“Anh trai! Bên này!”
Giọng của Myuri vang lên lấn át cả tiếng ồn ào bủa vây của bến cảng đông đúc, tấp nập, và Col chật vật lắm mới lờ mờ thấy cô bé đang vẫy tay gọi cậu từ phía bên kia đám đông. Khi cậu lách qua những chiếc xe thồ chất đầy cá tươi và bước qua những hàng gà bị trói nối tiếp nhau để đến được chỗ cô bé, Myuri đã bắt đầu thương lượng với mấy gã thương nhân.
“Chúng tôi cần 180 yard vải lanh và 120 yard len Saava. Còn vải dệt Jord thì sao? Các ông có xoay xở được 90 yard không?”
Myuri đứng đối mặt với ba gã thương nhân trung niên béo lùn, mỗi người vắt đủ loại vải vóc khác nhau trên tay.
Cô bé cẩn thận kiểm tra từng món hàng của họ và liên tục gọi hết món này đến món khác.
“Nhân tiện, cháu cũng muốn lấy thêm 120 yard len trắng chưa qua xử lý... và mấy ông có thể tính thêm 60 yard vải gai luôn được không?”
Đôi mắt đám thương nhân mở to khi nghe cô bé nói vậy, và họ vội vàng lên tiếng phản đối. Bất chấp những người đàn ông lớn tuổi hơn, to béo hơn nhiều đang đổ bóng xuống người mình, Myuri không hề tỏ ra sợ hãi.
“Cái gì? Xì, được rồi. Vậy tôi sẽ đi mua vải nhuộm đỏ và tím ở chỗ khác,” cô bé nói, vo tròn bản hợp đồng trong tay thành một cục. “Đi thôi, anh trai. Chúng ta sang chỗ khác.”
Sau đó, cô bé nắm lấy tay Col và bước đi thoăn thoắt. Đám thương nhân chết lặng, vội chuyển sự chú ý sang Col.
Cậu hiện đang mặc trang phục của thương nhân dùng để dạo quanh thị trấn, nên thoạt nhìn có vẻ như là ông chủ của Myuri. Tuy nhiên, những đôi mắt tinh đời của đám thương nhân dễ dàng nhận ra rằng giữa hai người, Myuri mới là người đưa ra quyết định.
Sau một hồi nhìn nhau, họ bắt đầu gọi với theo cô bé, gần như van nài cô đừng đi.
Myuri, lúc này đang quay lưng về phía đám thương nhân, nở một nụ cười mà chỉ Col mới có thể nhìn thấy, rồi dừng bước và quay lại.
“Được rồi, tôi sẽ đặt cả vải đỏ lẫn vải tím cùng với một đơn chỉ vàng và chỉ bạc, nên hãy thêm vào 90 yard vải gai đi!”
Đám thương nhân bĩu môi, nhưng vải tím được nhuộm bằng nội tạng của loài động vật có vỏ, khiến nó trở nên vô cùng đắt đỏ và nhờ đó mang lại lợi nhuận cao. Thuốc nhuộm đỏ thẫm thì được làm từ một loại vỏ cây đặc biệt vận chuyển từ những vùng đất xa xôi, đồng nghĩa với việc vải đỏ cũng khá đắt tiền, nên sẽ thật tiếc nếu bỏ lỡ một cơ hội như vậy.
Ba gã thương nhân bán vải gần như quỳ rạp xuống trước mặt Myuri, van nài cô bé ít nhất hãy giảm xuống chỉ còn 60 yard vải thêm vào.
Myuri, nắm chắc lợi thế của mình, tự tin đáp trả bằng một thái độ hờ hững, lảng tránh, và cuối cùng họ chốt lại ở mức 78 yard. Thỏa mãn, cô bé lấy chữ ký của đám thương nhân và hoàn tất hợp đồng.
“Được rồi, tiếp theo chúng ta đi lấy gì nào?”
Myuri hỏi trong lúc cài chiếc lông chim lên sau tai sau khi đã đánh bại vài gã thương nhân dạn dày kinh nghiệm một cách dễ dàng đến kinh ngạc. Cô bé mặc trang phục của một cậu bé chạy việc cho thương hội thay vì quần áo thường ngày, khiến cô bé trông chẳng khác nào một thương nhân thực thụ.
Col bước theo Myuri khi cả hai lượn quanh bến cảng, và nhanh chóng cảm thấy chóng mặt trước sức sống và năng lượng ngập tràn Rausbourne. Sự mất phương hướng nhất thời của cậu là do lượng người quá đông đúc chen chúc trong thành phố cảng lớn thứ hai của Vương quốc Winfiel, cộng thêm việc đã khá lâu rồi cậu mới lại ra ngoài. Ánh nắng rực rỡ báo hiệu mùa lạnh đã kết thúc chắc chắn cũng đóng một vai trò trong đó.
Nhưng bầu không khí sôi động của thành phố không chỉ đến từ những tia nắng và lượng người đông đúc; Col nhận ra rằng nét mặt rạng rỡ của người dân thành phố mới là một yếu tố quan trọng. Đi đến đâu cũng có thể nghe thấy tiếng cười, và ngay cả những tiếng la hét giận dữ vốn rất phổ biến ở bến cảng cũng nghe như những câu thoại trong một vở hài kịch. Thật khó tin đây chính là nơi mà những người thu thuế và các thương nhân đã nổ ra xung đột vũ trang cách đây không lâu.
