Ông Lão Huskins lại chưa từng gặp một con gấu nào. Và...” Myuri, với đôi tay chắp sau lưng, nghiêng đầu và mỉm cười tinh nghịch với Col. “...lý do tại sao anh chưa bao giờ gặp Chúa, Anh trai ạ.”

Col lộ rõ vẻ cáu kỉnh, và Myuri dùng hai tay che đầu lại một cách đầy điệu bộ rồi lùi lại một bước.

Nhưng trong cơn giận dữ của mình, tất nhiên, cậu chẳng thể thốt nên lời.

Coi một câu chuyện giả tưởng như vậy là một điều hợp lý chẳng khác nào nghiêm túc đáp lại một kẻ đang nói mớ trong lúc ngủ.

“Em sẽ không bắt anh phải tin em đâu,” Myuri nói, nở một nụ cười nhẹ. “Nhưng chẳng phải nó là một câu chuyện rất tuyệt vời sao?”

Nếu tai và đuôi của cô bé được thả ra, chúng chắc hẳn sẽ quẫy loạn xạ khắp nơi.

Cô bé đang hành xử với một sự ngây thơ đến mức khiến cậu bị sốc.

“Những sự kiện có thật đã khơi nguồn cảm hứng cho những câu chuyện cổ tích lâu đời nhất, điều đó có nghĩa là có những điểm mâu thuẫn trong chúng, nhưng rồi lại có những lời đồn thổi mới về chúng. Và không chỉ có vậy, khi anh chắp vá chúng lại với nhau, chúng dường như ăn khớp một cách hoàn hảo. Sẽ thật phí phạm nếu em chỉ phớt lờ tất cả những điều đó đi, đúng không?”

“Em...” Col chỉ nói được đến thế, vì cậu chẳng còn gì khác để nói.

Mọi thứ đều là một món đồ chơi đối với Myuri.

Nhưng khi nhìn cô bé, cậu chợt nhớ ra một chuyện.

Ngay sau khi rời khỏi Nyohhira, Myuri đã từng đề cập đến một điều gì đó khi cô bé nhìn đăm đăm vào tấm bản đồ thế giới treo trên bức tường của thương hội—cô bé tự hỏi liệu có một vùng đất nào đó ngoài kia nơi cô bé không phải che giấu đôi tai và chiếc đuôi của mình hay không.

Bất chấp thế giới này có rộng lớn đến nhường nào, đó vẫn là một nơi lạnh lẽo đối với một cô gái như cô bé.

Một khuôn mặt u sầu và những giọt nước mắt hoàn toàn không phù hợp với cô bé chút nào.

Thay vào đó, việc coi cả thế giới như một món đồ chơi và trở nên phấn khích trước những câu chuyện hoang đường khó tin lại giống như cách cô bé trả đũa cái thế giới lạnh lẽo này, và điều đó khiến Col cảm thấy nhẹ nhõm.

“Có hai điều em phải hứa với anh khi nhắc đến Gấu Săn Trăng.”

“Hửm?”

Myuri chớp mắt nhìn cậu.

“Một là em không được nghĩ đến việc trả thù cho bầy sói thời xưa.”

Khi Col nói vậy, Huskins cũng nhìn Myuri. Myuri ý thức về Huskins nhiều hơn là về Col, nên có lẽ ông đã từng nhắc nhở cô bé điều gì đó về sự trả thù.

Ông là một con cừu già đang khiển trách một con sói non, giống hệt như những gì ông đã làm với Holo.

“Và... điều thứ hai?”

Thế nhưng Myuri đủ khôn ngoan để không thốt ra ngay điều đầu tiên nảy lên trong đầu cô bé.

Col không còn lựa chọn nào khác ngoài việc nói ra điều thứ hai.

“Chúa thực sự tồn tại,” cậu nói. “Chắc vậy,” cậu lẩm bẩm thêm một câu.

Đôi mắt Myuri mở to, và cô bé suýt chút nữa đã bật cười, nhưng tất nhiên cô biết rằng mình không nên làm vậy, và đã thành công trong việc kiềm chế bản thân.

Cô bé hắng giọng và nhún vai.

“Em nghĩ sẽ tốt hơn nếu không có Chúa. Như thế thì lúc nào anh cũng sẽ nhìn em thay vì Ngài.”

Col muốn hỏi xem điều gì đã khiến cô bé tự tin đến vậy, nhưng người ta có thể nói rằng câu trả lời đó cũng chính là Myuri.

Và những lời đùa cợt của họ cũng là một điểm thỏa hiệp.

“Ngoài ra, không được lừa dối anh khi em đang thu thập những câu chuyện về con gấu đấy.”

“Nhưng anh bảo có hai điều thôi mà!”

Myuri nhíu mày, gãi đầu, rồi nhìn sang Huskins.

Huskins vẫn giữ khuôn mặt vô cảm như thường lệ; ông nhún vai và ngước nhìn lên bầu trời.

“Rồồồi.”

Sau đó cô bé uể oải nắm lấy bàn tay đang vươn ra của Col.

Cô bé vẫn là một cô nàng ngang bướng, hay giận dỗi mỗi khi những trò tinh nghịch của mình bị lật tẩy, y như mọi khi.

“Nếu em có thể đề xuất một mẫu huy hiệu...”

“Hửm?”

Myuri ngước nhìn Col.

“Anh nghĩ sao về hình một con sói đang quay mặt đi trong cơn hờn dỗi?”

“Anh nói gì cơ?!”

Myuri tức giận đấm thùm thụp vào cánh tay Col.

Col hứng chịu những đòn tấn công của cô bé, nhưng cậu cũng không nghĩ rằng hình ảnh đó sẽ quá tệ.

Cậu mường tượng ra hình ảnh một con sói đang ngồi với hai bàn chân khép lại, khuôn mặt ngoảnh sang một bên, đăm đăm nhìn vào khoảng không xa xăm.

Trông nó giống như một con vật đang mải mê tìm kiếm một thứ gì đó thú vị, luôn luôn hướng về tương lai.

Nó nhìn thấy một thế giới mà không ai khác có thể tưởng tượng ra được, ngồi trong tư thế căng cứng như thể sẵn sàng lao vút đi bất cứ lúc nào.

Col không thể hình dung ra một thiết kế nào phù hợp với Myuri hơn thế nữa.

“Anh trai ngốc!”

Cô bé là một người có tâm hồn chín chắn hơn cả cậu, nhưng đôi khi lại buông ra những lời lẽ ngông cuồng nhất.

