Col đã đánh mất dũng khí sau khi trò chuyện với Hyland về các mối quan hệ. Cậu cứ đi tha thẩn ngoài hành lang, thấy thật khó để quay lại thư viện. Rồi trước khi kịp nhận ra, cậu đã thấy mình quay lại quảng trường và mua ít nho khô mà Myuri có thể thích. Mãi cho đến khi tiếng chuông nhà thờ vang lên báo hiệu thánh lễ buổi trưa, cậu mới rốt cuộc bừng tỉnh.
Cậu và Hyland đã thành công trao đổi về vấn đề mối quan hệ trong thủ tục làm huy hiệu mà không để Myuri hay biết. Nhưng đúng như lời Hyland nói, việc họ đang làm là một điều tuyệt vời. Nếu có thể, cậu muốn tránh đưa những lời dối trá hay những hiểu lầm vào quá trình này. Vậy mà cậu lại chẳng biết Myuri sẽ phản ứng ra sao khi cậu nói cho cô bé biết, và dù có đáng xấu hổ đến mức nào, cậu vẫn phải gom góp toàn bộ ý chí mình có để quay trở lại thư viện.
Cậu đẩy cánh cửa lớn mang dáng dấp nhà thờ, cảm giác như nó là hiện thân vật lý cho những tâm sự nặng trĩu của mình, rồi bước vào trong.
Myuri đang ngồi tại bàn đọc sách, say sưa cắm mặt vào một cuốn sách.
Cậu gọi cô bé để giải thích, “Anh có chuyện cần nói với em...”
Cậu kiên quyết khẳng định rằng họ chắc chắn sẽ làm một chiếc huy hiệu cho cô bé, để đảm bảo cậu không làm cô sốc. Cô bé vẫn để ngỏ cuốn sách về huy hiệu trong khi lắng nghe. Cậu dùng hết sức lực mình có thể gom góp, biết rằng đây chính là lúc cậu cần phải giữ bình tĩnh, nhưng phản ứng của Myuri lại là một tiếng thở dài, sự xuất hiện trở lại của đôi tai và chiếc đuôi sói, cùng với một giọng điệu ngán ngẩm:
“Giờ anh mới nói với em chuyện này sao?”
Cô bé nhún vai, gập sách lại rồi đứng dậy.
“Đúng là em từng lo lắng rất nhiều về chuyện này trong quá khứ.”
Col đã phải cố hết sức để không bật cười trước cách cô bé nhấn mạnh từ "trong quá khứ". Myuri đưa tay về phía cậu, nhanh nhẹn giật lấy túi nho khô từ tay cậu, rồi bám chặt lấy cánh tay cậu.
“Nhưng chính anh đã nói: không giống như Chúa, anh đang ở ngay đây. Khi em chạm vào anh, cơ bắp anh săn chắc đến bất ngờ, và người anh thì chắc chắn có mùi chua chua kỳ lạ giống như mực viết vậy.”
“Người anh có mùi sao?”
Col hoảng hốt. Cậu cứ tưởng mình đã cẩn thận lắm rồi. Myuri rạng rỡ đắc thắng.
“Hehe, đó mới là vị Hồng y Chạng vạng mà em biết, người mà không ai khác biết cả. Em có thể viết một tờ cáo thị rồi dán nó ở góc phố, và cũng chẳng ai có thể nhận ra đâu.”
“...”
Col cảm thấy cạn lời, không phải vì bị cười nhạo, mà là vì sự nhanh trí của Myuri.
Những gì cô bé đang nói là những gì được viết trên giấy không phải lúc nào cũng chứa đựng toàn bộ sự thật.
“Anh nói là mối quan hệ của chúng ta nhỉ? Nó là gì không quan trọng đâu.”
Myuri, với hai tay chắp sau lưng, xoay một vòng rồi ngã ngửa vào vòng tay cậu.
“Chúng ta sẽ có một chiếc huy hiệu mà chỉ có anh và em mới có thể dùng. Đối với em thế là đủ rồi.”
Cô bé ngoái nhìn cậu qua vai, rồi xoay người lại và ôm chầm lấy cậu.
Chiếc đuôi sói của cô bé ve vẩy qua lại.
Mỗi khi cậu nghĩ cô bé như một người lớn thì cô bé lại hành xử giống một đứa trẻ, và mỗi khi cậu nghĩ cô bé như một đứa trẻ, thì cô bé lại ra dáng người lớn hơn cậu rất nhiều.
Cách Col vòng tay ôm lấy cô gần giống như một tên tội phạm đang bị trói tay vậy.
“Nhưng nếu chúng ta dùng quan hệ sư phụ và đồ đệ, em sẽ là sư phụ đúng không?”
Myuri hỏi, ngước nhìn cậu từ trong vòng tay cậu. Thật đáng tiếc khi cậu không thể từ chối cô bé ngay lập tức.
“Anh rất vui vì em đã nói vậy.”
Trong sự nhẹ nhõm của mình, cậu ôm Myuri đáp lại, cô bé thì bám chặt lấy cậu như một chú cún con chưa được huấn luyện tốt. Khi cậu vuốt dọc theo xương sườn trên lưng cô bé, cô vặn vẹo vì nhột.
“Nhưng anh hy vọng sẽ tiếp tục tìm kiếm một danh xưng phù hợp hơn để gọi mối quan hệ của chúng ta.”
“Vợ anh.”
“Không.”
Dù bị cậu thẳng thừng từ chối ngay lập tức, Myuri lại có vẻ như đang mỉm cười sung sướng.
“Chà, anh nghiên cứu rất nhiều thứ, nên biết đâu anh sẽ tìm được một từ nào đó phù hợp. Và khi điều đó xảy ra”—Myuri bước ra khỏi vòng tay cậu và nhìn thẳng vào cậu—“có lẽ em sẽ gọi anh bằng một danh xưng khác ngoài ‘Anh trai.’”
Cô bé có vẻ vui mừng, nhưng cũng phảng phất chút buồn bã.
Nhưng đúng như lời cô bé đã nói trước đó, bản thân Myuri vẫn đang ở đó.
“Anh mong đợi điều đó đấy.”
“Vậy thì,” cô bé bắt đầu sau khi nhe răng với cậu. “Em có vài nghiên cứu cần làm đã.”
“Tất nhiên, cứ thong thả đi. Chúng ta vẫn còn rất nhiều thời gian mà.”
Sau khi trả lời, cậu nhận ra có điều gì đó trong lời nói của cô thu hút sự chú ý của cậu.
Và khi cô bé quay lại bàn và mở cuốn sách ra một lần nữa, cậu thấy đó không phải là một bộ sưu tập huy hiệu hình sói.
“Nghiên cứu sao? Em không tìm kiếm các mẫu thiết kế à?”
Cậu liếc nhìn cuốn sách qua vai cô bé, và nhận ra đó có vẻ là câu chuyện về quá trình lập quốc của vương quốc, được viết bằng những nét chữ trang trọng, oai vệ, kèm theo hình ảnh minh họa về chú cừu vàng và những người lính được trang bị vũ khí.
“Em có thể nhìn ngắm các thiết kế mãi cũng được, nhưng có vẻ như một số huy hiệu của các dòng dõi nổi tiếng hơn lại mang dấu ấn của câu chuyện lập quốc trong đó,” Myuri trả lời, như thể cô bé ngay lập tức hiểu được rằng cậu đang thắc mắc tại sao cô bé lại đọc một cuốn sách tranh. “Ngay cả trong những thiết kế có cùng một loài động vật, chúng cũng nhìn về những hướng khác nhau, hoặc ngậm đồ vật trong miệng, hay cõng trên lưng. Đôi khi chúng có hai đầu, và em thậm chí còn thấy một chiếc huy hiệu vẽ một con sói với hai đứa trẻ sinh đôi. Có vẻ tất cả đều mang một ý nghĩa nào đó.”
Một câu chuyện vĩ đại luôn được thu gọn trong một chiếc huy hiệu duy nhất. Chúng đóng vai trò như những kim chỉ nam cho các thế hệ tương lai, khi họ không chắc chắn mình sinh ra để trở thành kiểu người như thế nào.
“Điều đó có nghĩa là em đang tra cứu ý nghĩa vì em cũng muốn đưa một câu chuyện như vậy vào huy hiệu của mình sao?”
“Vâng. Và em cũng muốn được nghe câu chuyện từ tận gốc nữa.”
“Cái đó thì—”
Không thể nào, cậu định nói vậy, nhưng rồi lại ngừng bặt.
Ít nhất thì, điều đó không phải là bất khả thi khi nhắc đến con cừu vàng.
Myuri nhận ra cậu đã hiểu được điều đó.
“Anh đang không có việc gì làm, đúng không?”
“Ừm, anh không hẳn là không có việc gì làm...”
Cậu đã hy vọng sẽ hoàn thành thêm phần dịch thuật đang làm dở, nhưng thực ra cậu đã tiến bộ khá tốt ở những phần chính rồi.
Và vì cậu đã giam mình trong phòng cả tuần trời, Myuri đang vô cùng nóng lòng muốn Chúa trả Col lại cho mình.
Trong lúc cậu đang cẩn thận cân nhắc về chuyện đó, Myuri khẽ khàng nói, “Em muốn nghe câu chuyện này từ một người thực sự am hiểu về nó, rồi sau đó mới chọn huy hiệu cho mình.”
Tiếp bước những người đi trước là một điều tốt.
Nhưng Myuri đã nảy ra một ý tưởng khá là đáng ngại.
“Và em đang nghĩ chính tại con cừu đó mà chẳng có cái huy hiệu hình sói nào ở đất nước này cả.”
Mặc dù Col cảm nhận được nguồn năng lượng tuổi trẻ rực rỡ tỏa ra từ nụ cười gan dạ của cô bé, cậu vẫn thở dài.
“Cô Ilenia là một con cừu cứng cỏi, nhưng cô Holo cũng từng bị ngài Huskins áp đảo đấy, em biết không.”
“Cái gì?! Mẹ em á?!”
Hiền giả Sói Holo là sinh vật hùng mạnh nhất thế giới đối với Myuri. Và khi Myuri biết được rằng Holo đã từng bị kẻ khác đối xử như một đứa trẻ, cú sốc của cô bé quả thực rất ấn tượng.
“Nhưng, ừm. Anh cho rằng mình biết rất ít về câu chuyện của vương quốc trước khi nó được thành lập như chúng ta đã nghe ở quầy bán bùa hộ mệnh, nên anh cũng tò mò.”
“Đúng không? Em cá là con cừu đó biết rất nhiều điều về các hiệp sĩ đoàn đã biến mất đấy!”
Col tự hỏi không biết đó có phải là mục đích thực sự của cô bé không, nhưng kể từ khi rời Nyohhira, họ đã liên tục phải đối mặt với hết nguy hiểm này đến hiểm nguy khác. Việc thỉnh thoảng được tận hưởng chút bình yên cũng không phải là chuyện tồi tệ gì, và nó chắc chắn sẽ giúp Myuri mở mang tầm mắt.
“Rất tốt, chúng ta hãy xem mình có thể tìm ra được điều gì nào.”
“Đồng ý!”
Ngay khi Myuri vừa đáp lời, một tiếng chuông vang lên từ bên ngoài cánh cửa.
“Vậy thì trước đó chúng ta hãy dùng bữa đã. Trữ quân Hyland nói rằng ngài ấy sẽ giữ chỗ cho chúng ta ở quán Dương Xỉ Vàng.”
“Em đang đóiiii meo vì phải nhìn đống hình con cừu nãy giờ đây!”
Họ cất sách về kệ, báo với viên chức rằng họ sẽ rời đi, rồi bước ra khỏi tòa thị chính.
Ánh nắng đầu xuân gần như khiến dòng người đang tản bộ trên quảng trường bừng sáng.
Huskins, con cừu vàng, sống ở một nơi được gọi là Tu viện Brondel, một trong những tu viện vĩ đại nhất của vương quốc. Sau khi kiểm tra bản đồ, họ xác nhận rằng nơi đó không quá xa, nhưng cũng không hẳn là gần, và sẽ mất khoảng bốn đến năm ngày cưỡi ngựa để đến đó.
Hyland có vẻ tò mò muốn biết tại sao họ lại muốn đến đó, nên Col giải thích rằng người chăn cừu già sống trong tu viện vĩ đại Brondel là một người quen từ chuyến đi trước, và ông ấy sở hữu sự thông thái tuyệt vời.
Những người chăn cừu luôn mang một vẻ bí ẩn vì họ hiếm khi tiếp xúc với người dân thị trấn, đến mức thường có những lời đồn thổi rằng họ biết sử dụng phép thuật khi về già. Hyland hẳn cũng có suy nghĩ tương tự—rằng người đàn ông này hẳn phải là một học giả vô song.
Và xét đến việc Tu viện Brondel tự hào sở hữu một lịch sử còn lâu đời hơn cả vương quốc này, nắm giữ khối tài sản khổng lồ, và nổi tiếng với thái độ trịch thượng, Col và Myuri đã được viết sẵn một bức thư giới thiệu để không bị xua đuổi ở cổng. Nhưng nếu Huskins từ chối gặp họ thì cũng chẳng ích gì, kể cả khi cổng tu viện có mở ra cho họ, vì vậy Myuri đã nhờ một người bạn chim của Sharon mang một lá thư đến đó trước.
Khi họ lên lịch trình, Hyland bày tỏ ý định muốn cung cấp sự bảo vệ cho họ, nhưng Myuri đã từ chối, lấy lý do rằng điều đó sẽ cản trở khoảng thời gian riêng tư của hai người. Như một sự thỏa hiệp, Hyland sẽ cử một kỵ binh đi trước đến các thị trấn dọc theo hành trình của họ để phòng ngừa mọi rắc rối khó lường. Điều này khiến Col cảm thấy nhẹ nhõm, vì nó sẽ giúp kiểm soát Myuri trong chuyến đi, do cô bé rất hay tự ý thay đổi lộ trình như thể đang mải mê đuổi theo một con bướm.
Họ mất khoảng ba ngày chờ đợi để chuẩn bị ngựa, thông tin về tình hình đường sá, và phản hồi từ Huskins.
Trong lúc đó, Myuri dành toàn bộ thời gian trong thư viện huy hiệu. Khi cô bé bò vào giường của Col vào ban đêm, cô bé mang theo mùi da thuộc cũ kỹ bọc ngoài những cuốn sách và mùi chua chua của mực—và đó hẳn cũng là mùi của chính bản thân mình, Col nghĩ.
Vào ngày khởi hành, Hyland, người sẽ ở lại thành phố, đã tiễn Col và Myuri khi họ rời Rausbourne.
Một số thương nhân thường xuyên lui tới dinh thự mà Hyland đang thuê đang tập hợp thành một đoàn lữ hành để đi đến một trong những thị trấn nằm trên tuyến đường, nên hai người đã tham gia vào đoàn của họ. Đó là một chuyến lữ hành nhàn nhã; buổi trưa họ được thưởng thức một bữa ăn nóng hổi bên bếp lửa, và khi màn đêm buông xuống, họ đã đến đích đầu tiên đúng như kế hoạch.
Họ hội ngộ với những người lính canh mà Hyland đã sắp xếp cho, và có vẻ như mọi chuyện đang diễn ra theo một chiều hướng tốt đẹp.