Và hơn thế nữa, khi những người thu thuế tập trung trước nhà thờ trong một cuộc nổi dậy công khai, khi những thương nhân đáng kính chịu trách nhiệm giao thương đường dài tụ tập tại một quán rượu để âm thầm ấp ủ những âm mưu trong phòng kín, và khi nhà vua của Winfiel huy động quân đội, rất nhiều người đã phải đối mặt với nỗi đau và sự xót xa.
Khi Col nhìn bao quát thành phố, cậu nghĩ về việc mình thực sự vui mừng biết bao khi họ đã tháo gỡ được cuộc xung đột đang nhen nhóm này. Và có lẽ, với tư cách là một người góp phần làm nên điều đó, cậu cũng có quyền cảm thấy đôi chút tự hào.
Cầu mong thế giới được bình yên.
Cậu không khỏi chắp tay lại và tạ ơn Chúa trong lúc tận hưởng bầu không khí đẹp đẽ và sự náo nhiệt của thành phố.
“Anh trai!”
Khi cậu đang hướng mặt ra biển cầu nguyện, Myuri nhét một bản hợp đồng mới tinh vào ngực cậu.
“Nhìn này! Em cũng mua cả dụng cụ bằng thiếc cho chúng ta nữa đấy!”
“À-ờ, ừm, anh thấy rồi. Làm tốt lắm.”
Cậu nhìn xuống và thấy một bản hợp đồng ghi chi tiết việc mua vài chục bộ đồ ăn với một mức giá đặc biệt hời.
“Trời ạ, em cứ tưởng cuối cùng chúng ta cũng có dịp vui chơi trong thị trấn sau một thời gian dài, nhưng nãy giờ anh cứ đờ đẫn ra đấy.”
Chắc chắn là không phải nãy giờ đâu…, Col thầm nghĩ, nhưng khi xét đến việc Myuri đã hăng hái chạy ngược chạy xuôi quanh bến cảng đông đúc như thế nào, cậu đoán đó hẳn là cách cậu hiện lên trong mắt cô bé.
“Anh có thể khen ngợi em vì tất cả những món hàng em đang mua này, hoặc anh thậm chí có thể ôm em, anh biết đấy. Thực ra em đâu có nghĩa vụ phải làm mấy chuyện này!” Myuri nói giọng hờn dỗi, chống tay lên hông và chằm chằm nhìn cậu.
Về điểm này, Col cảm thấy rất biết ơn, nhưng cũng có chút tội lỗi.
Lý do hai người đi quanh thị trấn và mua đủ loại hàng hóa không phải là để chuẩn bị cho chuyến đi của mình, cũng chẳng phải họ đang giúp đỡ bất kỳ thương hội nào. Tất cả là dành cho tu viện sẽ được xây dựng sau khi vụ náo động trước đó được dàn xếp ổn thỏa.
Hiệp hội Thu thuế Rausbourne, một hội nhóm gồm những người bị cha mình vứt bỏ vì là con ngoài giá thú của giới giáo sĩ, đã dùng vũ lực xông vào nhà thờ trong một hành động trả đũa trắng trợn. Mặc dù sự tức giận của họ là điều có thể hiểu được, nhưng Giáo hoàng lại cảm thấy bị xúc phạm trước cuộc tấn công ngang ngược vào tổ chức của ngài. Và vì những người thu thuế dựa vào giấy phép thu thuế do Vương quốc Winfiel cấp làm căn cứ cho hành động của mình, cuộc bạo loạn của họ đã làm trầm trọng thêm nguy cơ nổ ra chiến tranh giữa quốc gia này và Giáo hoàng.
Không còn cách nào khác ngoài việc che đậy mục đích thực sự của vụ đột nhập để tránh chiến tranh, Col đã nảy ra ý tưởng tuyên bố rằng đó hoàn toàn không phải là một cuộc tấn công, mà là một lời thỉnh nguyện vô cùng tha thiết.
Mặc dù những người thu thuế có tự bỏ tiền túi để điều hành một trại trẻ mồ côi, nhưng tình hình tài chính của họ lại vô cùng eo hẹp. Col đã thêu dệt câu chuyện để giải thích rằng, sau khi những uất ức bị dồn nén về hoàn cảnh cuối cùng cũng bùng nổ, họ đã nhiệt thành bước lên để cầu xin nhà thờ cấp phép xây dựng một tu viện cho trại trẻ mồ côi.
Dẫu lừa dối vẫn là lừa dối, nhưng Sharon, phó chủ tịch hiệp hội thu thuế, và Clark, linh mục của một giáo xứ nhỏ ủng hộ cô, quả thực đã bỏ tiền túi ra để duy trì trại trẻ mồ côi. Và vì những đứa trẻ đó đều là con ngoài giá thú của các giáo sĩ, nên nhà thờ dường như cũng cảm thấy có chút tội lỗi khi phải đối mặt với những bằng chứng cụ thể về những hành vi sai trái của họ.
Và thế là, bằng cách nắm bắt vững một phần sự thật đáng kể rồi phóng đại câu chuyện ra hết mức có thể, vụ náo động đã được dẹp yên.
Kết quả là, mọi ồn ào đều lắng xuống. Việc duy nhất còn lại là xây dựng một tu viện.
Người ta đã quyết định Clark sẽ trở thành viện trưởng và Sharon sẽ quản lý trại trẻ mồ côi; cùng nhau, họ sẽ cưu mang những đứa trẻ không nơi nương tựa, bởi chính họ cũng đã từng trải qua những nỗi cơ cực y hệt như vậy.