Những lời trách móc của cô bé vang vọng khắp tu viện tĩnh lặng.

Họ thu dọn hành lý và nhanh chóng rời khỏi Tu viện Brondel.

Lúc họ đang chuẩn bị, Myuri có vẻ vẫn vương vấn cuốn sách mà cô bé mới bắt đầu đọc cũng như Rhodes, nên cô bé đã nhờ Huskins chăm sóc cả hai giúp mình. Có vẻ như ông lão đã dành một sự quý mến nhất định cho cô bé.

Thế là, cùng với người hộ tống của mình, Col và Myuri lên đường. Và vào buổi trưa ngày thứ hai, họ đã gặp một người đưa tin do Hyland cử đến trên đường, đúng như những gì Sharon đã nói. Khi người đưa tin nhìn thấy bộ dạng nhàn nhã của họ khi ngồi trên xe thồ, anh ta đã thúc giục họ chuyển sang cưỡi ngựa để đẩy nhanh tiến độ. Col nghĩ rằng Myuri có thể sẽ từ chối, xét đến khoảng thời gian tồi tệ mà cái mông của cô bé đã phải chịu đựng trước đó, nhưng nơi họ ở lại trong chuyến đi đang bận rộn xén lông toàn bộ bầy cừu của họ. Myuri đã được tặng một chiếc túi nhồi đầy len, và cô bé khăng khăng rằng lần này mình sẽ ổn thôi.

Myuri không hề than vãn nửa lời khi họ chuyển sang cưỡi ngựa, có thể là nhờ lớp len lót êm ái, hoặc cũng có thể là do mông của cô bé đã luyện được khả năng chịu đựng, và vào đêm của ngày thứ ba, họ đã đến cổng thành Rausbourne. Col cứ đinh ninh rằng họ có thể sẽ bị bắt đợi cho đến sáng hôm sau, nhưng họ đã nhanh chóng được cấp phép tiến vào thành phố khi đưa ra tờ giấy thông hành do Hyland viết.

“Đây là hiệp sĩ đoàn vĩ đại nhất của Giáo hội, điều đó có nghĩa là họ cũng chống lại vương quốc. Chúng ta phải cẩn thận.”

Bất chấp vẻ bồn chồn của Myuri khi ngồi trên bao len êm ái, cô bé vẫn gật đầu.

Mặc dù người đưa tin khẳng định rằng tình hình dường như không có gì đặc biệt nhạy cảm vào lúc anh ta rời đi, nhưng họ không thể lường trước được tình hình hiện tại đang diễn biến ra sao.

Họ băng qua khu phố cổ tĩnh lặng, đi qua con sông, và tiến vào khu vực mới của thành phố.

Lúc này đang là ban đêm. Mặt trời đã lặn từ lâu, và những người ở Tu viện Brondel hẳn đều đã chìm vào giấc ngủ say. Nhưng bất chấp giờ giấc, Rausbourne lại nhộn nhịp một cách lạ thường.

Những ngọn đuốc cháy rực dọc theo các con đường và mọi người đang tụ tập qua lại, vung vẩy những thứ trông giống như những thanh kiếm.

Nhưng họ không hề có vẻ gì là đang trong tình trạng cảnh giác cao độ khi một hiệp sĩ đoàn từ Giáo hội tiến vào bên trong bức tường thành của họ.

“Oa, anh trai, nhìn kìa. Đó có phải là áo giáp làm bằng gỗ và vải không?” Myuri nói, chỉ tay về phía một góc phố từ trên lưng ngựa và chiếc túi len êm ái của mình. Ở đó có những người đàn ông mặc những bộ áo giáp mỏng manh, đang đập những thanh kiếm viền tua rua vào nhau, hét lên những câu thoại, rồi lại tiếp tục lao kiếm vào nhau.

“Đó là những câu thoại từ Trận chiến Tardanc nổi tiếng đấy.”

Có vẻ như đó là một vở kịch nổi tiếng tái hiện lại trận chiến lịch sử.

Trái với suy nghĩ thông thường rằng một buổi biểu diễn trên góc phố sẽ bị dẹp bỏ khi đêm đã về khuya, dòng người vẫn tấp nập, điểm xuyết đây đó vài người chơi nhạc cụ. Điểm chung của tất cả bọn họ là mỗi buổi biểu diễn đều có liên quan mật thiết đến các hiệp sĩ.

Col tự hỏi rốt cuộc chuyện quái gì đang xảy ra khi họ bước vào khu phố thanh lịch, nơi những dinh thự của giới quý tộc nằm san sát nhau thành từng hàng ngay ngắn; nơi này tất nhiên là rất yên tĩnh, nhưng họ đã lướt qua những người ăn mặc sang trọng đang hướng về phía các lễ hội nhộn nhịp dọc theo con đường.

Có lẽ vì họ vừa đi qua trung tâm thành phố rực sáng ánh đèn hỗn loạn, nên khi họ đặt chân trở lại dinh thự của Hyland lần đầu tiên sau vài ngày, không khí ở đây tạo cảm giác vô cùng tĩnh lặng. Tuy nhiên, điều đó dường như chỉ là một ảo giác của tâm trí.

Khi người hầu dẫn họ vào trong, cả người đưa tin và người hộ tống, những người đã dẫn đường cho họ, đều cất giọng ngạc nhiên, rồi vội vã chạy ra ngoài.

Col và Myuri trao đổi ánh nhìn, và khi cánh cửa mở ra, họ bắt gặp một khuôn mặt không ngờ tới.

“Chà, hai người về nhanh đến mức nực cười đấy.”

“Cô Eve?”

Người chủ của dinh thự mà Hyland thuê đã không còn ở đó, và thay vào vị trí của cô là một nữ thương gia tài ba với một cô gái xinh đẹp đi theo tháp tùng.

Đứng cạnh Eve là một cô gái vô cùng đáng yêu với nụ cười thường trực trên môi. Nghe nói cô gái này xuất thân từ vùng sa mạc, và cô chính là người cầm chiếc ô rực rỡ sắc màu che cho Eve mỗi khi cô ra ngoài. Sau khi pha xong một loại trà rất được ưa chuộng ở phương nam, cô phục vụ cho Myuri một vài trái nho tươi. Col không thể hiểu nổi cô ấy lấy đâu ra nho tươi vào thời điểm này trong năm, nhưng Myuri thì vô cùng thích thú, và cô bé vui vẻ ngấu nghiến những trái nho xanh nhỏ nhắn, nuốt trọn cả vỏ.