“Trước đây chúng ta chỉ đi bằng thuyền, nên em đã phần nào tự chuẩn bị tinh thần cho việc này, nhưng đi lại trên bộ dễ ợt à,” Myuri nhận xét khi cân nhắc mức độ thoải mái của chuyến đi. Và vào ngày hôm sau, một thương nhân trong đoàn lữ hành đề cập rằng họ vẫn cần phải đi cùng hướng với hai người, nên họ quyết định đi cùng nhau. Việc ngồi trên xe thồ trong ngày đầu tiên không phải là một trải nghiệm tuyệt vời gì cho cam, nhưng họ được phép lên thùng xe, nơi chất đầy những kiện len. Điều đó mang lại niềm vui lớn cho Myuri, người đang mường tượng về những chuyến đi mà cha mẹ cô bé đã kể cho cô bé nghe rất nhiều.
Ngày thứ hai cũng trôi qua bình yên vô sự, và nửa đầu của hành trình trôi qua trong chớp mắt. Và kể từ thời điểm này trở đi, hành trình riêng của Col và Myuri mới thực sự bắt đầu. Người hộ tống của họ đã đi trước để dò đường với vai trò người tiên phong, và quan trọng nhất, Myuri là một cô nàng sói. Thật nhẹ nhõm khi không phải lo lắng về nạn trộm cướp hay bất cứ thứ gì tương tự.
Dù Col không tin là sẽ có chuyện gì xảy ra, nhưng khi họ đến thị trấn vào lúc hoàng hôn, cậu thấy một ít tuyết vẫn còn đọng lại trong bóng râm của các tòa nhà.
“Mọi chuyện có thể sẽ hơi khó khăn bắt đầu từ ngày mai đây.”
Tuy nhiên, Myuri dường như nghĩ rằng nó sẽ chỉ là phần tiếp nối của chặng đầu chuyến đi và thức dậy sớm với tinh thần cực kỳ phấn chấn, háo hức muốn lên đường.
Không mất quá nhiều thời gian để cô bé im bặt.
“Mông em đau quá...”
Người ta cần phải, theo như cách gọi thông thường, yên vị trên yên ngựa để có thể cưỡi ngựa trong một khoảng thời gian dài. Hyland, người vốn quen với việc cưỡi ngựa, đã đủ chu đáo để chuẩn bị sẵn đệm len trong hành lý của họ, nhưng điều đó vẫn là quá đau đớn đối với Myuri.
Nhưng ngay cả khi cô bé có lựa chọn đi bộ, thì con đường lại lầy lội, vì đây là thời điểm mùa xuân khi tuyết vẫn đang tan. Cô bé rất thích mặc đẹp, và cô bé dường như kháng cự việc làm bẩn quần áo của mình, mặc dù cô bé chỉ mượn chúng từ Hyland. Cuối cùng, cô bé vẫn ngồi trên lưng ngựa trong khi không ngừng rên rỉ về điều đó, và khi bữa trưa kết thúc và họ chuẩn bị lên đường trở lại, cô bé trèo lên ngựa với đôi mắt gần như ngấn lệ.
Nếu người hộ tống, vốn đã đợi họ ở thị trấn nghỉ chân thứ ba, không cảm thấy tội nghiệp cho cô bé và kiếm được một chiếc xe thồ để đi, thì có lẽ họ đã phải dừng lại vài ngày. Đó là một trải nghiệm buồn vui lẫn lộn đối với Myuri, người mới chỉ trải nghiệm việc đi lại trên đất liền thông qua những câu chuyện kể.
Mặc dù vậy, bản thân chuyến đi vẫn diễn ra suôn sẻ, và dù họ đi hơi chậm vì bãi lầy do tuyết tan gây ra, dọc đường vẫn có những quán trọ để họ không phải ngủ ngoài trời.
Lúc đó là buổi trưa ngày thứ tư, đúng lúc Col đang nghĩ xem chuyến đi của họ sẽ sớm kết thúc suôn sẻ như thế nào.
“Chuyện gì vậy?”
Chiếc xe thồ đột ngột dừng lại. Họ đang ở giữa một cánh đồng cỏ trống trải, và bao quanh họ chỉ là những ngọn đồi thoai thoải.
Col thắc mắc không biết có phải một bánh xe bị kẹt trong bùn không, nên cậu chuẩn bị sẵn một số quần áo mới mua hôm nọ mà cậu không ngại làm bẩn để có thể giúp một tay.
Người hộ tống, lúc này đang ngồi trên ghế xà ích, lên tiếng.
“Tôi e rằng đây có thể là một cuộc phục kích.”
Thật vô cùng đáng ngại.
“Chúng ta sẽ lùi xe lại một chút, rồi tôi sẽ đi kiểm tra một mình.”
Myuri, nãy giờ đang nằm trên thùng xe vì mông bị ê ẩm, mải miết vẽ đủ loại thiết kế huy hiệu trên tấm bảng gỗ của mình, ngồi thẳng dậy và trao đổi ánh nhìn với Col.
“Phục kích á? Giống như, bị bọn sơn tặc chặn đường ấy hả?”
“Có khả năng là bọn thảo khấu trên đường lớn hơn, nhưng đúng vậy,” Col đáp. “Cơ mà...”
Cậu nhìn chăm chú dọc theo con đường từ trên thùng xe, nhưng không thể nhìn thấy bóng dáng một ai. Xung quanh họ chỉ toàn những ngọn đồi thoai thoải, và thật khó để tưởng tượng ra bất kỳ nơi ẩn nấp khả thi nào. Thị lực của Myuri không đặc biệt tốt, nên có thể cô bé không nhìn thấy, nhưng cô bé sụt sịt mũi và bắt được một mùi gì đó trong không khí ẩm ướt của ngày đầu xuân.
“Nó có mùi hơi... buồn.”
Col nhìn cô bé, thất vọng với một báo cáo mơ hồ như vậy, nhưng Myuri bĩu môi.
“Em có thể ngửi thấy mùi tức giận ngay lập tức, nhưng nó thực sự có mùi như vậy mà.”
Cậu có cảm giác rằng trước đây Holo cũng đã từng nói một câu y hệt như vậy.
“Nhưng phục kích ư?”
Người hộ tống bước xuống khỏi ghế xà ích và cầm lấy hàm thiếc để quay đầu bầy ngựa. Thế nhưng Col vẫn hạ giọng để hỏi câu đó, và Myuri nhún vai.
“Em nghĩ chỉ có một người thôi, nhưng em sẽ không biết có người ở phía trước nếu anh ấy không nói gì cả. Anh ấy tuyệt thật đấy.”
Người hộ tống trông có vẻ vẫn còn khá trẻ, nhưng Hyland quả thực đã thuê một người lính gác lành nghề cho họ.
Sau đó, khi đã lùi xe thồ đến một nơi an toàn, người hộ tống cầm lấy cung và lẻn vào bóng râm của những ngọn đồi.
Anh ta biến mất một lúc vào trong đám cỏ thoai thoải.
Không lâu sau, anh ta quay lại, cõng theo một cậu bé trên vai.
Ấn tượng đầu tiên của Col về cậu bé vắt vẻo trên vai người hộ tống là giống như một chiếc khăn tay vô tình bị rơi khi ai đó đi qua một thị trấn lầy lội, rồi ngày hôm sau mới được nhặt lại.
“Cậu ấy có bị thương không? Còn tỉnh chứ?”
Col vội vàng nhảy xuống khỏi thùng xe thồ và chạy đến chỗ người hộ tống.
Người hộ tống đặt cậu bé xuống một bãi cỏ gần đó.
“Thằng bé không sao đâu. Cậu ta chỉ ngã gục xuống đất vì đói thôi. Có phải vậy không?” anh ta hỏi, và đôi mắt cậu bé lộ ra, hé nhìn từ khuôn mặt lấm lem bùn đất trong lúc cậu gật đầu. Thật khó để nhìn rõ do lớp bụi bẩn, nhưng nếu nhìn kỹ hơn, người ta có thể thấy mái tóc cắt ngắn của cậu màu vàng, giống như Hyland, và đôi mắt cậu có màu xanh nhạt tuyệt đẹp. Vẻ ngoài thanh tú, ưa nhìn của cậu bé là của một quý tộc.
Một cậu bé quý tộc đói lả, toàn thân phủ đầy bùn đất đồng nghĩa với việc cậu đã ngã sấp mặt, rất có thể là do xây xẩm mặt mày.
“Tôi đã cảnh giác vì có những nhóm ngoài kia chuyên giăng bẫy kiểu này để gài bẫy những du khách tốt bụng, nhưng...”
Col phần nào hiểu được lý do tại sao người hộ tống lại có vẻ bị sốc đến vậy: Đó là vì những gì cậu bé đang mặc trên người.
Cậu bé mặc một lớp áo khoác mỏng, và đôi bốt của cậu được làm từ da mềm, hoàn toàn không được thiết kế để chống chọi với bùn lầy. Chiếc ba lô của cậu vốn đã nhỏ, nhưng nó xẹp lép, như thể cậu đã ăn sạch khẩu phần ăn của mình rồi vậy.
Thế nhưng thanh kiếm giắt bên hông cậu lại thô sơ một cách kỳ lạ. Thêm vào đó, do cách cậu bé đang nằm sải lai, Col có thể nhìn thấy cậu thậm chí còn đang mặc áo giáp lưới bên dưới lớp quần áo xộc xệch. Nó không chỉ nặng nề, mà còn không thể giữ ấm cho bất kỳ ai trên những con đường se lạnh của ngày đầu xuân, khiến nó về cơ bản là vô dụng cho việc đi lại thông thường.
Cậu bé nằm gục ở đó khoác trên mình bộ trang phục mang lại nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời.
“Tuy nhiên, tôi đã định giả vờ như không thấy cậu ta nếu cậu ta chỉ là một đứa trẻ lang thang ngoài đường.”
Hyland đã yêu cầu người hộ tống này đảm bảo cho chuyến đi của họ diễn ra an toàn. Những quyết định tàn nhẫn như vậy là một phần trong công việc của anh ta, nhưng thay vào đó anh ta lại đưa cậu bé này về cho họ.
Và điều đó có nghĩa là có một lý do nào đó đằng sau hành động này.
“Tu viện vĩ đại Brondel nằm ngay cuối con đường này đúng không? Liệu cậu ấy có phải là người của họ không?”
Nếu cậu bé là một người lính canh đóng quân tại tu viện, thì Col có thể hiểu tại sao cậu lại mang vũ khí. Nhưng điều đó không giải thích được tại sao quần áo của cậu lại cho thấy cậu rõ ràng không quen với việc đi lại, hay cậu đã ngốc nghếch đến mức nào khi để mình ngã gục vì đói.
“Không. Tôi cũng rất ngạc nhiên, nhưng có vẻ như thằng bé đang được huấn luyện để trở thành một hiệp sĩ.”
“Cái gì?”
Người lên tiếng là Myuri, đang quan sát tình hình từ xa trên thùng xe thồ. Cô bé vội vàng định nhảy xuống xe, nhưng ngập ngừng khi nhìn thấy con đường lầy lội, thế là cô bé đổi sang đôi giày rẻ tiền mua ở thị trấn trước, rồi mới thận trọng bước xuống.
Khi cậu bé nhận ra có một cô gái ở đó, cậu nghiến răng và ngồi dậy.
Một nụ cười mỉm thoáng qua trên môi người hộ tống khi chứng kiến cảnh đó. Myuri đi đến mang theo thức ăn và nước uống rồi đưa cho cậu bé.
“Chúng ta có nên nhóm lửa không?”
Và chỉ với một gợi ý đó, họ đã quyết định sẽ chăm sóc cậu bé.
“Tôi sẽ lo việc đó,” người hộ tống nói, rồi nhìn cậu bé, người đang cầm túi nước và miếng bánh mì cứng đờ trên tay. “Này nhóc, nếu muốn đi cùng chúng tôi, thì tốt nhất cậu nên giải thích cho những người tốt bụng này biết tình hình của cậu là sao đi.”
Người hộ tống nói rõ ai trong số ba người họ có quyền đưa ra quyết định trong nhóm.
Cậu bé nhìn người hộ tống bằng đôi mắt to tròn, ngoan ngoãn trước khi chậm rãi gật đầu thật mạnh.
Và mặc dù lúc đó cậu hẳn phải rất thèm khát thức ăn và nước uống, cậu vẫn dũng cảm duỗi thẳng lưng, đặt túi nước và bánh mì lên đùi, và cất tiếng.
“Tên tôi là Carl Rhodes.”
Giọng cậu khô khốc; đôi môi cậu nứt nẻ.
Tuy nhiên, bất chấp điều đó, vẫn còn một vẻ cao quý toát ra từ cậu, và có vẻ như đó không chỉ là ấn tượng thoáng qua.
“Tôi là một thực tập sinh trong Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza.”
Giờ thì Col đã hiểu lý do tại sao cậu bé lại mang một thanh kiếm thô sơ đến vậy, một chiếc áo giáp lưới lạc quẻ đến thế, và tại sao người hộ tống lại quyết định cứu cậu.
Điều mà cậu không biết là tại sao cậu bé lại có mặt ở đây.
“Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza!” Myuri hét lên trong sự phấn khích. “Đó là những hiệp sĩ chiến đấu trên Đảo Kruza, tít tận vùng biển phía nam đúng không?! Găng tay vàng, áo giáp bạc, và chiếc áo choàng đỏ tung bay phấp phới là thương hiệu của họ! Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza là mạnh nhất thế giới!”
Tất cả những gì cô bé được nghe ở nhà tắm Nyohhira chỉ là những câu chuyện như thế này.
Không chỉ có vậy, Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza còn là một trong những hiệp sĩ đoàn nổi tiếng nhất trong số vô vàn hiệp sĩ đoàn khác. Việc cô bé phấn khích trước tiết lộ này là điều hiển nhiên, nhưng nó chỉ khiến Col thêm phần cảnh giác.
“Tôi vẫn chỉ là một thực tập sinh, nên tôi còn một chặng đường dài phía trước mới được mặc những trang bị đó...”
Rhodes có vẻ hơi bối rối, nhưng Col có thể thấy được một nét tự hào đang tỏa sáng. Và mặc dù cậu chỉ là một thực tập sinh, Col đã nghe nói rằng chỉ những người có địa vị quý tộc mới có thể gia nhập một hiệp sĩ đoàn với hy vọng một ngày nào đó sẽ trở thành hiệp sĩ.
Dù sao thì cậu bé này cũng là con cái của một gia đình quyền quý.
“Nhưng... tại sao một thực tập sinh từ Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza lại ở một nơi như thế này?”
Hiệp sĩ đoàn đặc biệt này nổi tiếng vì là cánh tay phải của Giáo hoàng. Họ đóng quân trên một hòn đảo ở vùng biển phía nam, và tín điều của họ là tiêu diệt mọi kẻ dị giáo và kẻ thù của đức tin. Về cơ bản, Vương quốc Winfiel hiện tại hẳn phải là một trong những kẻ thù đáng ghét của họ.
Tuy nhiên, họ tự định vị mình là những sứ giả trần gian thực thi thiên phạt. Nếu họ thực sự đang xâm lược vương quốc này, thì hẳn phải có một sự kiện gì đó lớn lao hơn nhiều đang diễn ra, chứ không phải một trò hề lố bịch như việc một thực tập sinh đơn độc lang thang rồi ngã gục bên vệ đường.