“Và thế là, con gà tẻ nhạt đó cùng với bản sao kém cỏi của anh đã sống hạnh phúc mãi mãi về sau trong tu viện... Chà!” Myuri nói với vẻ hăng hái hơn bình thường đôi chút và nhìn Col đầy ẩn ý.
Cậu có lý do riêng để quay đi chỗ khác.
“Giá như anh trai cũng xây một tu viện cho em ha. Thế thì chúng ta cũng có thể sống hạnh phúc mãi mãi ở đó rồi!”
Cô bé nói hơi to cho một lời lẩm bẩm một mình. Để nhấn mạnh quan điểm của mình, cô bé còn nép sát vào người cậu.
Myuri ban đầu tham gia chuyến đi này vì cô bé tuyên bố rằng mình yêu Col không phải như một người anh trai, mà là bằng tình cảm lãng mạn. Tuy nhiên, cậu chỉ xem Myuri như em gái mình. Hơn nữa, cậu rõ ràng không thể kết hôn vì đang khao khát trở thành một linh mục thực thụ.
Myuri dường như đã thỏa hiệp với điều đó vào một thời điểm nào đó, nhưng rồi câu chuyện về tu viện lại xuất hiện.
Cô bé có vẻ nghĩ rằng với một tu viện, không chỉ ước mơ trở thành linh mục của Col sẽ thành hiện thực, mà cô bé cũng sẽ có được một thứ gì đó giống với cuộc sống hôn nhân mà cô bé luôn tưởng tượng.
Từ góc nhìn của Col, cậu chỉ có thể coi một cơ sở như vậy là một hàng rào tráng lệ để nhốt một bầy cừu—và quan trọng hơn, cậu sẽ không bao giờ cân nhắc việc xây dựng một tu viện với những động cơ không trong sáng như vậy. Dù thế nào đi nữa, cậu vẫn còn quá nhiều việc phải làm để có thể rút lui về sau những bức tường đá sớm như vậy.
Ngày càng có nhiều người gọi cậu là Hồng y Chạng vạng, và dù cậu có muốn hay không, những hành động của cậu đang tạo ra những làn sóng chấn động khắp thế giới. Cậu có trách nhiệm phải ít nhất là nhìn thấu đáo mọi việc trước khi quyết định tương lai của chính mình.
Mặc dù cậu đã giải thích đi giải thích lại điều này với Myuri, nhưng những lời trêu chọc mà cô bé thốt ra mỗi khi có cơ hội vẫn khiến cậu bận lòng hơn mức bình thường.
Col vẫn đang chật vật làm rõ mối quan hệ của họ, và sự thiếu sót đó đồng nghĩa với việc cậu không có tư cách gì để phán xét. Trong hành trình từ trước đến nay, Myuri đã liên tục cho cậu thấy tình cảm của cô bé chân thành đến mức nào khi sẵn sàng đặt cược cả mạng sống mà không hề đắn đo suy nghĩ. Bất kể cậu có chấp nhận tình cảm của cô bé hay không, cậu biết mình có trách nhiệm phải xác định Myuri có ý nghĩa như thế nào đối với mình và giải quyết mọi chuyện theo cách mà cô bé có thể chấp nhận được.
Vậy mà, mỗi khi bắt đầu suy nghĩ về việc mình cần phải làm gì, cậu lại bối rối trước tình thế hoàn toàn tiến thoái lưỡng nan trước mắt.
“Chà, vấn đề của việc cống hiến hết mình cho cuộc sống tu viện là sẽ rất khó để đến thăm những thành phố lớn như thế này nữa.”
Myuri ngừng trêu chọc và bâng quơ buông một câu. Có lẽ đó là lý do lớn nhất khiến cô bé không bao giờ nằng nặc đòi xây tu viện quá mức tha thiết.
“Những chuyến đi ra ngoài thỉnh thoảng vẫn có thể xảy ra, nhưng tu viện thường được xây dựng ở những khu vực hẻo lánh.”
“Em sẽ chết ngạt mất.” Myuri nhún vai. “Nhưng em cá là anh sẽ không bận tâm đâu. Cơ mà anh sẽ mọc nấm nếu cứ nhốt mình trong phòng nhiều ngày liền đấy, anh biết không?”
Cô bé vỗ vỗ lưng cậu và nói. Lúc này, cậu đang mặc trang phục mượn từ Hyland và ăn vận như một doanh nhân trẻ, nên trông cậu hoàn toàn tươm tất.
Nhưng cũng đúng là đã gần một tuần rồi cậu chưa hề bước chân ra ngoài.
Sau khi giải quyết xong vụ náo loạn ở Rausbourne và dọn dẹp các vấn đề trước mắt xung quanh quyết định xây dựng tu viện, Col nhanh chóng bị cuốn vào công việc giải quyết mọi hậu quả tất yếu. Họ sẽ cần phải tuân thủ một số giáo lý nhất định để thành lập một tu viện đàng hoàng, bao gồm việc tuân theo những thứ như quy định tu viện và nguyên tắc sáng lập. Đó là những khía cạnh mà cậu tập trung nỗ lực, vì cậu không thể đóng góp vốn, cũng không giỏi việc đặt nền móng cho quá trình xây dựng.
Đáng lý ra cậu sẽ có cơ hội nghỉ ngơi sau khi hoàn thành công việc đó, nhưng cậu lại nhận được yêu cầu trực tiếp từ nhà thờ.