“Tôi ở đây để trông nhà,” Eve nói. Trên tay cô là chiếc túi nhồi đầy len, chiếc túi mà Myuri đã ngồi trên đó suốt cả quãng đường đến đây. Cô đang kiểm tra chất lượng len bên trong, nên có lẽ cô đang cân nhắc việc thu mua nó.

“Trữ quân Hyland có ở nhà thờ lớn không ạ?”

Nhiều hầu gái và người hầu của cô ấy hẳn đã tháp tùng cô ấy, điều đó giải thích tại sao dinh thự lại tĩnh lặng đến vậy.

Tuy nhiên, Col vẫn tự hỏi tại sao người hộ tống và người đưa tin lại tái mặt và vội vã rời khỏi dinh thự.

“Chắc chắn rồi, cháu có thể nói rằng ngài ấy đang tiếp tục các cuộc đàm phán với các hiệp sĩ tại nhà thờ, nhưng về cơ bản thì ngài ấy chẳng khác nào một con tin.”

Col suýt chút nữa đã bật khỏi ghế vì sốc, nhưng Eve tất nhiên vẫn giữ vẻ dửng dưng, còn Myuri thì thong thả tiếp tục nhai nhóp nhép những quả nho của mình.

“Có lẽ bây giờ chị ấy vẫn ổn, đúng không?”

“Ừm, nhưng...”

Cô bé nuốt chửng quả nho và nhún vai.

“Nhìn xem thành phố đang nhộn nhịp thế nào kìa. Em không nghĩ các hiệp sĩ đang giam mình trong nhà thờ đâu. Chắc chắn họ thỉnh thoảng cũng phải ra ngoài chứ.”

“...”

Cô bé nói với một sự tự tin như thể đã tận mắt chứng kiến, nên không biết phải đáp lại thế nào, Col quay sang Eve.

“Cứ như thể cô bé đã tận mắt nhìn thấy vậy,” Eve nói, rồi đưa chiếc túi len mà mình đang chơi đùa cho cô gái cầm ô. “Thực ra cô bé nói đúng đấy. Trước khi các hiệp sĩ tiến vào thành phố, họ đã cử một sứ giả chính thức đến nhà thờ một cách vô cùng đường hoàng, và chỉ sau khi nhận được sự cho phép từ hội đồng thành phố, con tàu của họ mới xuất hiện ngoài khơi. Cuộc hành quân của họ vào thành phố lịch sự đến mức hoàn hảo. Những lời ca tụng về sự tuyệt vời, sự lịch thiệp của Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza, ngay lập tức bắt đầu lan truyền khắp nơi.”

“Là... là vậy sao?”

“Họ đang mở những lớp dạy kiếm thuật cho bất kỳ người lính canh nào có nhu cầu trước sân nhà thờ, và tất cả các cô gái trong thành phố đều đang đan những vòng hoa lên đầu các hiệp sĩ trẻ tuổi. Những hiệp sĩ sát cánh cùng Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza giống hệt như những anh hùng trong truyền thuyết vậy, cháu biết đấy. Và cũng có một vài người trong số họ đến từ thành phố Rausbourne này nữa, nên tất nhiên người dân sẽ vô cùng phấn khích về điều đó. Nào là nhà tôi từng ở con phố này, đại loại vậy. Ta cá là tất cả những người đang ăn mừng họ lại đang đổ xô đi dự tiệc tùng vào tối nay rồi.”

Trái tim Col bỗng nhói lên khi nghe những lời đó.

Rhodes sinh ra tại khu vực nơi Tu viện Brondel tọa lạc. Nhưng Rhodes đã bị đẩy đi thật xa khỏi mái ấm gia đình từ khi còn rất nhỏ, tất cả chỉ để gia đình cậu bớt đi một miệng ăn.

“Chà, ngay lúc cháu đang làm cái vẻ mặt rầu rĩ đó, ta cá là bản thân một vài hiệp sĩ cũng đang mang những cảm xúc lẫn lộn. Cháu đã nghe về chuyện đó từ tên hiệp sĩ tập sự nhãi ranh mà cháu nhặt được bên vệ đường rồi, đúng không?”

Họ đã kể cho cô nghe về Rhodes.

Col gật đầu kèm theo một tiếng thở dài, và Eve nhấp một ngụm trà.

“Hoàng gia dành sự bảo trợ của mình cho Hiệp sĩ Cừu Vàng, nên họ rất có thể sẽ được tự do kết hôn với bất kỳ tiểu thư nào của bất kỳ lãnh chúa khu vực nào mà họ yêu thích. Kể cả không, vẫn có vô số nơi họ có thể tự do ra vào. Nhưng chúng ta đang nói về Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza. Có bao nhiêu người ngoài kia có thể vẽ được vị trí của Đảo Kruza trên bản đồ chứ? Ngay cả những thương nhân dày dạn kinh nghiệm nhất cũng sẽ gặp không ít khó khăn.”

“Họ cống hiến mọi thứ cho Chúa và gia nhập vào hiệp sĩ đoàn tu viện Thánh Kruza, đúng không?” Myuri hỏi.

“Họ phải lập lời thề độc thân trọn đời, tất cả là để họ không sinh con đẻ cái ở nơi khác và châm ngòi cho một cuộc xung đột về quyền thừa kế. Và vì vậy, theo một cách nào đó, họ làm việc để gửi về nhà một loại tiền tệ khác. Thứ họ kiếm được không phải là tiền bạc, mà là danh dự.”

“Danh dự sao?”

Khi Col hỏi vặn lại, Eve hắng giọng.

Ồ, cậu em trai út của phu nhân đã lên đường gia nhập Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza rồi sao? Trời ơi, thật là xuất chúng. Tôi sẽ không ngại ngần gì mà phó thác con gái mình cho một gia đình như vậy đâu, ồ hô—bây giờ thì cậu hiểu chưa?”

Myuri phá lên cười khi Eve giả giọng một quý bà thuộc tầng lớp thượng lưu.

“Lúc nào những người anh lớn cũng là những người được hưởng lợi từ các hoạt động của những người em trai. Sau đó anh ta sẽ kết hôn với một người phụ nữ tốt, tạo dựng được danh tiếng tốt như người đứng đầu của một gia đình sùng đạo, và rồi suôn sẻ thăng tiến trên nấc thang xã hội. Và trong khi đó, người em trai lại phải lầm lũi vung kiếm trên một hòn đảo đầy đá nóng bức quanh năm và thậm chí chẳng có lấy một cái cây.”