Điều đó vẫn đúng ngay cả khi cậu được cử đến đây làm trinh sát trước khi bất kỳ cuộc chiến nào nổ ra.
Thật khó tưởng tượng một nhóm những chiến binh lão luyện lại cử cậu ra ngoài với những trang bị nghèo nàn đến vậy.
“À, ừm...,” Rhodes ngập ngừng.
“Thôi nào, anh trai. Kể cả một hiệp sĩ có rơi vào tay kẻ thù, anh ta cũng sẽ không dễ dàng khai ra đâu.”
Có một giọng điệu tự hào trong lời nói của Myuri vì một lý do nào đó. Col nghi ngờ điều đó, xét đến việc cậu biết rõ vị thế của hiệp sĩ đoàn, nhưng Rhodes thì ngược lại, có vẻ nhẹ nhõm trước sự ngây thơ của Myuri.
“Tôi biết hai người đã giúp đỡ tôi rất nhiều ở đây, nên tôi cảm thấy rất tồi tệ vì không thể kể cho hai người nghe toàn bộ câu chuyện. Nhưng tôi đang trên đường chuyển một bức thư đến tu viện vĩ đại Brondel ở cuối con đường này, theo lệnh của các hiệp sĩ.”
“Thật sao? Chúng tôi cũng đang đến đó đây!”
Rhodes nở một nụ cười điềm tĩnh, chín chắn, một nụ cười phù hợp với một người lớn tuổi hơn vẻ bề ngoài của cậu, để đáp lại thái độ của Myuri.
“Mọi người đang đi hành hương sao?”
Cậu bé chắc chắn phải rất nhiệt thành với đức tin của mình, xét đến việc cậu là con cái của một gia đình nề nếp và là thực tập sinh của một hiệp sĩ đoàn có mối liên hệ mật thiết với Giáo hoàng. Col thấy thật khó để tìm ra từ ngữ thích hợp khi cậu bé hỏi một câu hỏi dễ dàng đến thế.
“Chuyện hơi phức tạp một chút,” Myuri tiếp lời thay cậu. “Nhưng anh trai tôi và tôi—à, tôi đoán tôi gọi anh ấy là anh trai, nhưng anh ấy chỉ làm việc cho cha tôi thôi; anh ấy không phải anh ruột của tôi—” Rhodes hơi sốc trước lời giải thích chớp nhoáng, mặc dù cậu vẫn gật gù theo. “Dù sao thì, chúng tôi đang trong một hành trình đi khắp thế gian, và chúng tôi đang nghiên cứu về các huy hiệu ở một thành phố tên là Rausbourne.”
“À há, cho một nhánh của gia tộc, tôi đoán vậy?”
Rhodes có địa vị cao đến mức những cuộc trò chuyện về huy hiệu có vẻ là chuyện bình thường đối với cậu. Giọng điệu của cậu cho thấy cậu hoàn toàn không nghi ngờ gì về lời giải thích của Myuri.
“Đúng rồi. Đại loại thế. Nhưng rồi chúng tôi nghe nói từng có rất nhiều hiệp sĩ đoàn trong vương quốc từ rất lâu rồi khi chúng tôi đang thực hiện nghiên cứu, nên chúng tôi quyết định đến nói chuyện với một người am hiểu tường tận về những chuyện đó.”
“Có một người đàn ông làm nghề chăn cừu ở Tu viện Brondel này, và ông ấy biết rất nhiều câu chuyện cổ xưa,” Col nói thêm.
Rhodes nhìn qua nhìn lại giữa hai người và gật đầu.
“Tôi hiểu rồi. Vậy thì tôi nghĩ cuộc gặp gỡ của chúng ta hẳn là do sự an bài của ơn trên. Tôi thấy hai người là những tín đồ có đức tin đúng đắn khi ở đất nước này.”
Vậy ra sự thoải mái mà Col cảm nhận được trong chốc lát không phải là do cậu tưởng tượng.
Rhodes có vẻ như đã lấy lại được năng lượng sau khi nói chuyện với người khác; sự dũng cảm đã trở lại trên khuôn mặt cậu và cậu nói, “Nếu hai người vừa mới đến từ Rausbourne, thì chắc hẳn hai người đã nghe nói về vị Hồng y Chạng vạng khét tiếng rồi.”
Col hoàn toàn không phải là đối thủ của Myuri khi phải đối phó với những bước ngoặt bất ngờ như thế này.
“Tất nhiên rồi. Nhưng chỉ là tin đồn thôi. Cơ mà cậu không đói sao? Chúng ta có thể nói chuyện sau.”
Rhodes định nói điều gì đó, nhưng dạ dày của cậu đã ngắt lời bằng một tiếng ùng ục.
Bất kỳ cậu bé nào đến tuổi cũng sẽ đỏ mặt khi để bụng mình réo ầm ĩ trước mặt một cô gái, chứ đừng nói đến việc lại còn là một hiệp sĩ tập sự.
Myuri cười khúc khích và nói, “Có thêm một phần nữa nếu cậu muốn đó.”
Rhodes hoàn toàn xấu hổ, nhưng cuối cùng cậu cũng cắn vào miếng bánh mì; không gì có thể ngăn cản sự thèm ăn của một cậu bé đang tuổi ăn tuổi lớn.
Cuối cùng, cậu đã đánh bay ba miếng bánh mì trọn vẹn cùng với thịt muối nướng trên ngọn lửa do người hộ tống nhóm lên.
“Cậu có cầu nguyện ba lần một ngày không? Gì cơ, cậu không được phép nói chuyện trong bữa ăn á? Cậu có thực sự dùng nhẫn bạc để kiểm tra xem có độc trong thức ăn không? Cậu đã bao giờ được công nhận chưa?”
Myuri tranh thủ cơ hội để tung ra hết câu hỏi này đến câu hỏi khác cho Rhodes, lúc này đã bình tĩnh hơn rất nhiều sau một bữa ăn tử tế. Thay vì nghe một người biểu diễn kể những câu chuyện, cô bé đang có một hiệp sĩ tập sự bằng xương bằng thịt ngay trước mặt mình.
Col chắc chắn cảm thấy như cô bé không thể kiềm chế được mong muốn xác minh tất cả những câu chuyện mà cô bé đã nghe trong quá khứ, nhưng cậu cũng nghi ngờ rằng đó là một hành động khá có chủ đích.
Trước khi họ ăn, Rhodes đã gọi Hồng y Chạng vạng là kẻ “khét tiếng”.
Người thanh niên đóng vai trò hộ tống cho họ gọi Col ra chỗ chiếc xe thồ, cách đó vài bước chân, và bắt đầu nói chuyện với cậu trong khi vờ như đang cất đồ đạc.
“Xét đến thân phận của mình, tôi không thể bỏ mặc cậu bé như vậy được, nên tôi đã đưa cậu ta đến đây.”
Mặc dù biểu cảm trên khuôn mặt người hộ tống rất bình thản, Col có thể cảm nhận được rằng anh ta sẵn sàng trói cậu bé lại và bỏ lại cậu ở đâu đó nếu được ra lệnh.
“Không, không sao đâu, thật sai trái nếu bỏ rơi một người đang gặp hoạn nạn. Và may mắn thay, có vẻ như cậu ta vẫn chưa phát hiện ra tôi là ai.”
Trong lúc trò chuyện với Rhodes, Myuri đã thản nhiên nhận mình là Ilenia.
“Điều đó thì tôi đồng ý, nhưng điều khiến tôi bận tâm là tại sao một người từ hiệp sĩ đoàn đó lại tìm đường đến vương quốc của chúng ta.”
Col cũng đang thắc mắc điều tương tự.
“Xét đến cách ăn mặc của cậu ta, có vẻ như cậu ta không hề có sự chuẩn bị nào cả, đúng không.”
“Cứ như thể cậu ta được gửi thẳng từ căn cứ của họ ở phía nam đến đây mà không mang theo thứ gì ngoài bộ quần áo trên người vậy. Thật khó tin là cậu ta đến đây để phát động chiến tranh.”
Điều đó có nghĩa là không có nhiều khả năng khác xuất hiện trong đầu họ.
“Một kẻ đào ngũ sao?”
“Cậu ta đã cho tôi xem bức thư có con dấu của hiệp sĩ đoàn để chứng minh cậu ta có thể tin tưởng được. Cậu ta sẽ giấu nhẹm thân phận của mình nếu là một kẻ đào ngũ. Công việc cực nhọc như một tên hầu thấp hèn nhất sẽ chờ đợi cậu ta nếu bị bắt trong trường hợp đó.”
Anh ta không sai.
“Nhưng tôi có một giả thuyết. Nó hơi rắc rối một chút, nên hãy để dành cho đến khi chúng ta giao cậu ta cho tu viện.”
Khi người hộ tống nói xong, anh ta cũng đặt nốt phần củi còn lại và những thứ khác dùng để nhóm lửa trở lại xe thồ gần như cùng lúc. Rhodes có thể sẽ nghi ngờ nếu họ nói chuyện quá lâu.
Nhưng có lẽ họ không cần phải thận trọng đến mức đó.
“Anh trai?” Myuri hớt hải chạy tới, vẻ mặt đầy lo lắng. “Cậu ấy ngủ thiếp đi rồi. Em đoán cậu ấy cảm thấy an toàn sau khi đã được ấm áp và no bụng.”
“...”
Khi Col nhìn thấy Rhodes đang ngủ say sưa bên đống lửa, cậu và người hộ tống vô thức trao đổi ánh nhìn. Thật khó để tưởng tượng cậu là một chiến binh đến để bắt đầu một cuộc chiến tranh đã được mong đợi từ lâu, hay một trinh sát được gửi đến để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh sắp xảy ra.
Điều Col nghĩ đến khi nhìn Rhodes chính là bản thân mình.
Cậu đã rời nhà trong sự vội vã mà không có đích đến và ôm ấp hy vọng trở thành một nhà thần học, nhưng rồi nhanh chóng thấy mình lâm vào đường cùng và về cơ bản là sống một cuộc đời ăn mày. Và khi cậu rơi vào rắc rối tột cùng, Lawrence và Holo, tình cờ đi ngang qua, đã cứu cậu. Đó là phần mở đầu của một câu chuyện dài, mà cuối cùng đã dẫn đến việc cậu gặp Myuri ngày hôm nay.
Và Myuri, tất nhiên, đã nghe câu chuyện đó từ mẹ mình.
“Mẹ kể với em rằng anh cũng từng như thế đấy, anh trai ạ.”
“Anh cũng có thể ăn hết ba ổ bánh mì liền luôn,” Col đáp, và cô bé chớp mắt đầy thích thú. “Từ đây đến tu viện có xa không?” Lần này cậu quay sang hỏi người hộ tống, người vừa khẽ nhún vai.
“Chúng ta sẽ đến muộn một chút, nhưng tôi tin là chúng ta sẽ đến nơi trong đêm nay.”
“Vậy thì chúng ta lên đường thôi. Tôi không muốn để một đứa trẻ mệt mỏi phải ngủ ngoài trời như thế này đâu.”
Người hộ tống gật đầu không nói một lời, dập lửa, rồi bế Rhodes, lúc này đang ngủ say như chết, đặt lên thùng xe.
Đó không phải là một cách đối xử nhẹ nhàng gì cho cam, nhưng Rhodes không hề tỉnh giấc.
Và vẻ mặt đau đớn của cậu không phải vì cậu bị bệnh, mà có lẽ vì cậu đang gặp ác mộng.
“Ôi Chúa ơi...”
Họ nghe thấy cậu lầm bầm điều đó vài lần.
Myuri dùng một mảnh vải nhúng vào nước đun sôi để lau mặt cho cậu.
Không bận tâm đến việc quần áo của mình có thể bị lấm bẩn, cô bé đặt đầu cậu lên đùi mình và vuốt ve mái tóc cậu.
Rhodes thậm chí còn rơi vài giọt nước mắt trong lúc ngủ.
Cậu trông có vẻ quá đỗi yếu đuối, quá đỗi mỏng manh đối với một hiệp sĩ đoàn kiêu hãnh, nổi tiếng và hùng mạnh nhất thế giới.
Khoảnh khắc Rhodes tỉnh dậy, cậu bật dậy khỏi chiếc xe thồ với một tiếng kêu gần như là thét lên.
“Gì—, a, gì—”
Cậu vỗ vỗ khắp người, có lẽ để kiểm tra xem có thứ gì bị đánh cắp không, nhưng khi Col thấy cậu chạm vào hông trái, cậu nhận ra cậu bé đang tìm kiếm thanh kiếm của mình.
“Kiếm của cậu đây. Và bức thư của cậu đang nằm trong túi áo ngực,” người hộ tống lên tiếng, ra hiệu. Anh ta đã cất thanh kiếm của Rhodes đi để phòng hờ.
Khi anh ta nhắc đến bức thư, Rhodes dường như cuối cùng cũng nhận ra rằng mình đã ngủ thiếp đi.
Cậu nhìn lên bầu trời vì lúc này đã tối đen như mực. Lửa trại cháy rực đỏ, bên trên là một chiếc nồi đang sôi sùng sục.
“Ồ, ừm...”
“Thành thật xin lỗi cậu. Đáng lý ra chúng tôi hy vọng có thể đến được tu viện trong lúc cậu đang ngủ cơ.”
Khi Col nói vậy, người hộ tống cúi gầm mặt xuống. Họ đã lên kế hoạch đến nơi vào lúc hoàng hôn, nhưng tình trạng con đường tồi tệ hơn nhiều so với dự kiến của họ và một trong các bánh xe thồ đã bị mắc kẹt, buộc họ phải dừng lại.
Về khoảng cách, tu viện chỉ cách đó một quãng ngắn. Tuy nhiên trời không quá lạnh, nên họ quyết định ngủ lại ngoài trời thay vì cố gắng tiến lên với nguy cơ bị lạc đường. Col, tất nhiên, đã nói rằng đó không phải lỗi của người hộ tống, nhưng người đàn ông này vẫn cảm thấy tội lỗi về điều đó.
“Tôi—tôi hiểu rồi... Tôi xin lỗi. Tôi đã không kiểm soát được bản thân mình.”
Rhodes ngồi xuống, và Myuri đưa cho cậu một món đồ uống. Hỗn hợp gồm sữa dê—thứ họ đã mua ở một trong những thị trấn dọc đường—pha với mật ong và rượu vang là thứ mà Col đã chuẩn bị cho cô bé, nhưng nó có lẽ cũng rất phù hợp với cậu bé vẫn mang khuôn mặt trẻ thơ này.
Và Myuri sau đó đã ngồi xuống bên cạnh cậu.
Cô bé hẳn cảm thấy tồi tệ khi để cậu một mình ở đó.
“Cậu đã gặp những cơn ác mộng tồi tệ trong lúc ngủ,” Col nói.
Nhận xét của cậu không chỉ xuất phát từ sự quan tâm dành cho cậu bé; cậu cũng đang thăm dò để tìm kiếm câu trả lời.
Rhodes ngay lập tức hiểu được cả hai hàm ý trong câu nói đó; cậu cụp mắt xuống và giữ im lặng.
“Và cách ăn mặc của cậu cũng không phù hợp lắm để đi lại ở vùng này. Nếu cậu thực sự mong muốn... chúng tôi có thể cố gắng giúp đỡ cậu.”