Tổng giám mục Yagine đã yêu cầu Col tiếp tục công việc dịch Kinh Thánh sang ngôn ngữ thông dụng—chủ yếu với hy vọng rằng cậu sẽ hoàn thành một số phần chưa được dịch trong lúc vẫn còn ở thành phố.
Đã một thời gian rồi Col không thể tiến triển thêm chút nào trong công việc dịch thuật của mình, và rất có khả năng cậu sẽ không có nhiều cơ hội để làm việc đó khi họ bắt đầu lên đường đến thành phố tiếp theo. Dinh thự mà Hyland đang thuê là một môi trường hoàn hảo cho việc viết lách, và thành phố Rausbourne không quá lớn hay sôi động đến mức khiến cậu phải lo lắng khi để Myuri tự do chạy nhảy.
Với mọi yếu tố dường như đều ủng hộ, Col đã tranh thủ cơ hội để vùi đầu vào công việc.
Mãi đến đêm qua cậu mới dịch xong. Nói chính xác hơn thì vào lúc đêm muộn, khi hầu như mọi sinh vật đều đã chìm sâu vào giấc ngủ, cậu mới lê bước lên chiếc giường mà Myuri đã nhường lại để đi làm một số việc vặt. Chẳng bao lâu sau, và cũng là lần đầu tiên sau nhiều ngày, Col đã ngủ say ở một nơi không phải là bàn làm việc của mình.
Khi cậu tỉnh dậy, Myuri dọa sẽ khóc nếu cậu không chịu cùng cô bé ra ngoài thị trấn chơi. Và thế là chúng ta quay trở lại với hiện tại.
“Anh có hơi tò mò chút, chúng ta còn phải mua sắm bao nhiêu thứ nữa?”
“Hửm? Danh sách đây. Mình gần như xong hết rồi.”
Col nhìn xuống xấp giấy cô bé đưa cho và lướt qua danh sách đồ hậu cần dài dằng dặc.
Một số người có thể cho rằng một tòa nhà bằng đá chẳng có gì ngoài những bản sao Kinh Thánh và nến là đã đủ cho một tu viện, nhưng thực tế hoàn toàn không phải vậy.
Ngay cả với quần áo của các tu sĩ, loại trang phục họ mặc cũng khác nhau tùy theo cấp bậc, màu sắc của dải thắt lưng cũng vậy. Điều đó có nghĩa là chất lượng vải phải được phân biệt rạch ròi, kéo theo các loại chỉ dùng cho những loại vải đó cũng khác nhau. Tất cả những sự đa dạng này đòi hỏi phải mua sắm rất nhiều bộ trang phục. Thậm chí, chỉ xét riêng một vài món trong vô số vật dụng cần thiết như đồ nội thất, chân nến để cắm nến và hương dùng khi cầu nguyện, số lượng đồ đạc phải sắm sửa đã ở mức đáng kinh ngạc.
Cuối cùng thì Eve là người đề nghị cho vay tất cả các vật dụng cần thiết của tu viện, nhưng cô không hề có ý định thân chinh đi mua tất cả những đồ lặt vặt này, vì vậy Myuri đã đảm nhận công việc đó.
Myuri gạch bỏ những món đồ đã mua, ghi chú số lượng, chi phí, cùng tên thương nhân hoặc thợ thủ công bên cạnh mỗi món.
“...Em đã là một thương nhân xuất sắc rồi đấy.”
Lông mày Myuri hơi nhướng lên khi nghe lời khen thầm thì của cậu, rồi cô bé tự hào nhe răng cười.
“Hehe.”
Đã một thời gian rồi cậu mới lại nhìn thấy Myuri dưới ánh sáng mặt trời, và cậu nhận ra rằng cô bé dường như đã trưởng thành hơn đôi chút.
“Đó là vì em luôn phải ăn trưa một mình do lỗi của ai đó đấy,” cô bé nói, khẽ véo cậu qua lớp quần áo.
Mặc dù có vẻ giống một cô bé ích kỷ, nhưng Col biết rằng một khi cậu đã vùi đầu vào công việc nào đó, cô bé luôn đủ chu đáo để để cậu yên.
Thấy cô bé nhìn mình chằm chằm đầy bất mãn, cậu mỉm cười đầu hàng chịu thua rồi nắm lấy tay cô bé.
“Vậy thì coi như kể từ hôm nay chúng ta lại đi cùng nhau nhé.”
Đôi mắt đỏ như ngọc của cô bé mở to, và cô bé nở một nụ cười rạng rỡ chói lóa.
“Được rồi, thế em muốn ăn một thứ này!”
“Được rồi, được rồi.”
Myuri kéo cậu đi và cậu ngoan ngoãn bước theo khi cả hai rảo bước qua bến cảng dưới bầu trời xanh ngắt và dàn đồng ca của những chú chim biển.
Nơi Myuri kéo Col đến là một loại quầy thức ăn thường thấy quanh bến cảng, chuyên chiên ngập dầu mọi thứ có thể. Với một mức phí nhỏ, họ sẽ chiên ngập dầu cá—những loại cá không được ưa chuộng đem dỡ xuống cảng này—và cả những phần xương xẩu còn sót lại sau khi làm sạch chúng.
Myuri chưa bao giờ băn khoăn về vấn đề tiền bạc, nên tất nhiên cô bé không chọn nơi này vì nó rẻ.