Col hiểu được những gì Eve muốn nói, nhưng chỉ riêng những lợi ích trần tục thì không thể mang lại hạnh phúc cho con người.

Rhodes chắc chắn là kiểu người sẽ tìm thấy sự bình yên không phải trong việc đếm những đồng tiền vàng của mình, mà là trong việc lật giở từng trang Kinh Thánh. Có một số lượng không nhỏ những người như vậy đã tụ hội trong Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza.

Đó chính là lý do tại sao thật quá đỗi xót xa khi đức tin của họ bị nghi ngờ chỉ vì họ tình cờ xuất thân từ vương quốc, nơi giờ đây đang đứng ở thế đối lập với Giáo hội.

“Người đại đội trưởng của những người con bản xứ vương quốc trong hiệp sĩ đoàn xuất thân từ một gia tộc khá có tiếng tăm tên là Wintshire. Ông ấy rất chu đáo với thuộc hạ của mình.” Eve hơi nheo mắt lại, và khóe miệng cô nhếch lên thành một nụ cười, như thể cô đang cố gắng chịu đựng một cơn đau. “Ông ấy muốn cho họ nếm thử không phải là bữa ăn cuối cùng, mà là một sự trở về đầy vinh quang cuối cùng.”

“...”

Có tiếng lách cách khi Myuri cắn vào một quả nho.

“Vậy ra họ đang bị giải tán sao?” cô bé hỏi, nhưng Eve không ngẩng lên trong một lúc.

Eve cũng từng là một quý tộc của đất nước này nhưng đã đánh mất vị thế của mình do phá sản.

Những gì cô ấy có lẽ đang nhìn thấy trong tâm trí chính là khung cảnh của lần cuối cùng cô vẫy tay chào tạm biệt ngôi nhà nơi mình sinh ra.

“Các khoản tiền quyên góp từ vương quốc đã ngừng chảy vào, và Giáo hoàng cùng những hiệp sĩ đồng đội của họ giờ đây coi họ như một kẻ thù. Ta không cho rằng điều đó sẽ thay đổi trong vài năm tới, và nó cũng không nhất thiết có nghĩa là mọi thứ sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Ngay cả những hiệp sĩ bước đi trong đức tin cũng biết đói và cần phải thay thế những trang bị đã hao mòn của họ. Nếu họ lôi kéo được một vị thương gia vĩ đại, lập dị nào đó, họ có thể sẽ trang trải được chi phí sinh hoạt trong thời điểm hiện tại, nhưng liệu ngươi có thể tiếp tục gọi họ là Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza cao quý sau chuyện đó không?”

Và điều đó sẽ dẫn đến việc giải tán.

Như một món quà chia tay dành tặng cho những người lính của mình, vị chỉ huy đã đưa họ trở về quê hương vương quốc khi họ vẫn còn giữ được cơ cấu của một hiệp sĩ đoàn, để họ có cơ hội được người dân chào đón trở lại với tư cách là những hiệp sĩ.

Đó là một nỗ lực nhằm chuyển hướng sự vinh quang mà gia đình họ đã tận hưởng suốt thời gian qua về phía chính các hiệp sĩ vào những giây phút cuối cùng.

“Vậy điều đó có nghĩa là Trữ quân Hyland đang túc trực tại nhà thờ như một kiểu ủy ban tiếp đón sao?”

Dù thuộc dòng dõi nhánh phụ, cô vẫn là người của hoàng tộc, nên khi Hyland xuất hiện, các hiệp sĩ rất có thể sẽ phải đứng lên chào cô ấy.

“Ta thấy bánh răng trong đầu cháu bắt đầu quay nhanh hơn một chút rồi đấy. Cháu nói đúng. Ít nhất từ góc nhìn của người dân, họ coi việc luôn có một thành viên hoàng gia kề cận bên các hiệp sĩ là một hành động thể hiện sự hiếu khách.”

Có một ngụ ý gì đó trong giọng điệu của cô, và Col nhíu mày. Cậu biết mình không hề tưởng tượng ra mọi chuyện bởi vì quá rõ ràng Myuri đang nhìn Eve với ánh mắt đầy vẻ tò mò.

Nhưng trong lúc đó Myuri vẫn đang nhai nhóp nhép những quả nho, nên có vẻ như cô bé đã bị phân tâm đôi chút.

“Ý cô là có một lý do bí mật đằng sau việc các hiệp sĩ đến vương quốc sao?”

Col cố gắng nhón một quả nho từ tay Myuri, nhưng cô bé quyết liệt cự tuyệt.

“Đó là suy nghĩ của ta, nhưng cũng có thể là do cái tính cách tồi tệ của ta. Và ta có rất nhiều nho mà.”

“Ồ, không, cháu không hẳn là muốn ăn chúng đâu...”

Myuri lè lưỡi và tóm lấy một quả nữa tống vào miệng.

“Điều đó có nghĩa là họ chắc hẳn đã nhận được một mật lệnh nào đó từ Giáo hoàng. Nhưng... có vẻ như điều này sẽ không dẫn đến chiến tranh.”

Col nghĩ đến một khả năng khó xảy ra rằng họ có thể là những sứ giả hòa giải, nhưng điều đó lại không giải thích được sự hiện diện của Rhodes trong toàn bộ câu chuyện này.

Liệu những người được phái đi làm sứ giả hòa giải có phải hớt hải chạy trên đường, mang theo một bức thư cầu viện hay không?

“Chiến tranh diễn ra dưới nhiều hình thức. Một ví dụ dễ hiểu là cách các thương nhân tranh giành lãnh địa.” Eve, nãy giờ vẫn đang thích thú ngắm nhìn những trò hề của Myuri, tựa lưng vào ghế khi nói. “Giả sử chúng ta có hai công ty đối thủ, và một công ty muốn bắt đầu xâm nhập vào phạm vi ảnh hưởng của công ty kia, ví dụ như ngành công nghiệp nhập khẩu nho tươi chẳng hạn.”

Myuri hẳn đã nghĩ đó là một chủ đề hấp dẫn. Cô bé ngồi thẳng dậy trên ghế và chăm chú nhìn Eve với vẻ thích thú.