Myuri múc những thìa lớn thịt cừu và hành tây từ trong nồi ra rồi đưa một chiếc bát cho Rhodes trong lúc cậu vẫn cúi gầm mặt. Khi cậu ngước lên, cậu mỉm cười mà không nói một lời nào. Khuôn mặt cậu bé đỏ bừng, có thể nhận thấy rõ ngay cả dưới ánh lửa, và cậu nhận lấy chiếc bát từ tay cô bé.
Trong lúc Col quan sát, cậu trông giống như một đứa trẻ xuất thân từ một gia đình nề nếp mà người ta có thể bắt gặp ở bất cứ đâu.
Nhưng ngay cả khi cậu khó có thể tự nhận mình là một chuyên gia về các vấn đề thế tục, Col vẫn có thể nhận ra rằng cậu bé này vẫn đang ở trong một vị thế vô cùng đặc biệt.
Và người hộ tống của họ đã kể cho cậu nghe về những lời đồn thổi liên quan đến hiệp sĩ đoàn dọc đường đi.
“Cậu đến để xin sự cứu trợ từ Tu viện Brondel. Có phải vậy không?”
Khi Col đặt câu hỏi, Rhodes run rẩy, suýt chút nữa làm đổ thức ăn trong chiếc bát mà cậu đang đặt trên đầu gối.
“S-sao anh... Anh đã đọc—”
“Chúng tôi không đọc thư của cậu. Những gì tôi biết về tình hình của hiệp sĩ đoàn và... trạng thái của cậu, tự nhiên đã dẫn tôi đến kết luận đó.”
Ít nhất thì đó là những gì người hộ tống đã nói.
“Đừng có tra khảo cậu ấy như thế chứ, anh trai,” Myuri ngắt lời. “Cậu không cần phải trả lời đâu. Bọn họ chỉ đang tỏ ra xấu tính thôi.”
Cô bé chuyển sang đứng về phe Rhodes một cách trơn tru.
Trước đó, người hộ tống đã phán đoán một cách lạnh lùng rằng cậu bé có thể sẽ cởi mở hơn nếu Myuri tạo dựng được mối quan hệ tốt với cậu, điều đó đã dẫn họ đến chiến lược này, nhưng Col có cảm giác rằng sự ủng hộ của cô bé không hoàn toàn là giả tạo. Xét cho cùng, Rhodes là một phần của hiệp sĩ đoàn huyền thoại mà cô bé vô cùng ngưỡng mộ.
“Không... Bọn họ không xấu tính đâu,” Rhodes nói—đúng như những gì người hộ tống đã đánh giá—và đặt bát xuống. “Hai người đã giúp đỡ tôi rất nhiều. Hai người đã cõng tôi trong lúc tôi ngủ, và hai người thậm chí còn cho tôi ăn... Tôi có thể nhận ra hai người xuất thân từ một gia đình thương nhân. Chắc hai người đang tự hỏi một người như tôi đang làm gì ở đây.” Dù không lớn hơn Myuri bao nhiêu, cậu lại nói năng vô cùng nhã nhặn. “Và tôi chắc chắn chuyện đó rồi cũng sẽ được phơi bày không sớm thì muộn thôi. Vì vậy...” Cậu nhìn Myuri, lúc này đang ngồi cạnh cậu.
“Giờ thì không cần phải làm thế. Tôi sẽ ổn thôi. Tôi không muốn cậu làm hỏng vẻ ngoài xinh đẹp của mình bằng cái nhíu mày đó đâu,” cậu nói, mỉm cười để khiến cô bé bớt lo lắng. Dù đã quen với việc được khen là đáng yêu, đây có lẽ là lần đầu tiên có ai đó gọi cô bé là xinh đẹp. Không dễ gì mới được thấy cô bé sốc và bẽn lẽn đến vậy.
Dù chỉ mới là một thực tập sinh, một hiệp sĩ được cho là phải đủ phẩm chất để giúp đỡ kẻ yếu và trừ gian diệt ác.
Rhodes dường như là một tấm gương mẫu mực cho những ai nuôi mộng trở thành hiệp sĩ.
“Nếu có điều gì hai người muốn biết, xin cứ hỏi. Đó là lời cảm ơn của tôi vì hai người đã cho tôi chỗ trú ẩn và một bữa ăn. Nếu đó là chuyện tôi biết, thì tôi sẽ kể cho hai người nghe,” Rhodes nói với một sự kiên cường mà họ không bao giờ có thể tưởng tượng được là cậu sở hữu khi họ lần đầu tiên nhìn thấy cậu gục ngã bên vệ đường.
Người hộ tống lẳng lặng gật đầu, cầm lấy thanh kiếm của cậu bé mà anh ta đang giữ, rồi ném nó cho cậu qua đống lửa.
“Thanh kiếm muốn ở lại cùng kẻ mạnh.”
Rhodes, phản xạ bắt lấy thanh kiếm, nhận ra rằng người hộ tống đã công nhận cậu và thành tâm cúi đầu đáp lễ.
“Chà, nếu tôi có thể hỏi—” Col hắng giọng và lặp lại những gì người hộ tống đã nói với cậu. “Tôi nghe nói rằng Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza—không, nói chính xác hơn là đơn vị của cậu trong Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza—đang phải vật lộn với sự nghèo đói. Lời đồn đó có đúng không?”
Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza là một tổ chức tập hợp lại dưới danh nghĩa của Giáo hoàng và chiến đấu nhân danh đức tin. Giống như việc các nhà thờ nằm rải rác một cách không đồng đều khắp các quốc gia, một hiệp sĩ đoàn được thành lập bằng cách tập hợp những người tinh anh nhất từ khắp nơi trên thế giới.
Vào thời điểm cuộc chiến tranh chống lại những kẻ dị giáo đang ở đỉnh cao, số lượng hiệp sĩ của một quốc gia thuộc Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza được hiểu là vị thế tôn giáo của quốc gia đó. Và thế là các vị vua chúa, lãnh chúa trên khắp thế giới đều gửi đến những người lính dũng mãnh nhất của họ và cạnh tranh nhau để quyên góp tiền bạc.
Chính vì hoàn cảnh đó mà bộ máy hoạt động bên trong của hiệp sĩ đoàn không hề nguyên khối; có rất nhiều phe phái bị chia rẽ theo quốc gia, tất cả đều cạnh tranh với nhau để chứng minh rằng họ là công cụ thực sự truyền đạt ý chí của Chúa, và tại căn cứ trung tâm, ngay cả việc tiếp cận với các nhu yếu phẩm hàng ngày cũng phụ thuộc vào địa vị.
Myuri rất thích những câu chuyện về các hiệp sĩ, và cô bé dường như cũng đã coi đó là kiến thức chung, nhưng điều đó đã dẫn Col đến một kết luận.
Vương quốc Winfiel, tất nhiên, thường quyên góp đủ tiền để duy trì một đại đội của riêng họ trong Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza, nhưng vương quốc hiện đang đối đầu trực tiếp với Giáo hoàng.
Từ quan điểm của vương quốc, việc gửi tiền quyên góp cho Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza để duy trì nguồn cung cấp cho đội ngũ hiệp sĩ của họ về cơ bản chẳng khác nào ban phát ân sủng và sự nhân từ cho kẻ thù. Còn về phía Giáo hoàng, ngài có một lực lượng quân sự được tài trợ bởi một quốc gia thù địch ngay sát nách mình, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Hậu quả là, khi nguồn tiền quyên góp từ vương quốc bị cắt đứt, đại đội của Vương quốc Winfiel nằm trong Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza đã mất đi chỗ dựa. Đã vậy, một nhân vật kỳ lạ mang tên Hồng y Chạng vạng còn xuất hiện, phá hoại lợi ích của Giáo hoàng. Vì đơn vị đặc biệt đó trong hiệp sĩ đoàn bao gồm toàn những người đến từ Vương quốc Winfiel, những hiệp sĩ đồng đội của họ nghi ngờ tính xác thực về đức tin của họ.
Người hộ tống đã nói với Col rằng tin tức về chuyện này đang lan truyền trong giới thương nhân chuyên qua lại các tuyến đường vận tải biển.
Và vì vậy Rhodes đã trả lời, “...Người ta nói rằng sự chết đói là do thiếu hụt đức tin.”
Mặc dù cậu hẳn không thể thẳng thắn thừa nhận rằng họ đang lâm vào cảnh nghèo đói do danh dự của hiệp sĩ đoàn, Col vẫn hiểu được hoàn cảnh thực sự.
“Vậy còn tin đồn các người sẽ quay trở lại vương quốc thì sao?”
Rhodes suy nghĩ một lúc trước khi trả lời.
“Chúng tôi đang ở trong một tình thế khó khăn, nhưng tôi cũng có thể nói điều tương tự đối với toàn bộ Giáo hội và các giáo sĩ ở đất nước này. Đó là lý do tại sao”—Rhodes đưa tay lên ngực để chắc chắn rằng bức thư vẫn còn ở đó, rồi tiếp tục—“chúng tôi đến đây để đề xuất sự đoàn kết.”
Cậu bé thông minh đấy, Col thầm nghĩ.
Nếu họ không thể ở lại căn cứ của hiệp sĩ đoàn, thì họ không còn cách nào khác ngoài việc quay trở về vương quốc.
Tuy nhiên, nếu họ đầu hàng vị vua đang chống đối lại Giáo hội, thì lý do tồn tại của họ với tư cách là những hiệp sĩ của đức tin sẽ bị đặt dấu chấm hỏi. Bọn họ hẳn đã nảy ra ý tưởng sáp nhập vào giáo hội của vương quốc như một phương sách cuối cùng.
Với số tiền ít ỏi mà họ có, họ cử những cậu bé như Rhodes đi trước để có thể thăm dò các lựa chọn của họ theo cách không làm xáo trộn vương quốc.
“Lúc nãy cậu có nói rằng không sớm thì muộn chúng tôi cũng sẽ biết chuyện này nhỉ,” Col nói.
Rhodes gật đầu.
“Một con tàu chở vị chỉ huy của chúng tôi đáng lẽ đã phải rời Đảo Kruza không lâu sau khi chúng tôi nằm trong đội tiên phong. Tôi tin là họ sẽ sớm cập bến ở một bến cảng nào đó trong vương quốc trong tương lai gần. Mọi người thấy đấy, tình hình trên đảo đang... ngày càng tồi tệ hơn.”
Nói cách khác, tình bạn và tình đồng chí chỉ được dành cho những người được coi là chắc chắn cùng phe.
Những hiệp sĩ đến từ Vương quốc Winfiel bị coi là công dân của vương quốc họ trước khi được coi là hiệp sĩ.
Với nguồn tiền quyên góp bị cắt đứt và sự đối xử hà khắc từ những người xung quanh, những người không còn bám trụ lại được ở căn cứ giờ đây bị bỏ mặc cho lang bạt để tìm kiếm nơi nương tựa cho riêng mình. Thế nhưng, với tư cách là những người thuộc về cả Giáo hội lẫn vương quốc, địa vị của họ lại đi kèm với muôn vàn trắc trở.
Col cảm thấy đồng cảm với hoàn cảnh mà các hiệp sĩ đang mắc phải khi Rhodes nắm chặt tay đặt trên đầu gối và nói bằng một giọng căng thẳng, “Nhưng đức tin của chúng tôi thì không hề thay đổi chút nào...”
Một giọt nước mắt rơi xuống nắm đấm của cậu.
Rhodes hoảng hốt khi nhận ra mình đang khóc, nhưng khi Myuri nhẹ nhàng đặt tay lên vai cậu, cậu không thể kiềm chế được nữa. Myuri ôm chầm lấy cậu, ôm đầu cậu vào lòng, và đưa mắt nhìn Col. Biểu cảm của cô bé vừa lo lắng vừa hoang mang.
Khi vương quốc thách thức Giáo hội, cậu tin rằng có một phần lớn công lý nằm trong cuộc đấu tranh đó. Giáo hội đã ngủ quên trên vòng nguyệt quế của những đặc quyền và đắm chìm trong các hành vi thối nát. Cậu vẫn tin rằng một ngày nào đó tất cả những điều đó cần phải được sửa chữa.
Tuy nhiên, bằng cách tạo ra sự thay đổi trên thế giới, đặc biệt là khi phong trào ngày càng lớn mạnh, không thể tránh khỏi việc sẽ có những người bị cuốn vào đó. Những người thuộc về Giáo hội cũng không ngoại lệ.
Cũng có những người có đức tin chân chính trong nội bộ Giáo hội, và Col chưa bao giờ có ý định làm tổn thương họ chút nào. Dù vậy, những làn sóng mạnh mẽ của xã hội không thể bị đảo ngược, và cậu cũng không nghĩ rằng việc đảo ngược tất cả những điều đó sẽ là bước đi đúng đắn.
Trước nỗi đau và sự xót xa của Rhodes, tất cả những gì Col có thể làm là khoanh tay đứng nhìn.
Những hành động của cậu đang làm tổn thương những người mà cậu chưa từng nghĩ tới.
Cậu nghi ngờ rằng dù là xin lỗi hay phớt lờ họ thì cũng không phải là quyết định đúng đắn.
Chính trong những lúc như thế này, những lời cầu nguyện và đức tin trở nên vô cùng bất lực.
Điều tối thiểu cậu có thể làm là bỏ thêm củi vào đống lửa trại của họ.
Khi Col thức dậy vào sáng hôm sau, Rhodes đã rời đi.
Người hộ tống, đang dùng một cái que chọc chọc vào những tàn than hồng đang tỏa sáng của đống lửa, kể với cậu rằng cậu bé đã lên đường trước lúc mặt trời mọc.
Anh ta giải thích ngắn gọn rằng đó là vì, dù cậu bé chỉ là một thực tập sinh, cậu vẫn đã rơi nước mắt trước mặt người khác.
Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza đang rơi vào hoàn cảnh vô cùng thê thảm, đã lọt thỏm vào những vết nứt do cuộc xung đột giữa vương quốc và Giáo hội tạo ra. Khi Col nghĩ đến việc mình cũng nhúng tay vào việc ít nhất là làm trầm trọng thêm những vết nứt đó, cậu cảm thấy mình phải chịu một phần trách nhiệm cho những giọt nước mắt của cậu bé.
“Tôi tự hỏi liệu tu viện có chấp nhận cậu ấy không.”
Người hộ tống, lúc này đang đun sôi sữa bò, rất có thể là cho bữa sáng của họ, liếc nhìn Col, rồi quay lại nhìn ngọn lửa trước khi trả lời.
“Tôi không chắc về điều đó.”
“Nhưng cậu ấy là một phần của Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza. Chẳng phải sẽ là một vinh dự nếu được chào đón cậu ấy vào sao?”
“Tôi không cho rằng bất kỳ tổ chức lớn mạnh nào có lịch sử lâu đời như Tu viện Brondel lại sẵn sàng dang rộng vòng tay đón nhận một mối hiểm nguy rõ rành rành như vậy. Các hiệp sĩ vừa là bạn vừa là thù đối với cả hai phe—đó là vị thế đau đớn nhất trong một cuộc chiến.”
“...Đó là từ kinh nghiệm của anh sao?” Col hỏi, và người hộ tống nhún vai.