Những khúc xương cá bơn khổng lồ, lớn đến mức gần như phải ôm bằng cả hai tay, được treo lủng lẳng trên những chiếc móc kim loại trong lúc được nhúng vào chảo dầu sôi sùng sục. Nó giống như một màn trình diễn—về cơ bản là một chiêu trò quảng cáo.
Khi Myuri hét lớn rằng mình sẽ mua một khúc, người chủ quầy thoáng sững sờ trong giây lát rồi mỉm cười, khuyến khích đám đông vỗ tay khen ngợi cô bé dũng cảm; những khách hàng và người xem khác cũng làm y như vậy.
“Em nghĩ mình không thể tự ăn hết được nên muốn thử cùng anh đó.”
Khi cô bé cười tươi rạng rỡ với cậu như vậy, thật không thể nào nói không; và mặc dù thành thực mà nói cậu nghi ngờ mình chẳng giúp ích được gì nhiều, Col vẫn trả hai xu đồng và nhận lấy khúc xương cá bơn. Khác với cậu, người khá chắc sẽ bị ợ nóng chỉ sau khi ăn xong một chiếc vây và vài cái xương sườn, Myuri rõ ràng không thể cưỡng lại được phần xương nhiều mỡ giòn rụm, mùi thơm của dầu và vị mặn thú vị của muối.
Họ len lỏi ra một bến tàu vắng vẻ và ngồi quay mặt ra biển. Myuri bắt đầu vui vẻ đung đưa chân khi cắn thêm vài khúc xương cá bơn to gần gấp ba lần khuôn mặt của chính mình.
“Chỉ nhìn em ăn thôi mà anh đã thấy chứng ợ nóng của mình tệ hơn rồi...”
“Hửm?”
Khúc xương đã được nhúng ngập đầu vào dầu nhiều lần rồi chiên trong một khoảng thời gian khá dài, khiến hương vị đậm đà thấm đẫm vào trong. Lớp dầu để lại một lớp bóng loáng trên đôi môi cô bé trong lúc cô bé tiếp tục ăn. Là một người không mấy tự tin vào dạ dày của chính mình, Col gần như ngưỡng mộ sự kiên trì của cô bé.
“Đây, anh có mua cả bánh mì nữa.”
“Cảm ơn anh!”
Myuri nhận lấy chiếc bánh mì và cắn một miếng như thể để lau bớt dầu mỡ. Một cảm giác kỳ lạ chợt ập đến khi cậu đứng cạnh cô bé, ăn ổ bánh mì của riêng mình—cậu cảm thấy như một lần nữa nhận ra rằng cô bé đúng thực là một cô nàng sói.
Với bầu trời rực rỡ phía trên và làn gió nhẹ thổi qua bến cảng, đây chính là bức tranh hoàn hảo của sự bình yên. Ở phía xa, cậu có thể nhìn thấy những chiếc thuyền với những cánh buồm khổng lồ chen chúc nhau ngoài khơi xa, đang trao đổi hàng hóa với một cụm xà lan.
Khung cảnh ấy khiến cậu nhận ra rằng mọi con tàu lớn đang dập dềnh ngoài kia đều đã trải qua một hành trình gian nan vượt biển để đến được đây, và cậu bắt đầu thấu hiểu rằng thế giới này chắc chắn rộng lớn hơn nhiều so với những gì cậu có thể tưởng tượng.
“Nè, anh trai?”
Khi những gì còn lại của khúc xương cá bơn chỉ là phần đuôi và vài mẩu xương sống, Myuri tu một hơi dài sảng khoái từ bình nước trước khi lại cất tiếng.
“Thành phố tiếp theo chúng ta đến là loại thành phố gì thế? Chúng ta sẽ đi xa hơn về phía nam à?”
Cuối câu nói của cô bé kết thúc bằng một tiếng ợ nhỏ. Col cau mày để nhấn mạnh rằng điều đó là không phù hợp với một cô gái ở tuổi của cô bé, nhưng cô bé chỉ cười gạt đi.
Có vẻ như sẽ còn rất lâu nữa cô bé mới phù hợp với xã hội thượng lưu.
“Anh cho rằng chúng ta sẽ sớm biết thôi. Trữ quân Hyland có lẽ sẽ có lệnh cho chúng ta khi cô ấy quay lại.”
“Hmm. Mọi người ở dinh thự bảo chị ấy chắc hôm nay sẽ về. Em đoán lúc đó chúng ta có thể hỏi luôn.”
“Cái gì? Họ thực sự nói thế sao?” Col ngạc nhiên hỏi, và Myuri đáp lại bằng một cái nhún vai, như thể cô bé thấy thương hại cho cậu.
“Không có em thì anh làm sao mà sống trên đời này được đây?”
Cậu không thể phủ nhận sự thật hiển nhiên rằng mình đã giao phó đủ thứ chuyện cho cô bé lo liệu.
Trong lúc Col tự nhủ mình cần phải xốc lại tinh thần, Myuri lại cúi xuống cắn thêm một miếng xương cá, nhai ngấu nghiến đến mức phồng cả má, làm thay đổi cả hình dáng khuôn mặt, rồi cuối cùng mới nuốt ực tất cả.
“À đúng rồi, em suýt quên không bảo anh.”
“...Chuyện gì vậy?”
Cậu đang cố gắng xoa dịu cơn đau nhói nhẹ trong ngực khi nhìn cô bé ăn thì đột nhiên cô lên tiếng.
“Một người thợ thủ công bảo em rằng bắt đầu từ hôm nay sẽ có rất nhiều gian hàng được dựng lên bên ngoài nhà thờ.”