“Hai công ty đó hoàn toàn không ưa gì nhau. Ngay cả khi công ty muốn tham gia vào việc nhập khẩu nho tươi có đủ tiền để mua quyền nhập khẩu, họ cũng sẽ bị phong tỏa, hoặc bị ngó lơ hoàn toàn và không thể tham gia vào ngành công nghiệp này. Chuyện này xảy ra như cơm bữa. Các hiệp hội và công đoàn được lập ra chính xác là để cung cấp hỗ trợ trong những lúc như vậy đấy, cháu biết mà.”

Không hiếm khi nghe những câu chuyện về việc những người mới đến bị cản trở theo cách như vậy.

“Trong những cuộc ẩu đả kiểu đó, sẽ chẳng có gì lạ nếu công ty bị phong tỏa đến thăm công ty đang ngáng đường họ, với chủ đích rõ ràng là giáng cho họ một đòn đau. Đó là việc giải quyết vấn đề bằng bạo lực.”

Đôi mắt Myuri sáng rực lên khi đánh hơi thấy mùi của một trận chiến, và Col, với tư cách là người anh trai luôn lo lắng cho cô em gái còn tuổi thiếu nữ của mình, thở dài.

“Nhưng làm vậy cũng khiến cháu phải gánh chịu những tổn thất nặng nề—đó là danh tiếng của họ trong thị trấn. Vậy lúc đó cháu sẽ làm gì?” Eve vỗ tay và xoa hai bàn tay vào nhau. “Cháu sẽ nói điều này với một công ty nhỏ dưới trướng của mình: Này, đi nhập khẩu một ít nho tươi đi!”

“Ừm...?”

Sau khi bị từ chối quyền tham gia vào ngành công nghiệp nhập khẩu, họ sẽ sử dụng một công ty khác để nhập khẩu trong bí mật.

Đó là một giải pháp đơn giản; việc bắt một công ty nhỏ hơn làm điều đó đồng nghĩa với việc lợi nhuận sẽ không quá đáng kể.

“Tuy nhiên, điều đó khiến cháu cảm thấy như thể nó sẽ dẫn đến một vấn đề vậy,” Col nhận xét.

“Đó chính là mấu chốt,” Eve nói, toét miệng cười. “Khi công ty nhỏ tiến hành nhập khẩu nho, họ sẽ ngay lập tức bị phát hiện và lên án. Đó là lúc công ty đầu tiên xuất hiện và nói: Các người đang cãi nhau chuyện gì vậy? Ồ, tôi hiểu rồi, không ngờ một công ty thân thiết của chúng ta lại làm ra chuyện như vậy. Chúng tôi vô cùng xin lỗi. Tại sao chúng ta không ngồi xuống nói chuyện một chút về việc nhập khẩu để chuyện này không tái diễn nữa nhỉ... Cháu thấy không? Cuối cùng, công ty kia sẽ nhận ra rằng họ đã bị ép buộc phải ngồi vào bàn đàm phán. Ngay cả khi họ biết rõ mánh khóe tiêu chuẩn này, họ vẫn sẽ bắt đầu phải suy nghĩ xem nên xử lý vụ nhập khẩu của công ty nhỏ như thế nào.”

Chủ đề này thuộc kiểu sẽ khiến đuôi của Myuri quẫy điên cuồng qua lại nếu nó được thả ra. Phép ẩn dụ ở đây có lẽ là công ty nhỏ chính là các hiệp sĩ, và hai công ty đối lập là vương quốc và Giáo hội.

“Vậy ra các hiệp sĩ đến đây để khơi mào một trận chiến sao?” Myuri hỏi.

“Vương quốc đã huy động lực lượng quân sự của họ trong cuộc bạo loạn lần trước ở Rausbourne, còn nhớ chứ?”

Có vẻ như nữ thương gia này đã nghe ngóng được tình hình của triều đình. Eve tinh tai thở dài khi trả lời.

“Vâng. Vì chuyện đó mà chúng cháu đã mượn cô một chút thời gian để ra ngoài,” Col nói.

“Lửa đã bén vào đám bụi rậm, và phe của Giáo hội đang bốc cháy. Đối với họ, khi đang nằm dưới sự giám sát chặt chẽ của xã hội và nội bộ đã có những người lên tiếng đòi cải cách, thì nền tảng dưới chân họ sẽ chỉ càng sụp đổ nặng nề hơn theo thời gian. Ta cá là mọi chuyện sẽ dễ thở hơn nhiều cho họ nếu toàn bộ vụ náo động ở Rausbourne biến thành mồi lửa châm ngòi cho một cuộc chiến tranh. Đó là lý do tại sao quyết định án binh bất động của nhà vua lại là một nước đi khôn ngoan. Chà, ta đoán chính vị vua già nua đã hoảng hốt điều động lực lượng quân sự của mình để trấn áp những người thu thuế, nên có lẽ thái tử mới là người mưu trí,” Eve nói, ngồi thẳng lưng, rồi với tư thế không mấy đúng mực, rướn người qua bàn, nhón một trong số ít những quả nho còn sót lại trong chùm nho mà Myuri đang cầm và bỏ tọt vào miệng.

Myuri tất nhiên đủ ngoan ngoãn để không cằn nhằn, nhưng cô bé quay sang Col như thể muốn nói với cậu điều gì đó. Có lẽ cô bé muốn cậu lên tiếng.

“Cháu có cả thế giới đang dõi theo họ, nên sẽ không dễ dàng gì để Giáo hội có thể khởi động guồng máy chiến tranh, nhất là khi họ chẳng có lý do chính đáng nào để bắt đầu cuộc chiến đó. Tuy nhiên, tình hình sẽ chỉ trở nên tồi tệ hơn đối với họ nếu cứ tiếp tục như thế này, nên họ cần phải kéo vương quốc vào một cuộc xung đột nào đó. Vậy nên họ cử quân đội của chính mình đi thám thính xung quanh và tìm kiếm một điều gì đó có lợi cho họ.”

“Và đó chính là các hiệp sĩ...”

“Chính xác. Cuộc chiến với những kẻ ngoại đạo vừa mới kết thúc, và có vẻ như họ sẽ không có nhiều cơ hội để tỏa sáng nữa. Một lựa chọn không tồi cho một màn vinh quang cuối cùng. Ít nhất thì các hiệp sĩ đến từ Winfiel cũng có cái cớ là trở về quê hương vương quốc. Họ được lệnh quay trở về nhà và tạo ra một vài tia lửa.”