“Tôi từng là một lính đánh thuê trước khi được Trữ quân Hyland thu nhận. Và trước đó, tôi sống ở một ngôi làng biên giới thường xuyên bị các thế lực khác nhau chiếm đoạt. Vị lãnh chúa mà chúng tôi thề trung thành thay đổi từng ngày, điều đó có nghĩa là không ai tin tưởng chúng tôi cả, và chúng tôi luôn bị bức hại. Chúng tôi lúc nào cũng ở trên cùng một vùng đất, nhưng tất cả những gì tôi nhớ là chúng tôi luôn cảm thấy như mình liên tục bị lạc lõng.”
Col giữ im lặng, và người hộ tống thoáng mỉm cười.
“Điều kỳ lạ duy nhất là đồ ăn.”
“Đồ ăn sao?”
“Mặc dù những quốc gia này là láng giềng, thói quen ăn uống của họ lại hoàn toàn khác biệt. Một nơi thường luộc thịt, trong khi nơi kia lại thường nướng trên lửa. Ngôi làng của chúng tôi liên tục đổi chủ, và mỗi khi điều đó xảy ra, chúng tôi lại chuyển từ luộc thịt sang nướng thịt và ngược lại. Tất cả chỉ để những kẻ cai trị mới không coi chúng tôi là những kẻ ngoại đạo không thuộc về họ.” Một nụ cười mờ nhạt hiện trên khuôn mặt người hộ tống khi anh ta thở dài, như thể đang hồi tưởng lại những ký ức của mình về thời gian đó. “Và bất cứ khi nào chúng tôi chào đón một lãnh chúa mới bằng một bữa tiệc, ông ta sẽ ném miếng thịt xuống đất, tuyên bố rằng đó là đồ ăn của bọn giả dối. Khi cậu bé nói rằng họ không hề thay đổi chút nào, điều đó đã chạm đến một nỗi đau trong tôi.” Người hộ tống đột nhiên mang vẻ mặt nghiêm túc và ngẩng đầu lên. “Tôi xin lỗi. Đúng là một câu chuyện vô cùng nhàm chán mà.”
“Ồ, không, hoàn toàn không đâu...”
Lấy lại vẻ vô cảm, người hộ tống tiếp tục chăm lo ngọn lửa.
Đó là một câu chuyện về việc địa vị và đồng minh của một người lại còn thay đổi chóng vánh hơn cả thời tiết.
Col đứng dậy kèm theo một tiếng thở dài và nhòm vào thùng xe để tìm Myuri, cô bé đã lăn ra ngủ trên mớ hàng hóa như một cái giường, lúc này đã thức giấc, đang nhìn chằm chằm vào một mảnh vải.
“Đó là gì vậy?”
“Ưm,” cô bé tạo ra một âm thanh trong cổ họng để đáp lại, uể oải ngồi dậy, rồi vươn vai vươn tay thật cao. “Cậu hiệp sĩ đó đã đưa nó cho em. Cậu ấy nói, ‘Chúng ta sẽ gặp lại nhau khi tôi đã trưởng thành.’”
Thứ cô bé đang cầm là một mảnh vải nhuộm mang huy hiệu của Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza—hai thanh kiếm vắt chéo phía trước biểu tượng của giáo hội.
“Cậu ấy là một hiệp sĩ giống như những gì em thường nghe trong các câu chuyện, nhưng... cậu ấy lại hóa ra là một kẻ hay khóc nhè. Cậu ấy sặc mùi nước mắt luôn.”
Đó là một tình tiết phổ biến trong các bài hát của những người hát rong, khi một hiệp sĩ trao một phần trang phục mang huy hiệu của hiệp sĩ đoàn như một minh chứng cho địa vị của mình cho một cô gái trong một ngôi làng trên đường đi giết rồng.
Trong lúc cậu đang suy nghĩ về việc điều này thực sự đã xảy ra ngoài đời thực, Myuri quay sang Col, mũi cô bé vẫn dí sát vào huy hiệu, một tia sáng tinh nghịch ánh lên trong mắt cô.
“Đây chẳng phải là một bức thư tình sao? Anh có ghen không, anh trai?”
Tất cả những gì cậu có thể đáp lại chỉ là một nụ cười mệt mỏi.
“Anh nghĩ cậu ấy là một người đàn ông tuyệt vời.”
Myuri ngay lập tức phồng má lên, thổi nhẹ vào huy hiệu, rồi nói thêm, “Cậu bé đó bảo cậu ấy sinh ra ở vùng này.”
Ngay cả khi Rhodes có khả năng lớn tuổi hơn cô bé, thì việc Myuri gọi cậu là cậu bé có vẻ cũng rất hợp lý, và Col không thể giấu nổi nụ cười gượng gạo của mình.
“Em bảo với cậu ấy rằng, trông cậu có vẻ đang gặp khó khăn, sao không về nhà một chuyến xem sao? Cậu ấy là một đứa trẻ quý tộc mà, đúng không? Ít nhất thì cậu ấy cũng cư xử rất nhã nhặn các thứ mà.”
“Người ta cần phải ở một địa vị nhất định mới có quyền tự do trở thành hiệp sĩ, nên điều đó rất có thể là sự thật.”
“Nhưng nếu cậu ấy sinh ra ở đây, thì chẳng nhẽ cậu ấy lại không biết rằng ăn mặc phong phanh như thế vào thời điểm này trong năm sẽ rất khắc nghiệt đối với cậu ấy sao...? Khi em hỏi cậu ấy về chuyện đó, có vẻ như cậu ấy chẳng biết gì cả. Cậu ấy bảo em rằng một cấp trên trong đơn vị đã cử cậu ấy đến đây chỉ vì cậu ấy sinh ra trong vùng này. Thực ra cậu ấy chưa từng quay lại đây kể từ khi còn nhỏ xíu, lúc cậu ấy bị đuổi khỏi nhà.”
Cậu có thể tưởng tượng cảnh Myuri và Rhodes trò chuyện trước khi cậu ấy khởi hành, khi những vì sao vẫn còn lấp lánh trên bầu trời.
Đó là một cảnh tượng ấm áp, nhưng có một điều cô bé nói đã thu hút sự chú ý của cậu.
“Bị đuổi khỏi nhà sao? Ý em là từ chính nhà của cậu ấy á?”
“Cậu ấy nói cậu ấy là con trai thứ sáu trong gia đình. Người duy nhất sẽ tiếp quản gia tộc là người anh cả. Đứa thứ hai và thứ ba được giữ lại an toàn chỉ để đề phòng có chuyện gì xảy ra với người anh cả, nhưng sau đó bọn họ cũng sẽ bị tống ra ngoài như những người còn lại khi tất cả đều trưởng thành, cậu ấy kể thế.”
Đó là hệ thống quyền con trưởng của giới quý tộc.
Nếu toàn bộ tài sản của một gia đình được chia đều cho nhiều đứa trẻ, thì các điền trang sẽ cần phải bị chia nhỏ, làm phân tán sự giàu có của gia tộc.
Và thế là, giống như cách một con chim có thể loại bỏ những đứa con yếu ớt hơn khỏi tổ, những đứa trẻ không cần thiết thường bị vứt bỏ.
“Tất cả những cậu bé không cần thiết cuối cùng đều trở thành hiệp sĩ. Ở khía cạnh ngược lại, nghe có vẻ như những người anh cả thực sự sẽ không bao giờ có cơ hội trở thành hiệp sĩ cả. Em không hề biết chuyện đó luôn.”
Thế giới lý tưởng và huyền ảo của các hiệp sĩ đã được kể một cách vui vẻ trong các nhà tắm ở Nyohhira.
Những người mang tâm hồn cao thượng tự nguyện tập hợp lại, chiến đấu vì chính nghĩa, thỉnh thoảng trừ gian diệt ác, tiêu diệt các sinh vật huyền thoại, và cứu giúp những người gặp hoạn nạn.
Nhưng khi bức màn được vén lên, rõ ràng là hệ thống hiệp sĩ trong thực tế được định hình bởi những hoàn cảnh trần trụi của thế giới.
Hoặc có lẽ đó chính xác là lý do tại sao họ lại tìm cách thể hiện một phiên bản lý tưởng hóa của bản thân mình.
“Em chỉ nghĩ cậu ấy thật ngầu, và thông minh nữa, em đoán vậy,” Myuri nói, như thể cô bé đang tỉnh lại sau một giấc mơ. “Ồ, nhưng...,” cô bé quay sang Col, “anh vẫn ngầu và thông minh lắm, được chưa, anh trai?”
Col không thể làm gì khác ngoài việc mỉm cười trước màn vớt vát lộ liễu của cô bé. Trong lúc khéo léo né tránh khi cô bé lại gần định ôm mình, cậu nhìn về hướng mà cậu đoán Rhodes đã đi.
Cậu bé vừa là một phần vừa không phải là một phần của Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza, và cả cậu lẫn các hiệp sĩ vừa là công dân vừa không phải là công dân của Vương quốc Winfiel.
Cậu cảm thấy một sự quen thuộc kỳ lạ bởi vì cậu thấy nó rất giống với mối quan hệ của cậu với Myuri.
Cũng giống như việc cậu phải xác định mối quan hệ của họ để sử dụng huy hiệu, Rhodes và các đồng đội của mình đã rơi vào hoàn cảnh đơn độc và bất lực, không thể nhận được sự trợ giúp từ bất kỳ ai khác vì vị thế của họ quá đỗi mơ hồ.
Col chỉ còn biết cầu nguyện cho những hiệp sĩ lang thang sẽ gặp may mắn hơn trong việc tìm ra một cái tên phù hợp.
“Này, em nên làm gì với cái huy hiệu này đây?”
Myuri nhìn Col với vẻ mặt như thể cô bé vừa nhận được một thứ gì đó vô cùng quý giá.
“Đó là tình cảm của cậu ấy. Hãy giữ nó cẩn thận.”
Myuri rụt vai lại và nheo mắt nhìn cậu.
“Anh thực sự không biết chút gì về con gái phải không?”
“Gì cơ?”
Khi Myuri nhảy khỏi xe thồ, Col chỉ biết đứng lặng thinh.
Lúc họ lên đường sau khi dùng xong bữa sáng, Col thấy cô bé đang khâu mảnh huy hiệu vào chiếc thắt lưng của mình như một dải tua rua, nhưng cậu chỉ có thể nở một nụ cười mệt mỏi khác.
Người hộ tống không hề sai khi nói rằng tu viện chỉ cách đó một quãng ngắn.
Khi mặt trời lên cao và họ di chuyển dưới bầu trời xanh ngắt không một gợn mây, họ sớm bắt gặp một tòa nhà được bao quanh bởi một bức tường đá khổng lồ.
“Oa, nó giống như một pháo đài vậy...”
“Đây là một tu viện rất, rất cổ. Nó được thành lập trong thời đại mà cuộc chiến tranh với những kẻ man rợ vẫn còn đang hoành hành,” Col nói, và Myuri gật đầu, đầy ấn tượng.
Nhưng ngược lại, trong khi Myuri ngồi kinh ngạc trước quy mô của tòa nhà, Col lại thấy Tu viện Brondel dường như nhỏ hơn so với ký ức của cậu hồi còn nhỏ. Bức tường đá tất nhiên là đã cũ kỹ, từng bảo vệ ngôi nhà của Chúa này trong nhiều thế kỷ, nhưng nó chưa hề được xây lại.
Cậu cảm thấy xúc động khi nhận ra mình đã lớn đến nhường nào.
Hồi đó cậu còn nhỏ hơn Myuri rất nhiều, khi họ đến đây trên lưng ngựa trong màn tuyết trắng. Cậu nhận ra đó có lẽ là thời điểm mà cậu được chạm vào đuôi của Hiền giả Sói Holo nhiều nhất, và một nụ cười vô thức nở trên môi cậu.
Myuri ngơ ngác nhìn cậu chằm chằm.
“Ngài sẽ đến gặp người chăn cừu phải không?” người hộ tống hỏi.
“Vâng. Tôi tin rằng tòa nhà mà chúng ta đang tìm kiếm nằm đâu đó trong khuôn viên. Dù sao thì chúng ta cũng sẽ ghé thăm bản thân tu viện để bày tỏ lòng kính trọng.”
Myuri có vẻ buồn bực khi Col nói vậy, và cậu mỉm cười xoa đầu cô bé.
“Đó là một tu viện lớn, nên có thể chúng ta sẽ không gặp được Rhodes đâu.”
“Sẽ rất khó xử nếu chúng ta gặp cậu ấy!”
Rhodes đã đưa cho cô bé một phần huy hiệu của cậu và nói rằng họ sẽ gặp lại nhau khi cậu trưởng thành và khôn ngoan hơn.
Chắc chắn sẽ rất khó xử nếu họ lại gặp nhau trước khi một ngày trọn vẹn kịp trôi qua.
“Tôi sẽ đi chuyển lá thư từ Trữ quân Hyland,” người hộ tống nói, rồi nhảy nhẹ nhàng xuống khỏi ghế xà ích và vội vàng đi về phía cổng chính.
Myuri quan sát anh ta từ thùng xe thồ và hỏi, “Tu viện của con gà đó cũng sẽ lớn như thế này sao?”
Có vẻ như cô bé không hề có ý định gọi Sharon, hóa thân của đại bàng, bằng bất kỳ cái tên nào khác ngoài "con gà".
“Anh không biết nữa... Anh nghe nói rằng tu viện này đã nhận được rất nhiều tiền quyên góp từ những người giàu có và giới quý tộc, đồng thời còn tham gia vào rất nhiều hoạt động giao thương.”
“Em đoán nó sẽ không lớn như vậy đâu vì con gà và bản sao kém cỏi của anh có vẻ không giỏi kiếm tiền cho lắm.”
Col cười khổ trước câu nói thẳng thừng của Myuri, nhưng cậu nghĩ việc một tu viện không giỏi buôn bán cũng là điều đúng đắn. Tu viện Brondel đã tích trữ quá nhiều tài sản đến mức khi họ lâm vào cảnh khốn cùng, thay vì những lời đề nghị giúp đỡ, họ lại thu hút hàng đàn thương nhân sẵn sàng xâu xé cái xác của nó.
“Nhưng nếu họ có một tu viện lớn như thế này, thì họ có thể nhét một hoặc hai hiệp sĩ đoàn vào đó.”
“...”
Myuri bướng bỉnh không thèm nhìn Col và đăm đăm nhìn về phía cổng tu viện.
Cô bé cũng đã biết về vị thế mà Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza đang phải chịu đựng, cũng như mối quan hệ của họ với vương quốc.
Các hiệp sĩ không làm gì sai; không có lý do gì mà một cậu bé vẫn còn đang là thực tập sinh lại bị phái đến một vùng đất xa xôi, bị giao trọng trách mang theo một bức thư cầu viện, và bị ép phải chạy vạy qua những vùng đất xa lạ trong bộ quần áo không đủ chống chọi với thời tiết.
Myuri buồn bã vì những hoàn cảnh bi đát mà các hiệp sĩ đang phải đối mặt, nhưng cũng vì cô bé và Col là những người có một phần trách nhiệm đối với tình thế khó khăn hiện tại của họ. Vậy mà không ai có thể nói bên nào có lỗi, nhưng cũng không có vẻ như có cách nào để cả hai cùng tồn tại.
Cô bé hẳn đang rất cáu kỉnh về toàn bộ tình huống này.