“Ahh, cuối cùng thì.”
Cậu biết cô bé đang nhắc đến chuyện gì.
Vương quốc Winfiel đã từ chối nộp thuế cho Giáo hoàng, và để trả đũa, Giáo hoàng đã ra lệnh cho tất cả các giáo sĩ trong vương quốc phải đình chỉ các dịch vụ tôn giáo. Rausbourne cũng không ngoại lệ—trong suốt nhiều năm liền, cổng nhà thờ vẫn đóng chặt, mọi bổn phận thiêng liêng đều bị bỏ bê.
Nhưng sau vụ náo động vài ngày trước, cánh cổng cuối cùng đã được mở tung. Col là một trong số rất nhiều người đã tham gia buổi thánh lễ đầu tiên sau nhiều năm. Người dân thành phố hân hoan ăn mừng việc các nghi thức nhà thờ hoạt động trở lại, và từng đoàn người đã đổ xô đến nhà thờ.
Như một hệ quả tất yếu, cậu cũng nghe nói rằng thành phố sẽ mở lại khu chợ ở cổng nhà thờ.
Có vẻ hôm nay là ngày khai trương lại.
“Anh nói cho em biết này, chúng ta sẽ không phung phí tiền bạc đâu đấy.”
Chợ đồng nghĩa với các quầy hàng, và quầy hàng đồng nghĩa với đồ ăn.
Myuri uống xong ngụm nước và nhìn cậu.
“Vâââng.”
Cô bé dùng tay áo lau miệng và đưa ra một lời đáp mà cậu không tin tưởng lấy một chút nào.
Cửa chính của nhà thờ lớn Rausbourne mở toang, dòng người liên tục tấp nập vào ra. Cách đây không lâu, Col cũng từng chứng kiến cảnh tượng y hệt tại buổi thánh lễ đầu tiên. Dù khung cảnh nhộn nhịp này khiến lòng cậu ấm áp, cậu lập tức nhận ra đó mới chỉ là khởi đầu.
Quảng trường trước nhà thờ vốn dĩ luôn sôi động, nổi tiếng với các nhà hàng thịt cừu và đủ loại hình giải trí khác. Nhưng giờ đây, nó còn chật ních các quầy hàng của khu chợ. Lấp đầy những khoảng trống còn lại là một biển người thực sự.
“Tuyệt quá, anh trai ơi!”
Myuri vô cùng phấn khích, nhưng điều khiến Col thở phào nhẹ nhõm là không có quá nhiều quầy bán đồ ăn.
Hầu như mọi thứ được bày bán đều liên quan đến tín ngưỡng theo cách này hay cách khác, từ nến dùng trong thánh lễ cho đến những bức tượng đá nhỏ để cầu nguyện.
Vậy mà, lẫn trong số hàng hóa đó chắc chắn có những món mà hai người hiếm khi bắt gặp trong suốt chuyến đi khắp vương quốc do cuộc xung đột dai dẳng với Giáo hội, và Myuri chăm chú quan sát mọi thứ với sự thích thú vô cùng.
Dù thiếu hụt đức tin, Myuri lại thừa đam mê với thời trang—cô bé ngay lập tức xà vào các quầy bán thảm thêu, găng tay, áo khoác, khăn trùm đầu và đủ loại sản phẩm in biểu tượng của đức tin. Cô bé thỏa sức bới tung mọi thứ, thử những chiếc khăn vuông viền tua rua, hay quàng một chiếc khăn choàng màu đỏ tươi thêu huy hiệu của Giáo hội lên vai.
Dù những bài thuyết giáo của cậu lúc nào cũng vào tai này ra tai kia với cô bé, Col tự hỏi liệu một ngày nào đó Myuri có thể tìm thấy đức tin thông qua thời trang hay không.
“Anh mua cho em một cái nhé?” cậu hỏi, cố gắng dụ dỗ cô bé, nhưng cô bé lắc đầu và trả lại chiếc khăn choàng cho chủ quầy.
“Không ạ. Em không muốn làm ví anh xẹp đi quá nhiều đâu, nên không sao. Em không cần đâu.”
Sau khi nhận lại chiếc khăn choàng, người chủ quầy có vẻ cảm động trước sự chu đáo của Myuri, nhưng tất nhiên, Col không khỏi mỉm cười đầy hoài nghi.
“Anh sẽ còn vui hơn nữa nếu nghe em nói câu đó ở một quầy bán đồ ăn đó,” cậu nói với cô khi cô nắm lấy tay cậu. Cô nàng ngang bướng chỉ nhún vai đáp lại.
“Thế thì đâu có ý nghĩa gì. Chúng ta đang tiết kiệm tiền để ăn đồ ngon mà!”
Tuy không mấy ngạc nhiên trước câu trả lời của cô, cậu vẫn thở dài.
“Anh chịu em luôn...”
“Eh-heh-heh.” Myuri cười ranh mãnh và xích lại gần cậu trước khi nói, “Cái quầy mà em thực sự muốn xem nằm ở chỗ khác cơ. Bác thợ bảo sẽ có một quầy ở trước nhà thờ lớn...”
“Không mua đồ ăn đâu đấy,” Col cảnh báo, dù cậu đoán chắc nỗ lực của mình sẽ công cốc. Myuri toét miệng cười với cậu rồi bất ngờ nhảy cẫng lên tại chỗ.
“Nó kia rồi!”