Khoang miệng Col trở nên đắng ngắt bởi vì, mặc dù cậu hiểu được điều đó về mặt logic, cậu không muốn tiếp nhận nó về mặt cảm xúc.

Eve ngồi ở phía đối diện của chiếc bàn, vẻ mặt lạnh lùng.

“Mọi thứ sẽ bắt đầu theo cách này với Giáo hoàng giật dây ở hậu trường. Việc cháu làm ra cái vẻ mặt đó có nghĩa là sẽ có một số lượng người không nhỏ trong vương quốc sẵn sàng nhượng bộ cho các hiệp sĩ với cùng một vẻ mặt đó.”

Có lẽ nếu không có sự xuất hiện của Rhodes trong bức tranh này, Col sẽ không nghĩ điều đó là khả thi.

Nhưng cậu bé và bức thư cầu viện của mình đã bị ném ra ngoài trong điều kiện khắc nghiệt như mùa đông với bộ quần áo mỏng manh đến vậy. Chắc chắn còn có những thực tập sinh khác giống như cậu ấy rải rác trên những con đường khắp vương quốc, người ngợm lấm lem bùn đất khi họ tiến về đích đến của mình.

“Trữ quân Hyland có nghĩ như vậy không?”

“Ngài ấy là người tốt từ trong xương tủy, nên mặc dù không thể tưởng tượng ra một âm mưu thối nát triệt để, ngài ấy có lẽ nghĩ rằng họ đã bị Giáo hoàng ép buộc nhưng chỉ thực thi một phần mệnh lệnh. Đó có lẽ là lý do tại sao ngài ấy lại để ta ở đây thay thế vị trí của mình.”

“Điều đó có nghĩa là...?” Col, vẫn chưa hiểu rõ, bèn hỏi, và Myuri lên tiếng.

“Cô ta là một thương gia tồi tệ. Ban đầu cô ta ủng hộ kẻ thù của nhà vua mà, nhớ chứ?”

Col nuốt nước bọt khi nhớ lại. Quả thực vậy—Eve từng hỗ trợ cho Trữ quân Klevend, người đứng thứ hai trong hàng thừa kế ngai vàng, và cũng là người sẽ không từ thủ đoạn gây ra xung đột nội bộ để chiếm đoạt ngai vàng cho riêng mình.

Điều đó có nghĩa là Hyland hẳn đã muốn đặt cô dưới sự giám sát chặt chẽ để cô không lợi dụng tình hình hỗn loạn và bắt đầu âm mưu với Trữ quân Klevend, nhưng Col nghĩ việc đưa cô vào chính dinh thự của mình là hơi quá đáng. Việc này sẽ khiến nó trở thành một sự giám sát rõ rành rành và công khai đối với Eve, và Col không hiểu tại sao Eve lại cam tâm tình nguyện làm theo.

Tất cả những gì cậu có thể nghĩ đến là Hyland nghi ngờ Eve đến mức, Eve nhận định rằng tốt nhất là nên làm theo yêu cầu của cô ấy.

Nhà vua. Nhị hoàng tử. Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza.

Khi cậu đặt ba thế lực này cạnh nhau trong tâm trí, cậu chợt nhận ra một điều.

“Kẻ thù của kẻ thù là bạn?”

“Nhà vua sẽ không muốn cả hai kẻ thù của mình hợp lực với nhau, nên họ cần phải để mắt đến kẻ có khả năng đóng vai trò hòa giải giữa bọn họ.”

Đó cũng là một khả năng giải thích lý do tại sao các hiệp sĩ ngay từ đầu lại đến Rausbourne.

“Đó là một lời buộc tội vô cùng hèn hạ, nhưng ta không còn cách nào khác ngoài việc tuân lệnh vì hoàng gia có thể thực sự nghi ngờ ta.”

“Tôi nghĩ cô cũng đáng ngờ lắm,” Myuri nói trong khi tống quả nho cuối cùng vào miệng.

Eve nhíu mày và thở dài một tiếng thật lớn.

“Cháu đã làm đảo lộn mọi kế hoạch của tôi trong vụ ầm ĩ lần trước. Lần tới khi ta lên kế hoạch gì đó, hai người sẽ là những người đầu tiên ta mời.”

Có tiếng lách cách của một quả nho bị cắn nát.

“Vậy thì, một đĩa nho nữa nhé, tiểu thư?”

Eve mỉm cười tinh ranh, một cách khác để cô chuẩn bị nền móng cho những kế hoạch của mình, và Myuri đáp lại bằng một sự thích thú.

Trong số các thành viên thuộc Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza do Vương quốc Winfiel tài trợ, có ba mươi hiệp sĩ chính thức, mười hiệp sĩ tập sự, và hai mươi hầu cận phụ trách lo liệu các công việc lặt vặt khác nhau cho họ.

Col tỏ ra thất vọng vì số lượng của họ quá ít, nhưng Myuri, người nãy giờ vẫn đang kể cho cậu nghe về họ, đã lườm cậu.

“Nghe này, anh trai, các hiệp sĩ trong Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza phải giành chiến thắng ít nhất năm giải đấu cưỡi ngựa đâm thương do giới quý tộc có tước vị tổ chức. Chỉ cần thắng năm giải thôi cũng đã khiến anh trở nên siêu mạnh rồi. Đó là sức mạnh một địch ngàn người đấy. Điều đó có nghĩa là ba mươi hiệp sĩ có sức mạnh tương đương ba ngàn binh lính bình thường đấy!”

Myuri đã có một bài phát biểu hùng hồn trong căn phòng của họ tại dinh thự của Hyland, nhưng Col buộc phải ngắt lời cô bé.

“Nếu có ba mươi người mang sức mạnh một địch ngàn người, thì đó phải là ba mươi ngàn binh lính chứ.”

“Khoan đã, gì cơ?”

Col thở dài khi nhìn cô bé đếm nhẩm trên ngón tay.

Đôi tai sói của cô bé bỗng vểnh lên và cô bé quay phắt đầu lại nhìn cậu.

“Chuyện đó không quan trọng! Chúng ta hãy đi gặp các hiệp sĩ đi! Làm ơn đi mà?!”

Cô bé đã như thế này kể từ lúc thức dậy.

Mặc dù cô bé dậy muộn, có lẽ vì kiệt sức sau chuyến đi bằng ngựa, nhưng khi bật dậy khỏi chăn, điều đầu tiên cô bé nhắc đến là muốn đi gặp các hiệp sĩ.

“Không.”

“Tại sao?!”