“Anh biết người hộ tống đã nói điều này rồi, nhưng Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza là niềm tự hào của toàn bộ Giáo hội. Anh chắc chắn rằng cậu ấy đã được chào đón với vòng tay rộng mở.”
Myuri gật đầu khi Col nói vậy, rồi lại gật đầu một lần nữa khi nói, “Em cũng mong là vậy.”
Người hộ tống trở lại không lâu sau đó để báo cáo rằng mặc dù tu viện hiện tại không thể tiếp nhận người hành hương, nhưng họ sẽ cho phép họ đến thăm người chăn cừu. Anh ta có vẻ bối rối sau khi biết được đó là tất cả những gì họ có thể làm, ngay cả khi có bức thư của Hyland. Tuy nhiên, bản thân Col lại cảm thấy vui một cách kỳ lạ khi biết rằng thái độ trịch thượng đó giống hệt với ký ức của cậu về nơi này hồi còn nhỏ.
Họ đi vào một lối đi bên cạnh cổng chính, cả xe lẫn người, và một người lính canh nghiêm khắc nhắc nhở họ rằng không được phép bước vào bất kỳ tòa nhà nào ngoài chuồng cừu của người chăn cừu.
Khuôn viên tu viện rộng bằng một ngôi làng nhỏ trong khi chuồng cừu nơi người chăn cừu sinh sống nằm tít trong góc.
“Eo ơi, hôi mùi cừu quá,” Myuri nhận xét.
Tòa nhà một lần nữa lại có vẻ nhỏ hơn nhiều so với khi Col đến đây hồi còn nhỏ.
Người lính canh gõ cửa, và không lâu sau đó một ông lão đơn độc xuất hiện.
“Đã khá lâu rồi nhỉ.”
Mặc dù một người bạn chim của Sharon đã gửi thư báo trước cho ông, khuôn mặt rắn rỏi như tảng đá của Huskins thậm chí không hề dao động. Năng lượng thường ngày của Myuri tan biến khi cô bé trốn ra sau lưng Col.
“Thôi nào, Myuri, chào ông đi. Người đàn ông này đã giúp đỡ cha mẹ em từ nhiều năm trước đấy.”
Ông lão cao lớn, để tóc dài và một bộ râu rậm, và làn da của ông như một tấm da thuộc được phơi nắng.
Vậy mà Myuri dường như cảm nhận được sức mạnh thực sự của ông; cô bé đã co rúm lại, lùi về phía sau nhiều hơn bất cứ lúc nào cô đối mặt với một người hoàng gia thực sự.
“C-cháu chào ông... Cháu tên là... Myuri,” cô bé nói lý nhí trước khi lập tức trốn đi một lần nữa.
Huskins lẳng lặng chuyển ánh nhìn từ Myuri sang Col.
“Không ngờ cũng có ngày ta được gặp con gái của con sói đó,” ông nói, giọng điệu có phần kinh ngạc, rồi hất hàm và quay lưng đi vào trong tòa nhà.
Đó là tín hiệu để họ bước vào.
“Anh trai... Ông ấy có thực sự là một con cừu không?”
Ông ấy là một con cừu trong truyền thuyết, một con cừu khiến ngay cả Hiền giả Sói Holo cũng phải lùi bước.
Col cảm thấy vô cùng vui sướng vì Myuri đã hoàn toàn hiểu được người đàn ông này đáng sợ đến mức nào.
“Em không phải là đối thủ của ông ấy đúng không?” cậu hỏi, và Myuri lắc đầu nguầy nguậy.
Huy hiệu của Vương quốc Winfiel mang hình ảnh một con cừu khổng lồ, với những khối cơ bắp rắn chắc ở vai ôm sát khuôn mặt như bờm sư tử, và cắm chặt bốn chân xuống đất.
Con cừu đã sống từ thời cổ đại, đến mức ông đối xử với sói thông thái như một đứa trẻ; rất có thể ông ấy khác biệt hoàn toàn so với những con cừu thông thường.
“Chúng ta vào trong thôi.”
Người hộ tống chỉnh lại những chiếc túi trên vai, và Myuri nắm chặt lấy áo trên lưng Col rồi bước theo họ.
Nhìn từ bên ngoài, tòa nhà có vẻ cao ba tầng, nhưng phần lớn không gian bên trong lại hoàn toàn trống rỗng, và một nửa những gì đáng ra là tầng hai được dùng làm nơi cất giữ ván sàn và những thứ khác—nói chung là nó trống không. Một phần của tầng trệt được mở ra không gian bên ngoài, để cừu có thể tự do ra vào. Ngay cả vào chính khoảnh khắc đó, những con cừu bước vào với bộ lông xù xì, và khi bước ra thì đã gầy guộc hơn rất nhiều.
“Ông đang bận xén lông cừu sao?”
“Ta e là ta sẽ dùng khoảng thời gian này để làm việc,” Huskins nói, cầm lên một chiếc kéo có vẻ đủ lớn để cắt đứt đầu một người.
Mặc dù rõ ràng họ đến không đúng lúc, Huskins không hề lập tức đuổi họ đi, nên Col xắn tay áo lên và nhặt một chiếc kéo khác.
“Tôi sẽ giúp một tay.”
Người hộ tống nhìn cậu với vẻ dò xét, nhưng cuối cùng anh ta cũng đặt túi xách xuống và cầm lên một chiếc kéo khác, và rồi Myuri cũng làm theo, thế là tất cả họ đều bắt tay vào công việc xén lông cừu.
Cách ngọn lửa được đặt trong một lò sưởi chìm dưới sàn thay vì lò sưởi áp tường vẫn y hệt như ngày xưa.
Sau khi họ quét sạch lớp tro phủ trên đống than hồng và quăng thêm những thanh củi mới vào, một chàng trai trẻ với những đường nét khuôn mặt góc cạnh mang đến một chiếc bình kim loại cùng những chiếc cốc gỗ. Bên trong chiếc bình là một loại đồ uống mà Col chưa từng thấy bao giờ, tỏa ra mùi bơ thơm lừng.
“...Anh có phải là cừu không?” Myuri hỏi chàng thanh niên, đối phương chỉ mỉm cười rồi rời đi.
“Cậu ta đến từ một đất nước ở phương đông mà ta chưa từng nghe tên bao giờ. Đây là một loại đồ uống từ quê hương của cậu ta.”
Huskins đang xây dựng một mái ấm cho những hóa thân của cừu khác ở đây, trên mảnh đất của tu viện. Những người như ông đến từ khắp nơi để tìm kiếm một nơi nương tựa. Ông hẳn đã dốc sức làm việc này trong nhiều thập kỷ, nếu không muốn nói là hàng thế kỷ.
Ilenia đã từng nói rằng lối tư duy của họ không giống nhau, nhưng cả hai đều có sức mạnh tương tự.
“Hôm nay hai đứa cần gì?”
Sau khi họ xén lông xong, người hộ tống rời đi cùng những người chăn cừu khác để giặt len. Có lẽ anh ta đang thể hiện sự tinh tế của mình bằng cách để họ lại một mình.
“Chúng cháu đến để nghe vài câu chuyện từ thời xa xưa.”
“Những câu chuyện cũ sao? Các người lại đang tìm kiếm thêm thánh tích à?”
“Giống như những câu chuyện về các hiệp sĩ đoàn đã biến mất ấy ạ.” Myuri thò đầu ra từ sau lưng Col để nói câu này, rồi lại nhanh chóng rụt lại.
Huskins chớp mắt trong im lặng, rồi thở dài.
“Đó là những gì nhóc muốn nghe sao...? Nghĩa đen là những câu chuyện cũ, ta hiểu rồi. Hẳn vẫn còn vài cuốn sách về các hiệp sĩ trong thư viện hoàng gia đấy.”
“Chúng cháu hy vọng có thể nghe chúng trực tiếp từ một người có liên quan,” Col nói, thẳng lưng lên. “Myuri và cháu hy vọng có thể tạo ra một huy hiệu mà chỉ hai chúng cháu mới có thể sử dụng. Và chúng cháu tin rằng một người có địa vị như ông hẳn phải có dính líu theo cách nào đó đến những câu chuyện về các hiệp sĩ và sự thành lập của hoàng tộc.”
Khi Col nói thành lời, cậu mới nhận ra quả thực có một ẩn ý khá khó chịu trong những lời cậu nói.
Nhưng khi cậu chú ý thấy Myuri đang tì trán vào lưng cậu trong lúc trốn phía sau, cậu nghĩ đây là điều tốt nhất mình có thể làm để đối mặt với tình cảm của Myuri dành cho mình.
“...Nếu ta nhớ không lầm,” Huskins bắt đầu, ngồi bất động như một bức tượng đá, “người ta gọi cậu là Hồng y Chạng vạng.”
Huskins chưa bao giờ là một người sống ẩn dật. Ông luôn mở to mắt và dỏng tai lắng nghe, tất cả chỉ để có thể bảo vệ những người bạn cừu của mình tốt hơn. Rất có thể ông cũng dựa vào những con cừu để thu thập thông tin về thế giới bên ngoài.
“Một linh mục và một cô nàng sói... Hai đứa về cơ bản đang cố gắng hòa trộn nước với dầu đấy.”
“Đúng vậy. Đó là lý do tại sao chúng cháu quyết định làm một huy hiệu cho riêng mình.”
Để thay thế cho một loại lời thề khác.
Ông lão hẳn đã nắm bắt được ý nghĩa ẩn giấu trong những lời nói của cậu.
Huskins hít một hơi thật sâu đến mức lưng ông dường như phồng lên.
Ông trông vừa ngạc nhiên vừa như thể đang cố kìm nén một tiếng cười.
“Lần trước các người đến đây vì một lý do khá kỳ quặc, và điều đó vẫn đúng cho đến tận bây giờ.” Ông nghiêng đầu kinh ngạc, bẻ các khớp xương trên cổ kêu răng rắc. “Những câu chuyện cũ, phải không? Ta không nghĩ chúng sẽ giúp ích được gì nhiều từ những gì hai đứa vừa nói với ta đâu,” ông nói, rồi cầm lấy chiếc bình kim loại đặt giữa đống lửa, và rót phần nước bên trong vào cốc của mình. Tay cầm dường như được chế tác từ gỗ óc chó hoặc một loại gỗ tương tự, được hoàn thiện bằng một hình chạm khắc tinh xảo. Col không tin đây là sở thích cá nhân của Huskins, nên rất có thể đó là của một trong những con cừu khác sống ở đây, và việc được tận mắt chứng kiến cuộc sống yên bình của họ ở đây mang lại cho cậu một cảm giác thanh thản.
Mùi bơ béo ngậy tỏa ra. Col cũng nhấp một ngụm từ cốc của mình.
“Cháu nghĩ nó sẽ giúp ích rất nhiều đấy,” Myuri xen vào. “Cháu đã rất vui khi anh trai cháu nhắc đến chiếc huy hiệu, nhưng... sau đó cháu mới biết rằng chúng không phải là thứ dễ làm khi cháu tìm đọc trong một thư viện ở một thành phố lớn.”
Đôi mắt trong như thủy tinh của Huskins hướng về phía Myuri, và Col cũng ngạc nhiên nhìn cô bé.
“Cháu đã đọc một cuốn sách có ông trong đó, và nó thực sự tuyệt vời. Quả là một chuyến phiêu lưu!”
“...Cậu nhóc đó mới là người chạy đôn chạy đáo khắp nơi.”
Câu chuyện về quá trình lập quốc của vương quốc bắt đầu khi vị vua đầu tiên thừa kế lãnh thổ từ cha mình khi còn trẻ tuổi, rồi tham gia vào cuộc chiến đánh đuổi những kẻ man rợ khỏi hòn đảo với tư cách là quý tộc đầu tiên. Tất nhiên, vì là câu chuyện về quá trình lập quốc của họ, nó chứa đầy những sự cường điệu và phóng đại. Hầu hết mọi người sẽ coi việc con cừu vàng xuất hiện ở mọi thời điểm quan trọng để cứu nguy cho nhà vua chỉ là một sản phẩm của trí tưởng tượng cùng với vô số những câu chuyện khác.
Nhưng lời khẳng định đơn giản của Huskins đã khiến Col nhận ra rằng những câu chuyện đó về cơ bản là sự thật. Nó nói cho cậu biết rằng đã từng có một chuyến phiêu lưu kỳ thú như vậy giữa một con cừu khổng lồ, lầm lì, với bộ lông vàng óng, và một vị quý tộc trẻ tuổi tràn đầy nhiệt huyết và hy vọng.
“Một chiếc huy hiệu giống như tất cả những chuyến phiêu lưu và câu chuyện đó được nén lại với nhau... điều đó khiến cháu nghĩ rằng có lẽ anh cháu và cháu vẫn còn quá trẻ. Cháu nghĩ có lẽ sẽ rất khiếm nhã với những người khác nếu chúng cháu đặt chiếc huy hiệu của mình vào cùng với phần còn lại của họ.”
Bất chấp niềm vui sướng tột độ trước đó, Myuri có vẻ như đã chấp nhận thực tế của tình hình một cách khá bình tĩnh.
Tuy nhiên, nó cũng nghe như thể cô bé muốn có một câu chuyện xứng tầm với một chiếc huy hiệu, nhưng những dòng suy nghĩ của Col đã bị xóa nhòa trong tiếng cười của Huskins.
“Một cô bé đáng ngưỡng mộ. Ta gần như nghi ngờ việc nhóc là con gái của con sói đó đấy.”
Huskins tạo ấn tượng là một nhà hiền triết lầm lì của những cánh đồng, nhưng khi mỉm cười, ông lại trông giống hệt một ông lão hiền từ đến bất ngờ.
Người đàn ông nhấp một ngụm thức uống vị bơ, rồi nói, “Mẹ nhóc đúng là một con sói vô cùng xấc xược...”
Col nhớ lại cuộc trò chuyện chẳng mấy thân thiện từ rất lâu trước đây, và nó mang lại cho cậu một cảm giác khó tả.
“Đúng vậy. Đã từng có một câu chuyện như thế. Một câu chuyện mà ngày nay mọi người đều coi là một câu chuyện cổ tích. Một câu chuyện mà không một ai trong thế giới loài người sẽ chấp nhận là sự thật, một câu chuyện đã bị vùi lấp dưới lớp bụi thời gian.” Huskins thở dài. “Những người duy nhất từng đến tu viện này vì họ nghe đồn rằng con cừu vàng trong truyền thuyết vẫn còn sống ở đây chính là cha mẹ nhóc. Thậm chí trước khi họ đến, và rất lâu sau đó. Thành thật mà nói...” Ông đột ngột ngừng lại, rồi nhún vai. “Ta đã rất vui. Chúng ta đã chọn cách giấu mình dưới lớp bụi ở tận cùng của thời gian. Ta gần như bị chói mắt bởi ánh sáng rực rỡ khi thấy vẫn còn những người dũng cảm chống lại những dòng chảy của nó.”
Đôi mắt ông giãn ra, hồi tưởng lại những khoảng thời gian xưa cũ, và một nụ cười mờ nhạt hiện lên trên khuôn mặt ông.
Nhìn ông như vậy, Col tự hỏi liệu Huskins có phải là người đã chọn chiếc bình kim loại đó hay không.