Cô bé tóm lấy tay cậu và kéo mạnh về phía trước.
Quầy hàng mà cô dẫn cậu đến bán những mảnh vải nhỏ với kích cỡ đa dạng từ bằng ngón tay cho đến bằng bàn tay.
“Những thứ này là...”
Myuri chăm chú quan sát tất cả những mảnh vải được bày la liệt trên quầy với sự tập trung cao độ đến mức Col sợ tai và đuôi của cô bé sẽ xổ ra mất. Ở đó có những mảnh len dệt dày dặn, nhưng cũng có loại vải gai mỏng mà bền chắc. Ngoài các họa tiết huy hiệu Giáo hội thông thường, còn có những khuôn mặt nam nữ, cũng như rất nhiều con vật được thêu trên các mảnh vải.
Tất cả đều nhằm một mục đích duy nhất.
“...Bùa hộ mệnh, anh hiểu rồi. Sao chúng ta lại đến đây?”
Myuri chẳng có chút đức tin nào với Giáo hội, cũng không phải kiểu người hay nương tựa vào các vị thánh bảo trợ.
Nhưng cô bé nhìn ngắm những tấm bùa hộ mệnh đầy phấn khích, rồi nhặt một cái lên khoe với Col.
“Nhìn này, anh trai, nhìn này! Là một con rùa!”
Có hình ảnh một con rùa đang ngậm cánh buồm tàu, và Col khá ngạc nhiên khi thấy một tấm bùa hộ mệnh như vậy lại tồn tại. Cậu không nghĩ Giáo hội sẽ có cái nhìn thiện cảm với thứ này, xét đến việc tôn sùng thiên nhiên thường bị gắn với những tín ngưỡng tà giáo, nhưng rồi người thanh niên bán hàng đã lên tiếng.
“Đó là huy hiệu của Hiệp sĩ đoàn Euran. Một hiệp sĩ đoàn cổ xưa từng hoạt động ở vương quốc này, nổi danh về tài chiến đấu trên biển. Hoàn hảo để giữ cho anh bình an trước mọi hiểm nguy trên đại dương. Và chính là thứ để xua đuổi bọn cướp biển đấy!”
Đó là huy hiệu của một hiệp sĩ đoàn.
Dù Col ngạc nhiên khi thấy thứ như vậy trên một tấm bùa hộ mệnh, nhưng Myuri thì lại hoàn toàn bị thu hút bởi câu chuyện của người bán hàng.
“Đúng rồi, chính là cái này! Tôi đến đây để xem mấy cái huy hiệu! Anh còn loại nào khác không?”
“Ồ hô, chúng tôi còn rất nhiều ở phía sau. Cứ thoải mái lựa chọn nhé!”
Người bán hàng hẳn đã đánh hơi được cơ hội làm ăn, bởi anh ta nhanh chóng lôi ra một thùng gỗ mới từ phía sau quầy. Bên trong nhồi đầy một lượng vải nhiều đến mức đáng kinh ngạc—mỗi mảnh đều được nhuộm đủ loại huy hiệu và biểu tượng khác nhau.
“Oa, tuyệt quá! Tất cả đống này đều là huy hiệu hiệp sĩ sao?” Myuri hỏi, đôi mắt lấp lánh, và người bán hàng hắng giọng.
“Đã từng có rất, rất nhiều hiệp sĩ đoàn tồn tại trong vương quốc này từ thời xa xưa. Cô có biết tại sao không?” người bán hàng vờ hỏi một cách điệu đà, và Myuri háo hức lắc đầu. “Vậy thì hãy cho phép tôi kể cô nghe một câu chuyện. Rất lâu, rất lâu về trước, Vương quốc Winfiel là một đất nước chìm trong tăm tối, bị cai trị bởi những kẻ dã man. Nhưng rồi, vị hoàng đế vĩ đại, người cai trị đế quốc cổ đại, đã tập hợp những binh lính của Giáo hội và thành lập một hiệp sĩ đoàn tiến quân vào vùng đất này. Đó là điểm khởi đầu cho lịch sử lâu đời của vương quốc này.”
“Oa! Anh có biết chuyện đó không, a nh trai?!”
Kiến thức về lịch sử vương quốc của Col khá hạn chế. Cậu đặt tay lên đầu Myuri để trấn an cô bé, rồi ra hiệu cho người bán hàng bằng một ánh mắt. Bắt được ý cậu, người bán hàng bắt đầu tuôn một tràng như một người kể chuyện thực thụ.
“Khụ! Mặc dù đây là hoàng đế vĩ đại của đế quốc cổ đại và đây là những hiệp sĩ giỏi nhất mà Giáo hội có thể chiêu mộ, nhưng cuộc chiến đẩy lùi bọn man rợ diễn ra vô cùng ác liệt. Nguyên nhân là do khí hậu và địa hình trải dài khắp vương quốc quá đỗi đa dạng, lớn đến mức nhiều người nói rằng có đến bốn thế giới riêng biệt nằm gọn trong biên giới của nó. Hồi đó, mỗi vùng đất có vài vị vua khác nhau—đó là thời đại của các vị vua giao tranh, những người thống trị những vùng đất mà họ cảm thấy thân thuộc nhất. Những vị vua cai trị phương bắc tinh thông chiến đấu ngay cả khi phải lội qua băng tuyết, còn những vị vua cai trị phương đông lại làm chủ các trận thủy chiến. Những vị vua cai trị phương nam đầy đáng sợ khi giao tranh trên những vùng đồng bằng rộng lớn, và những vị vua cai trị phương tây là bậc thầy chiến tranh giữa những ngọn núi dốc hiểm trở. Mỗi người họ đều có cách chiến đấu khác nhau, và mỗi người đều có tài năng riêng. Chính vì vậy, đế quốc vĩ đại và các hiệp sĩ của Giáo hội đã phải chia ra hoạt động độc lập trong suốt cuộc chiến trường kỳ chống lại lũ man rợ. Và đó là lúc những huy hiệu này được các hiệp sĩ sử dụng.”