Tại sao ư?” Col đặt chiếc bút lông mà cậu đang cầm trên tay để dịch Kinh Thánh xuống, và giải thích lại những gì cậu đã nói trước đó. “Chúng ta đang ở trong một vị thế rất có thể sẽ biến chúng ta thành kẻ thù không đội trời chung của Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza. Em quên những gì Rhodes đã nói rồi sao? Có thể có người ở bên ngoài đang theo dõi chúng ta ngay lúc này theo một mật lệnh nào đó. Chúng ta phải cẩn thận, đặc biệt là khi chúng ta chưa biết ý đồ của các hiệp sĩ là gì.”

Myuri phồng má lên to đến mức gần như làm thay đổi cả hình dáng khuôn mặt cô bé, và chiếc đuôi của cô bé cũng xù lên cùng một lúc.

“Làm gì có ai ở ngoài đó! Những người duy nhất đang theo dõi chúng ta là những người làm của cô Eve thôi!”

Myuri nhất quyết không chịu bỏ cuộc, nên cô bé đã đi hỏi Eve xem liệu họ có thể đi không, nhưng người phụ nữ thông minh này đã khéo léo lảng tránh việc đưa ra câu trả lời.

“Tại sao em không quyết định thiết kế cho chiếc huy hiệu đi thay vì làm chuyện này?” Col đề nghị, và Myuri quay ngoắt đi trong cơn hờn dỗi; suy nghĩ về việc thiết kế một con sói đang quay mặt đi có lẽ sẽ là tốt nhất lại một lần nữa lóe lên trong tâm trí cậu.

Khi buổi sáng trôi qua, người lính canh đã ở lại nhà thờ cùng Hyland mang theo một lá thư đến.

“Cho thánh lễ buổi trưa sao?”

“Vâng. Nói chính xác hơn, họ đang tự hỏi liệu Hồng y Chạng vạng có thể đến vào giữa thánh lễ buổi trưa hay không.”

Myuri định lên tiếng trả lời thay cho Col, nhưng cậu đã giơ tay ngăn cô bé lại và hỏi, “Nhưng tôi tin rằng các hiệp sĩ không có thiện cảm với tôi cho lắm.”

“Đó là lý do tại sao sự hiện diện của ngài được yêu cầu trong lúc thánh lễ đang diễn ra. Tất cả các hiệp sĩ đều tham dự buổi cầu nguyện vào buổi sáng, buổi trưa và buổi tối. Chính trong những khoảng thời gian này, ngài sẽ có thể nói chuyện bí mật mà không để những người khác chú ý đến bất cứ điều gì.”

Col phần nào hiểu được vấn đề, nhưng vẫn có điều gì đó khiến cậu cảm thấy kỳ lạ.

“Nói chuyện, ý anh là... với Trữ quân Hyland sao?”

“Không, là với Chỉ huy Wintshire.”

Ông ấy là người lãnh đạo những người đến từ Vương quốc Winfiel.

“Theo như Trữ quân Hyland, Ngài Wintshire hy vọng ngài sẽ cho ngài ấy mượn một chút trí tuệ của ngài.”

Col thực sự có một chút linh cảm rằng mình có thể sẽ bị buộc tội là một kẻ dị giáo, nhưng nếu Hyland đã nói vậy, thì chắc chắn phải có lý do chính đáng cho việc đó.

Cậu nhìn sang Eve, người đang ngồi cùng họ, nhưng cô chỉ nhún vai.

“Cho dù ông ta có đang ấp ủ âm mưu gì hay không, cháu vẫn nên nói chuyện với ông ta. Ta sẽ cử một trong những người lính canh của mình đi cùng cháu, và ta không nghĩ mọi chuyện sẽ trở nên bạo lực khi có đứa nhóc này ở đây đâu.”

Eve lấy tay chọc chọc vào đầu Myuri.

Người lính canh mang bức thư đến dường như cũng đồng tình rằng các hiệp sĩ cao quý sẽ không làm loạn khi có một cô gái ở đó, nhưng tình hình ở đây không hoàn toàn giống như vậy. Một đội gồm ba mươi hiệp sĩ sát cánh cùng nhau sẽ chẳng có cơ hội nào trước cô bé.

Nhưng khi Col nhìn xuống bức thư của Hyland, hình ảnh hiện lên trong tâm trí cậu là Rhodes. Thật khó để tưởng tượng các hiệp sĩ sẽ gửi một lời cầu xin giúp đỡ vụng về như vậy nếu Giáo hoàng thực sự đã ra lệnh cho họ dưới một âm mưu nào đó.

Điều đó có nghĩa là có khả năng họ thực sự đang cầu xin sự giúp đỡ, đồng nghĩa với việc Col có nghĩa vụ phải chìa tay ra cho họ.

“Chúng tôi sẽ đi.” Cậu đứng dậy khỏi ghế và đưa ra câu trả lời.

Bức thư chứa một lời cam kết từ vị chỉ huy rằng ông sẽ không bắt giữ Col, nhưng Col vẫn quyết định tốt nhất là nên ngụy trang, vì vậy cậu đã ăn mặc như một thương nhân trước khi rời khỏi dinh thự.

Họ sẽ vô cùng nổi bật nếu di chuyển bằng một trong những cỗ xe ngựa của Eve, nên thay vào đó họ đã đi bộ.

Những bước chân của Myuri nhẹ nhàng và rộn ràng trước viễn cảnh được gặp những hiệp sĩ mà cô bé thần tượng đến mức trông cô bé như thể đang lơ lửng trên không.

Rausbourne vẫn nhộn nhịp như mọi khi, và họ bắt gặp những người biểu diễn và hát những câu chuyện về các hiệp sĩ rải rác khắp nơi, những quầy hàng bán kiếm gỗ, và một số nghệ nhân thậm chí còn dựng quầy khắc huy hiệu hiệp sĩ.

Những người bán hoa mới là điểm thu hút sự chú ý nhất tại quảng trường phía trước nhà thờ. Những gì Eve đã nói về việc các cô gái trong thành phố muốn tặng những vòng hoa cho các hiệp sĩ không phải là một sự phóng đại—đó là sự thật.

“Em có muốn mua một cái không?” Col ngập ngừng hỏi Myuri, nhưng cô bé trừng mắt nhìn cậu.

“Em thực sự tôn trọng các hiệp sĩ, anh trai ạ.”

Cứ như thể cô bé đang bảo cậu đừng đánh đồng cô với những cô gái phù phiếm sẵn sàng tặng hoa cho bất kỳ hiệp sĩ nào.