“Cha mẹ nhóc đã mang đến cho ta một luồng sinh khí mới. Có lẽ ta vẫn có thể tiếp tục kiên cường thêm một trăm năm nữa.” Huskins nhìn Myuri. “Sói non, người khao khát muốn biết về quá khứ vì tương lai, nhóc muốn nghe chuyện gì nào?”
Tai và đuôi của Myuri xổ ra, và cô bé thò đầu ra từ phía sau Col.
“Tất nhiên câu chuyện giữa ông và nhà vua phải được kể đầu tiên rồi!”
Một bên khóe miệng Huskins nhếch lên thành một nụ cười và ông nói, “Ta tự hỏi liệu mình có thể nhớ lại những gì đã xảy ra không,” và ông bắt đầu kể lại câu chuyện của mình.
Câu chuyện mà Huskins kể cho họ nghe là về việc ông kề vai sát cánh cùng vị vua đầu tiên để thống nhất hòn đảo, từ rất lâu trước khi nó được gọi là một vương quốc. Nó mang lại cho họ một ấn tượng khác biệt so với câu chuyện họ đã nghe tại quầy bán bùa hộ mệnh; nghe không có vẻ gì là đất nước này nhanh chóng được thống nhất sau khi đế quốc cổ đại và lực lượng lính tráng của Giáo hội xâm lược hòn đảo và đánh đuổi bọn man rợ. Khi đế quốc cổ đại dần bước vào thời kỳ suy tàn, Giáo hội không thể kham nổi việc mãi nhúng tay vào các vấn đề của quốc đảo xa xôi này, thế là các hiệp sĩ của cả đế quốc, lúc này cuối cùng cũng đã cắm rễ trên mảnh đất, và Giáo hội bắt đầu tranh giành quyền bá chủ. Chính trong sự hỗn loạn kéo theo đó, Huskins đã nắm lấy cơ hội đến hòn đảo, không ngừng tìm kiếm cơ hội trục lợi giữa những cuộc giao tranh.
Những pháo đài và căn cứ mà mỗi thế lực trong cuộc chiến xây dựng trong thời kỳ này chính là nền móng cho Tu viện Brondel, nhà thờ chính tòa Rausbourne, và thậm chí cả những thành phố lớn của vương quốc ngày nay.
Trong suốt gần hai trăm năm, hòn đảo bị mắc kẹt trong một vòng luẩn quẩn của chiến tranh và những khoảng thời gian hòa bình tạm thời.
Đó cũng là lúc Winfiel đệ Nhất, tổ phụ khai quốc của Vương quốc Winfiel, xuất hiện.
Đó là một câu chuyện điển hình trong thời chiến—ông tiếp quản quyền lực sau khi cha mình tử trận, giành được đất đai khi tuổi đời còn rất trẻ. Huskins, lúc đó đang lang bạt khắp nơi, tìm kiếm một nơi để xây dựng nơi trú ẩn cho những con cừu khác, biết rằng ông có thể lợi dụng chàng trai trẻ này cho mục đích của riêng mình nên đã tiếp cận ông. Và đó là lần đầu tiên họ gặp nhau.
Nhưng ông lập tức bị sốc trước thái độ của cậu trai. Thay vì sục sôi tham vọng, cậu lại mang trong mình một sự lạc quan vô bờ bến; cậu chẳng nề hà việc xông pha vào những trận chiến đầy bất lợi để giúp đỡ những người đang chịu đựng đau khổ.
Huskins không thể bỏ mặc cậu bé ngây thơ đó; thỉnh thoảng ông lại sử dụng sức mạnh của con cừu vàng để giúp đỡ cậu một cách vừa công khai vừa bí mật. Nhưng rồi một ngày nọ, một sự kiện mang tính bước ngoặt đã xảy ra. Khi một trong những người của nhà vua bắt được một con cừu hoang lang thang vào trong doanh trại, nhà vua đã quyết định không làm thịt nó cho bữa tối, mà buộc một bức thư vào lớp lông của nó rồi thả nó đi.
Trong bức thư, ông bày tỏ lòng biết ơn đối với con cừu vàng.
Chính lúc đó, Huskins đã tin chắc rằng nếu cậu bé đó là người thống nhất hòn đảo, thì chắc chắn nó sẽ trở thành một đất nước thanh bình. Sau đó Huskins đã tiết lộ thân phận của mình với cậu, công khai dang tay giúp đỡ vị quý tộc trẻ tuổi để họ có thể tiến gần hơn một bước tới việc thống nhất đất nước.
Cả Myuri và Col đều bị cuốn hút bởi câu chuyện.
Người hộ tống xuất hiện giữa chừng khi câu chuyện đang được kể lại, ngắt ngang để dùng một dụng cụ bằng gỗ giống như cái mỏ lết khổng lồ để ép nước ra khỏi cục len vừa mới giặt, nhưng trước khi mặt trời lặn, cuối cùng đất nước cũng được thống nhất, và họ đi đến đoạn vị quý tộc trẻ tuổi ngày nào trở thành vua, và con cừu với bộ lông vàng óng tuyên bố rằng ông sẽ rút lui khỏi vũ đài công khai, vì ông thuộc về một thời đại cổ xưa.
“Ông không gặp ngài ấy lần nào sau chuyện đó sao?”
“Cậu bé đó tình cờ đến đây một lần và chúng ta chạm mặt nhau, nhưng chỉ có thế thôi. Chúng ta tất nhiên vờ như không quen biết nhau, nhưng năm đó triều đình đã đặt mua một núi len khổng lồ.”
Mối quan hệ giữa hai người đàn ông đã trở nên giống như bạc xỉn màu, và Myuri thở dài như thể cô bé vừa tu một hơi rượu mạnh khi nghe điều đó.
“Và lần duy nhất sau đó là khi nó triệu tập ta khi đang nằm trên giường bệnh. Một người hầu của nó đã đến đây, thông báo rằng lý do là vì nó phải trả lại số tiền đã vay trong chiến tranh.”
Đó là một chủ đề thường xuyên xuất hiện trong các câu chuyện thời chiến. Một đội quân bại trận sẽ dừng chân tại một ngôi làng nghèo khổ, trung thành để lại cho họ một tờ giấy nợ để đổi lấy thức ăn và chỗ ở. Rồi sau đó, vài năm sau, khi họ trở thành người của hoàng gia sau một chiến thắng kỳ diệu, họ quay trở lại ngôi làng nghèo khó với vàng bạc trên tay.
“Hai người đã nói chuyện gì vậy?” Myuri hỏi.
Chắc hẳn họ đã có rất nhiều chuyện để nói. Huskins nhún vai trước câu hỏi của cô bé.
“Ta đã hỏi nó tại sao con cừu trên huy hiệu của nó lại có bộ lông ngắn đến vậy.”
Khi ông đề cập đến điều đó, Col nhớ lại chiếc huy hiệu và quả thực, bộ lông ngắn đến mức người ta có thể nhìn thấy cả chân của con cừu. Điều đó hiển nhiên ám chỉ rằng hình dạng thực sự của Huskins là một con cừu với bộ lông rất dài. Không chỉ có vậy, ông còn là một con cừu được cho là có bộ lông bằng vàng, là nguồn gốc cho huyền thoại rằng người ta thậm chí có thể tìm thấy tiền trong đó, nên ông hẳn phải có những ý kiến rất mạnh mẽ về bộ lông của chính mình. Nhưng dẫu vậy, những vị đại thần uy túy vây quanh nhà vua hẳn đã bị sốc khi một người chăn cừu nói điều này với nhà vua trên giường bệnh.
“Nhà vua đã nói gì ạ?”
Huskins nhìn xuống những viên than hồng đang cháy bập bùng trong đống lửa, và phụng phịu, “Một con cừu lông xù trông chẳng phong cách chút nào.”
Myuri khịt mũi khi nghe câu trả lời, ôm bụng cười ngặt nghẽo.
Nhưng những giọt nước mắt đọng nơi khóe mắt cô bé không chỉ đơn thuần là do cười quá nhiều.
Đó là cuộc trao đổi cuối cùng của họ trước một cuộc chia ly vĩnh viễn.
Việc họ gặp gỡ và sát cánh cùng nhau trong quá trình thống nhất hòn đảo là một điều tất yếu.
“Và đó là cách chiếc huy hiệu ra đời. Đó là cách các huy hiệu được thiết kế,” ông nói một cách dửng dưng, có lẽ vì ông đang cảm thấy xấu hổ.
Myuri, ngược lại, đã vô cùng cảm động và cười ngặt nghẽo trước câu chuyện của Huskins đến mức nó vắt kiệt sức lực từ những sợi lông trên đuôi cô.
“...Thật không công bằng khi ông lại có được một câu chuyện như thế,” Myuri nói một cách chân thành, và Huskins đáp lại bằng một vẻ mặt vô cảm.
“Những người chăn cừu chúng ta thường nói cỏ bên đồi nhà hàng xóm lúc nào cũng xanh hơn.”
“Hả?”
“Theo những gì ta được biết, bản thân hai đứa cũng đã có một hành trình khá chông gai đấy chứ.”
Myuri nhìn Col, rồi vì một lý do nào đó lại cảm thấy thất vọng.
“Chúng cháu đã có rất nhiều chuyến phiêu lưu, chắc chắn rồi, nhưng... Anh trai cháu không được nhanh trí như nhà vua.”
Thật là một câu nói phũ phàng, nhưng cậu rất có thể sẽ không thể có một cuộc trò chuyện ấn tượng như vậy trên giường bệnh của mình.
Điều đó nghe giống như việc cha mẹ Myuri có thể làm hơn.
“Nhưng mặt trời đã lặn trong lúc chúng ta nói chuyện rồi... Sao nào, bọn họ vẫn chưa tập hợp cừu lại à?” Huskins quay lại nhìn chuồng cừu và nói, “Nhóc đi lùa bọn cừu về giúp ta đi. Nhóc là một con sói mà, đúng không?”
“Vâââng,” Myuri đáp lại với sự chân thành hiếm thấy, đứng dậy khỏi chỗ ngồi và chạy ra ngoài.
Col định bước theo cô bé, nhưng Huskins bất ngờ lên tiếng.
“Con sói và gã đó có sống hòa thuận với nhau không?”
Col cảm thấy có chút vui vẻ khi biết rằng Huskins cũng đang thắc mắc không biết chuyện gì đã xảy ra với hai người sau lần gặp gỡ cuối cùng.
“À đâu, ta hỏi câu ngớ ngẩn quá. Cô nhóc sẽ không ở đây nếu họ không hòa thuận còn gì.”
“Cô ấy và thầy Lawrence đang điều hành một nhà tắm ở một nơi gọi là Nyohhira, ngôi làng suối nước nóng ạ.”
“Một nhà tắm ở Nyohhira sao?” Ông nhướng một bên mày ngạc nhiên, nhưng nét mặt đó nhanh chóng chuyển thành một nụ cười mỉm. “Ta đồ rằng hẳn đã từng có một chút u sầu đeo bám con sói đó. Thật tuyệt vời khi cô ta tìm được một mái nhà ở một nơi náo nhiệt đến vậy.”
“Và thay vào đó, có vẻ như con gái của cô ấy khi lớn lên lại hơi thừa năng lượng quá mức rồi ạ...,” Col nói. Huskins mỉm cười, rót thêm đồ uống vào cốc của Col trong lúc nói, “Có lẽ cậu nói đúng.”
Ngay sau đó, cả bầy cừu, bị Myuri lùa chạy, ùa vào chuồng, và tòa nhà tĩnh lặng nhanh chóng tràn ngập những tiếng be be và tiếng kêu ồn ào.
Trong lúc dùng bữa tối, Huskins kể cho họ nghe những câu chuyện về các hiệp sĩ từng tồn tại trong vương quốc, và giữ cho Myuri say sưa chú ý suốt khoảng thời gian đó. Nhưng không giống như câu chuyện về quá trình lập quốc, các hiệp sĩ đoàn thời xưa đầy rẫy những nhân vật mờ ám, nhiều người trong số họ từng là thủ lĩnh của các băng cướp.
“Mọi người đổ xô đến hòn đảo này để tìm kiếm những vùng đất mới và cơ hội. Chiến tranh được biện minh nhân danh Chúa, và vì người ta có thể đảm bảo một vị thế xã hội đáng kể bằng cách chiếm đoạt đất đai, nên đó là nơi hoàn hảo cho những kẻ muốn xóa sạch quá khứ không mong muốn.”
“Cháu từng xem kịch về những vị vua hóa ra lại là thủ lĩnh của băng cướp. Nó giống như vậy sao?”
“Đó là một câu chuyện phổ biến. Chiến thắng trong chiến tranh tạo ra những vị vua, và thất bại tạo ra những tên sơn tặc.”
“Cháu có thể hiểu được phần nào, nhưng... cháu hơi thất vọng khi biết có rất nhiều hiệp sĩ đoàn, nhưng hầu hết họ chỉ tự bịa ra huy hiệu của riêng mình.”
Có lẽ vì đã sống với Myuri và mẹ của cô, Holo, Col từng có cảm giác như những kẻ phi nhân tồn tại ở khắp mọi ngóc ngách. Nhưng thực tế không phải vậy; có vẻ như nguồn gốc của hàng ngàn chiếc huy hiệu không nhất thiết đều liên quan đến các sinh vật phi nhân.
“Một thứ gì đó siêu nhiên có thể đã từng tồn tại từ rất lâu rồi chỉ là một công cụ hoàn hảo để tự ban cho mình quyền uy.”
Trong lúc họ đang trò chuyện, người hộ tống túm tụm cùng những người chăn cừu khác quanh một nồi thức ăn đang sôi sùng sục, cách xa họ một chút. Có vẻ như anh ta đang làm vậy để củng cố mối quan hệ mật thiết với những người sống ở đây nhằm đảm bảo một nơi an toàn cho họ; anh ta là một người đáng tin cậy, và điều đó mang lại lợi ích cho họ.
“Điều đó có nghĩa là họ có thể sẽ không bận tâm nếu nhóc tạo ra một chiếc huy hiệu có bất cứ hình thù nào nhóc thích đâu.”
Khi Huskins nói vậy, Myuri ngước nhìn ông bằng đôi mắt mở to.
“Ngay cả khi họ vẽ lông của ông ngắn cũn cỡn sao?”
Lão cừu già hất đầu ra sau và bật ra vài tiếng cười nghe như tiếng ho.
“Đúng vậy.”
Myuri quay sang Col và toét miệng cười.
Cô bé đã suy nghĩ về chiếc huy hiệu sâu sắc hơn cả cậu và đã chấp nhận nó.
Cậu có thể nhận ra qua nụ cười cô bé dành cho mình rằng những lo lắng mà cô cảm thấy vì chuyện này quá đỗi quan trọng với cô rốt cuộc cũng đã được xua tan.
Col tự hỏi liệu việc họ cất công lặn lội đến tận chỗ Huskins chỉ để nghe những câu chuyện về quá khứ có thực sự cần thiết hay không, nhưng mọi thứ đều có ý nghĩa của nó.
Trong một dòng suy nghĩ hơi mang tính tự trào, cậu nghĩ về việc mình đã may mắn như thế nào khi không dành toàn bộ thời gian nghỉ ngơi mà Hyland đã cho phép họ để giam mình trong phòng ở Rausbourne, cặm cụi dịch Kinh Thánh.