Đó là một độ tuổi phức tạp đối với một thiếu nữ, nên cậu chỉ biết ngoan ngoãn gật đầu.

Họ lách qua sự ồn ào và náo nhiệt của các quầy hàng và tiến về phía nhà thờ, nơi một đám đông chen chúc thậm chí còn lớn hơn lần trước đang chờ đón họ.

“...Chúng ta sẽ vào bằng cách nào đây?”

Vì các hiệp sĩ cũng đang tham gia thánh lễ, người dân thị trấn đang ùn ùn kéo đến nhà thờ. Đoàn người tiến vào xa nhất có thể, với những vị linh mục phụ tá trẻ tuổi và các chủng sinh đang hối hả cố gắng giữ trật tự cho hàng người.

“Có một lối đi phụ. Hãy đi theo hướng đó,” người lính canh mà Hyland cử đến thì thầm vào tai Col. Anh ta dẫn họ đi vòng qua hông nhà thờ, nơi có một cánh cửa sắt với một lỗ nhìn trộm.

“Chúng tôi là khách của Trữ quân Hyland,” người hộ tống lên tiếng, và từ bên trong vang lên tiếng chìa khóa vặn, rồi cánh cửa mở ra.

“Tất cả những người đó làm cho trong này nóng bức quá,” Myuri nhận xét.

Họ tiến vào trong, bước lên một đoạn cầu thang ngắn, và đến một hành lang nằm ở tầng lửng của lối đi bao quanh bên ngoài gian giữa. Có một bức tường nằm ở phía gian giữa của hành lang, khiến cho không ai ở dưới đó có thể nhìn thấy những người đang sử dụng dãy hành lang này. Có lẽ đó là một lối đi dành riêng cho giới quý tộc và những người có địa vị cao khác.

Họ có thể nhìn qua những ô cửa sổ có lưới đan được đặt cách đều nhau trên bức tường và thấy gian giữa đang chật cứng người đến mức nào.

Nó gần giống như một biển người vậy. Cảm giác hơi nóng từ đám đông cuồn cuộn phả vào dãy hành lang bằng đá, vốn dĩ vẫn còn vương lại hơi lạnh của mùa đông, rõ rệt đến mức có thể chạm vào được.

“Ồ, các hiệp sĩ kìa,” Myuri thốt lên, áp sát mặt vào cửa sổ.

Đứng ngay trên cùng của đám đông những người tham dự là một nhóm người khoác những chiếc áo choàng màu đỏ thẫm. Tất cả họ đều có chiều cao vượt trội, với bờ vai rộng và vóc dáng vạm vỡ; họ nổi bật một cách rõ rệt, dù muốn hay không.

Mỗi người trong số họ đều đội những vòng hoa trên đầu, và những bông hoa được khâu vào áo choàng của họ.

Tất cả họ hiện đang bận rộn nói chuyện với những đứa trẻ tiến đến gần họ, nhưng trông rất đỗi ôn hòa.

“Họ nổi tiếng lắm,” vị linh mục phụ tá trẻ tuổi đang dẫn đường cho họ chia sẻ. “Chúng tôi hiếm khi được nhìn thấy Hiệp sĩ đoàn Cừu Vàng của hoàng gia, nhưng những con tàu của họ thỉnh thoảng cũng ghé cảng Rausbourne khi có ai đó đang trong quá trình huấn luyện điều khiển tàu. Người dân luôn rất phấn khích khi chuyện đó xảy ra, nhưng chúng tôi chỉ mới được nghe kể về Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza qua những câu chuyện.”

Xét theo một khía cạnh nào đó, các hiệp sĩ đứng ở vị trí đỉnh cao. Và không chỉ có vậy, họ đã vượt biển với tư cách là những đại diện của vương quốc để khổ luyện mỗi ngày và phục vụ Chúa.

Là một người đã từng thoáng thấy những gì ẩn giấu đằng sau bức màn, sự tỏa sáng của họ thậm chí còn mang đến cho Col một cảm giác có phần tàn nhẫn.

“Lối này.”

Vị linh mục phụ tá hẳn đã đọc được suy nghĩ của cậu, vì anh ta quay trở lại với nhiệm vụ của một người dẫn đường đơn thuần và dẫn họ đến văn phòng nhà thờ trong khi vẫn giữ họ khuất khỏi tầm mắt của những người khác.

Nhà thờ là một tòa nhà kéo dài; từ lối vào chính cho đến khoảng giữa là gian giữa, nơi người dân bình thường có thể tự do ra vào, và bàn thờ được đặt gần như ở trung tâm. Mọi thứ từ điểm đó trở đi là nơi làm việc của các giáo sĩ, và nó thậm chí còn có một nhà nguyện dành riêng cho các quý tộc đã quyên góp một số tiền lớn. Ở đó cũng có những căn phòng dành cho các vị khách quý.

Khi họ tiến sâu hơn vào bên trong tòa nhà, không gian bỗng trở nên tĩnh lặng, trái ngược hoàn toàn với sự ồn ào náo nhiệt ở gian giữa, và sự chuyển đổi này mang lại một cảm giác khá kỳ lạ.

Trong lúc họ đang chờ đợi trong phòng, họ sớm nghe thấy tiếng bước chân vang lên từ phía bên kia cánh cửa, và Hyland xuất hiện.

“Ta rất xin lỗi vì đã gọi ngài quay lại đây ngay lúc ngài vừa mới bắt đầu một chuyến đi thư giãn.”

“Ồ, xin ngài đừng bận tâm về chuyện đó. Nhưng có thật là… ngài ấy muốn nhờ tôi tư vấn không?”

Col sẽ hiểu nếu cậu bị bắt giữ như một kẻ thù.

Khi ý nghĩ đó vừa xẹt qua đầu cậu, Hyland lên tiếng.

“Ta cũng đã cân nhắc đến khả năng họ đang âm mưu chống lại chúng ta, nhưng ta sẽ thấy vô cùng hối tiếc nếu hóa ra họ không có ý đồ đó mà chúng ta lại không giúp đỡ họ.” Cô tiếp tục, “Chỉ huy Wintshire đang cầu xin sự giúp đỡ để có thể giữ cho đại đội của mình sống sót.”

Col cũng có cùng suy nghĩ, và cậu lại một lần nữa cảm thấy mình đã may mắn nhường nào khi được phục vụ một người tuyệt vời đến vậy.

Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!