“Nhân tiện,” Huskins bỗng nhiên lên tiếng. “Cậu có quan hệ như thế nào với cậu bé đã đến đây ngay trước các người?”
Hẳn ông đang nhắc đến Rhodes. Tu viện này thường không có nhiều du khách đến thăm, nên việc họ nghĩ những người đến đây có quan hệ với nhau cũng là điều tự nhiên.
“Ông đang nói đến cậu bé thuộc Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza sao ạ?”
Huskins nhấp một ngụm rượu vang ấm nóng như thể muốn nói, Chính xác.
Điều đó khiến Col tin rằng một số người bạn cừu của ông đang sống trong Tu viện Brondel dưới vỏ bọc của các nhà sư.
“Chúng cháu tìm thấy cậu ấy ngã gục bên vệ đường trên đường đến đây và đã chăm sóc cậu ấy. Cậu ấy ăn mặc kỳ lạ một cách khó hiểu so với thời tiết lạnh lẽo này—không mặc nhiều áo ấm, nhưng lại mặc giáp lưới bên trong, nên cháu nghi ngờ rằng chính cơn đói và cái lạnh đã hạ gục cậu ấy.”
“Cậu ấy ngã sấp mặt xuống đường và bị bùn đất phủ kín người luôn,” Myuri nói thêm, và Huskins khẽ gật đầu.
“Ta không hề nhận được tin báo nào về việc có người khác đi cùng các người, và dù cậu ta là người duy nhất gõ cửa cổng tu viện của chúng ta một cách yếu ớt, cậu ta lại sặc mùi của các người. Ta đã rất thắc mắc đấy.”
Điều đó cũng dễ hiểu thôi.
“Có lẽ không phải mùi của chúng cháu, mà là mùi của Myuri nhiều hơn chăng?”
Huskins hơi nhướng một bên mày, rồi nhún vai tỏ vẻ đồng tình với Col.
“Cháu đoán cậu ấy đã phải lòng cháu rồi,” Myuri nói thẳng thừng. Rốt cuộc thì Huskins cũng mỉm cười và đặt ly rượu xuống.
“Một cậu bé sặc mùi của nhóc đã đến đây ngay trước khi chính các người đến. Những nhà sư bảo với ta rằng cậu ta làm việc cho Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza. Ta đã khá bối rối.”
“Đến mức nào ạ?” Col vặn lại, cảm thấy lạ lùng, và Huskins lẳng lặng quay sang nhìn cậu.
“Theo như ta nhớ, cậu là một đứa trẻ rất ngoan. Khi sống một cuộc đời như ta, ta gần như lo lắng rằng cậu có thể hơi quá ngoan ngoãn.”
Khi Huskins đột ngột nhắc lại những chuyện trong quá khứ, Col tỏ ra bẽn lẽn.
Nhưng khi ông nhắc đến điều đó, Col nhớ lại rằng Huskins đã từng dạy cậu cách bước đi và sinh tồn trên những cánh đồng vào mùa đông mỗi khi họ có thời gian rảnh.
“Đó là lý do tại sao ta đã nghĩ đến khả năng rất nhỏ là cậu đã đến tu viện theo mật lệnh của nhà vua.”
“Ồ!”
Col vô thức buột miệng thốt lên một tiếng kêu lớn đến mức cậu tưởng chừng những khúc củi có thể vỡ tung vì chấn động. Tiếng kêu lớn hơn nhiều so với cậu tưởng; cậu thấy người hộ tống, đang ngồi tại bàn tiệc của riêng mình cách đó một quãng ngắn, quay lại nhìn cậu.
Nhưng Col không biết phải nói gì. Bởi vì bất chấp việc họ đã đến đây vào thời điểm này, trong tình hình này, cậu lại không hề mảy may nghĩ đến khả năng đó.
Tu viện Brondel có lịch sử còn lâu đời hơn cả vương quốc này, và nắm giữ quyền lực cũng như sự giàu có tột bậc. Có vô số lý do khiến người ta nghĩ đây là một chuyến viếng thăm mờ ám, giống như việc Hồng y Chạng vạng đã đến để nhờ vả một người bạn cũ.
“Không cần phải viện cớ đâu.”
Đã có quá đủ bằng chứng rồi.
Bất chấp những gì Huskins đã nói, chỉ có hai phán quyết duy nhất:
Có tội, hoặc vô tội.
Và có vẻ như trong mắt ông, họ vô tội.
“Ta có thể nhận ra nếu ai đó đang giấu giếm điều gì. Ta biết ngay rằng cậu thực sự không có toan tính gì cả.”
Col rụt vai xấu hổ, thì Myuri, ngồi cạnh cậu, vừa thở dài vừa nói, “Lúc cháu đang khâu mảnh huy hiệu thừa vào thắt lưng, anh ấy cứ cười tủm tỉm suốt.”
“Hả?” Col trả lời một cách lơ đãng, và Myuri trông như thể cô bé không biết nên cười nhạo cậu hay nên giận cậu nữa.
“Anh còn nhớ những gì cô Eve đã nói với chúng ta không? Bảo hiểm đó.”
Khi cô bé nhắc đến điều đó, rốt cuộc mọi chuyện cũng rõ ràng.
Tu viện có thừa lý do để nghi ngờ họ là những trinh sát được Hyland phái đến vì lợi ích của vương quốc.
Ngay cả khi Huskins rất có thể sẽ đứng về phía họ, vì ông vừa là một người quen cũ vừa là hóa thân của một con cừu, nhưng thật khó để dám chắc chắn về suy nghĩ của những tu sĩ khác. Sau đó là câu hỏi về việc họ nên làm gì để tránh rắc rối.
Câu trả lời là mang trên mình chiếc huy hiệu của Hiệp sĩ đoàn Thánh Kruza, niềm tự hào của toàn bộ Giáo hội. Họ chắc chắn sẽ không đời nào mang theo huy hiệu của kẻ thù lớn nhất của mình.
“Anh sẽ là con cừu non rơi thẳng xuống vách đá nếu không có em ở bên cạnh đấy, anh trai ạ.”
“Trong bầy cừu bao giờ cũng có một hoặc hai con như vậy mà.”
Quả là một khoảnh khắc hiếm hoi khi một con sói và một người chăn cừu lại có cùng suy nghĩ.
Col không muốn là người phải chịu trận, nên cậu không còn cách nào khác ngoài việc nhìn đi chỗ khác.
“Ta nghe nhắc đến tên cậu rất nhiều, nên ta rất mong chờ được xem mọi chuyện sẽ diễn biến như thế nào,” Huskins nói trong lúc rót rượu vang ấm từ chiếc bình kim loại. “Và sự thú vị đã vượt xa những gì ta mong đợi.”
Nghe có vẻ như Huskins vừa khen ngợi lại vừa không khen ngợi cậu, nhưng ít nhất Col cũng cảm thấy nhẹ nhõm vì ông lão không nghi ngờ họ. Có vẻ như cậu sẽ không còn cách nào khác ngoài việc đành cam chịu khi Myuri trêu chọc cậu vì sự ngốc nghếch của cậu trong tương lai.
“Hoặc có lẽ đó chính là lý do tại sao tin tức về cậu lại lan truyền rộng rãi đến vậy.”
Col quyết định coi đó là một lời đánh giá tích cực.
Rượu vang có vị khá chua, nhưng chiếc ly cũng đã sưởi ấm cho cậu.
Những người chăn cừu thường thức dậy từ rất sớm.
Những người chăn cừu làm thuê cho tu viện bắt đầu ngày mới của họ bằng buổi kinh chiều, nên việc họ thức dậy lúc bình minh không nhiều bằng việc thức dậy giữa đêm khuya. Là những người đang ở nhờ không gian của Huskins và những người chăn cừu khác, họ không thể cứ thế mà ngủ tiếp khi những người khác đang chuẩn bị làm việc.
Mặc dù Col đã dặn trước Myuri về chuyện này để cô bé thức dậy, cuối cùng cậu cũng không cần phải lo lắng về cô bé. Ngược lại, cô bé lại vô cùng thích thú với lối sống của những người chăn cừu, một điều mà cô bé không có cơ hội trải nghiệm ở Nyohhira, nên cô bé đã theo chân Huskins cùng những người khác bước vào màn đêm đen kịt trên cánh đồng.
Col nghĩ rằng đáng lý ra ban đầu cậu cũng nên đi cùng họ, nhưng Huskins bảo cậu không cần phải ép buộc bản thân. Điều đó được thể hiện rõ qua việc người hộ tống của họ không hề bị ngăn cản khi anh ta đi cùng Myuri, chứng tỏ họ đều nhất trí cho rằng Col sẽ chỉ làm vướng chân họ mà thôi.
Ngồi trong chuồng cừu tĩnh mịch, lắng nghe tiếng lửa nổ lách tách, tiếng những thầy tu cầu nguyện vang vọng từ xa, và vài con cừu còn sót lại trong chuồng, cậu thấy mình không thể nào chống lại được cơn buồn ngủ.
Cậu ngủ thiếp đi, và lần tiếp theo cậu mở mắt ra, mặt trời đã lên cao trên bầu trời, và Myuri đang trở về cùng bầy cừu, mặt lấm lem bùn đất.
“Họ làm việc vất vả mỗi ngày, nhưng nó cũng rất thú vị đó.”
Những suy nghĩ của cô bé quá đỗi ngây thơ, khiến cậu không khỏi mỉm cười; sau đó cậu lau mặt, chải lại mái tóc cho cô bé, và tất cả họ cùng ngồi xuống dùng bữa sáng.
Tiếp theo, họ quan sát những người chăn cừu xén lông cừu và sơ chế len, rồi Col cũng tham gia ngay sau đó.
Col mang số len vừa mới xén đến dòng suối gần đó để giặt, nhúng nó xuống nước, rồi lôi lên—nó trở nên nặng đến mức khi ướt cậu tưởng chừng như có ai đó đang giữ chặt nó từ phía bên kia—rồi vắt khô.
Vì Myuri không có nhiều sức lực ở đôi tay, cô bé lội xuống dòng suối nông, vẫn còn lạnh lẽo do tuyết tan, để giẫm lên số len nhằm giữ cho chúng không bị trôi đi trong lúc rùng mình vì lạnh, rồi treo chúng lên một chiếc mỏ lết khổng lồ bằng gỗ để ép hết nước ra ngoài.
Bữa trưa mà họ được phục vụ sau đó là một trong những bữa ăn ngon nhất trong đời Col, chỉ xếp sau ổ bánh mì mà Holo và Lawrence đã đưa cho cậu khi họ lần đầu tiên nhặt cậu về từ trên đường.
Sau một buổi sáng đậm chất thôn quê và một giấc ngủ trưa ngắn, một rắc rối mới lại xuất hiện.
“Anh có muốn đến xem thư viện không?”
Trong lúc Col đang giúp bảo dưỡng đống kéo cho buổi xén lông cừu chiều, Myuri đến và hỏi cậu một câu.
“Em bảo với Ông Lão Huskins là em muốn xem nó vì ở đó có rất nhiều câu chuyện cũ, và ông ấy bảo sẽ nói chuyện với họ để em có thể vào, nhưng em cần phải quyên góp.”
Cô bé chìa tay ra.
“...Và anh đoán là em cố tình không nói trước cho anh biết chuyện này nhỉ.”
“Bởi vì em từng thấy Trữ quân Hyland phải trả tiền trước khi đi vào thư viện mà,” cô bé nói, mỉm cười điềm tĩnh.
Vì đã biết về chuyện đó, điều đó có nghĩa là cô bé hẳn đã tưởng tượng ra viễn cảnh Col sẽ nói với cô rằng việc đọc sách trong thư viện không đáng để tiêu tiền.
Hyland là người nắm giữ mọi chi phí đi lại của họ, nên cậu cần phải cảnh báo cô bé về việc lãng phí tiền bạc.
Nhưng Myuri đã tính toán được rằng nếu Huskins là người đứng ra đàm phán thay cho họ, thì người anh trai cứng đầu của cô bé sẽ không có cách nào để từ chối. Chỉ trong những lúc như thế này, cô bé mới cho thấy sự trưởng thành nhanh chóng.
Vài đồng xu đồng rất có thể sẽ không phù hợp với thư viện của Tu viện Brondel. Là một người hiểu rõ cần bao nhiêu thời gian và tiền bạc để duy trì một thư viện, Col hiểu rằng họ yêu cầu quyên góp không phải vì mục đích xấu. Col lục lọi trong túi tiền của mình và lấy ra vài đồng bạc lute, chất lượng tuy kém nhưng giá trị thì không.
“Số tiền này sẽ được trừ vào ngân sách dành cho các bữa ăn trên chuyến đi về của chúng ta đấy nhé,” cậu cảnh báo Myuri khi đặt những đồng tiền vào lòng bàn tay cô bé.
“Xì.” Myuri nhe nanh với cậu, rồi chạy biến đến chỗ Huskins.
Cô bé không trở lại cho đến lúc mặt trời lặn; mùi mực, da thuộc và bụi bặm nồng nặc đến mức nó gần như lấn át cả mùi thơm phức của bữa tối, và Col nhận thấy cô bé đang cư xử rất ngoan ngoãn và vô cùng nề nếp.
Cậu lo lắng rằng có thể cô bé đã đọc một câu chuyện buồn nào đó khi cô béchui vào chăn của cậu, và chỉ sau một hồi đắn đo suy nghĩ, cuối cùng cô bé mới lên tiếng.
“Họ bảo họ cần được quyên góp cho mỗi ngày em sử dụng thư viện...”
Myuri, đang nằm trong vòng tay cậu, ngước nhìn Col bằng đôi mắt mở to, và cậu thở dài.
“Em cần phải suy nghĩ thấu đáo hơn mới được.”
Cô bé rúc mặt vào ngực cậu với vẻ hậm hực, giấu khuôn mặt đi. Ngày hôm sau, cô bé lại vội vã chạy đến thư viện ngay sau khi buổi cầu nguyện buổi sáng kết thúc, tay lại cầm những đồng bạc một lần nữa.
Bất chấp điều đó, cậu vẫn cảm thấy biết ơn vì những giờ phút yên bình, và cậu cũng giúp đỡ những người chăn cừu trong công việc của họ giống hệt như ngày hôm trước. Cậu nghĩ về việc sẽ tuyệt vời biết bao nếu cậu có thể tiếp tục lối sống thoải mái này, đồng thời có thể dành thời gian tĩnh tâm vào buổi tối. Mặc dù sẽ gặp không ít khó khăn để xây dựng một tu viện như Myuri mong muốn, nhưng sẽ thật tuyệt nếu có thể tạo ra một dòng tu sống một cuộc sống như thế này một khi cuộc xung đột giữa vương quốc và Giáo hội lắng xuống, hoặc ít nhất là cậu nghĩ vậy.
Cậu tin chắc rằng Chúa hẳn đang dõi theo những ý tưởng mà cậu ấp ủ.
Khi công việc buổi sáng đã xong xuôi và cậu trở về chuồng cừu, cậu nhận thấy những con cừu được lùa về sớm để xén lông có vẻ bồn chồn. Không mất quá lâu để cậu nhận ra lý do.
Đậu trên xà ngang của chiếc cửa sổ mở toang trên mái nhà là một con đại bàng đơn độc.
Con chim đó chắc chắn là Sharon.
0 Bình luận