Đây là một phần lịch sử mà Col không quen thuộc lắm, và dường như đuôi của Myuri có thể xổ ra bất cứ lúc nào khi cô bé say sưa lắng nghe.
“Sau khi tổ tiên của vị vua hiện tại thống nhất các hiệp sĩ ở các khu vực, tất cả những gì còn lại của các hiệp sĩ đoàn cổ xưa chính là những huy hiệu cô thấy ở đây.”
“Oa, tôi không hề biết luôn... Nhưng mà tất cả đều ngầu quá đi mất...!”
Phản ứng của Myuri kéo theo vẻ mặt đắc ý của người bán hàng, có lẽ vì cảm thấy tự hào sau khi chia sẻ về lịch sử hào hùng của vương quốc.
“Này, tôi nghe nói tất cả các huy hiệu đều ẩn chứa ý nghĩa phía sau. Có thật không vậy?”
“Tất nhiên, tất nhiên rồi. Lấy cái này làm ví dụ nhé—một con hươu đứng trước một tấm khiên. Đây là huy hiệu thuộc về một hiệp sĩ đoàn từng canh gác một pháo đài nằm ẩn mình trong các thung lũng ở phía tây. Tấm khiên tượng trưng cho nghĩa vụ phòng thủ và con hươu là biểu tượng cho kỹ năng chiến đấu trên những con đường núi hẹp. Những nguyên tắc cốt lõi của hiệp sĩ đoàn được thể hiện trên dải ruy băng ở trên cùng, và những đồ trang trí nhỏ ở mỗi bên hiển thị địa vị và dòng dõi. Có một chiếc chén thánh ở góc dưới bên phải này, nghĩa là họ có mối quan hệ đáng chú ý với Giáo hội, và ở bên này...”
Myuri chăm chú lắng nghe trong lúc người bán hàng giải thích cặn kẽ hơn. Dù Col cảm thấy nản lòng—khi đây là loại chuyện duy nhất mà cô bé luôn tỏ ra hứng thú—nhưng cậu hiểu vì sao cô lại muốn đến đây.
“Tôi muốn tự làm một huy hiệu cho riêng mình. Tôi nên làm gì?”
Vài ngày qua, Col đã phải chạy tới chạy lui giữa nhà thờ và dinh thự mỗi ngày, đảm bảo mọi công đoạn chuẩn bị cho tu viện đều tuân thủ nghiêm ngặt giáo lý của Giáo hội. Đây cũng là khoảng thời gian cậu phải cắt giảm giấc ngủ để tiếp tục làm việc. Vì Sharon sẽ thành lập một tu viện mới, nên vấn đề cần một huy hiệu tự nhiên cũng được đưa ra thảo luận. Myuri cực kỳ thích những câu chuyện phiêu lưu, nên việc nhắc đến chuyện thiết kế một huy hiệu mới chẳng khác nào ném một tảng thịt nướng trước mặt một chú chó hoang. Nhưng tạo ra một huy hiệu khác hoàn toàn với việc làm biển hiệu cho cửa hàng. Col đoán nếu để cô bé ở lại và lắng nghe, cô bé sẽ trở thành một mớ rắc rối. Cuối cùng, cậu đưa cho cô bé một tấm bảng sáp và một cây bút gỗ để cô bé muốn vẽ gì thì vẽ, cốt để tống cô bé đi cho rảnh nợ.
“Thế à? Làm thứ gì đó cho cửa hàng của cô trong tương lai phải không?”
Người bán hàng hẳn đã tự đi đến kết luận đó vì thấy cô ăn mặc như một cậu bé chạy việc cho thương hội.
“Ừm, đại loại thế. Nên tôi muốn xem qua thật nhiều mẫu thiết kế khác nhau.”
“Hmm... Tôi không nghĩ sẽ dễ dàng nếu cô tự vẽ lại từ đầu đâu.”
“Thật sao? Có lẽ tôi nên nhờ thợ thủ công làm giúp. Tôi cũng không giỏi vẽ vời lắm...”
“Không, ý tôi không phải vậy,” người bán hàng nói, gãi đầu rồi cầm một mảnh vải khác lên. “Lấy cái này làm ví dụ nhé. Đây là huy hiệu nổi tiếng nhất vương quốc.”
“Một con cừu?”
“Chuẩn. Đây là huy hiệu của Hiệp sĩ Cừu Vàng của vương quốc, và nếu cô cứ quyết định muốn dùng một con cừu cho huy hiệu của riêng mình thì... cô biết đấy.” Anh ta kéo tay ngang cổ như một lưỡi dao. “Một huy hiệu tượng trưng cho địa vị của cô trong xã hội. Nếu cô tùy tiện sao chép ấn tín hoàng gia chỉ vì cô thích thế, thì chẳng có gì ngạc nhiên nếu tất cả bạn bè và những người theo cô đều bị tống lên giá treo cổ. Còn mấy tấm bùa này tuân theo một định dạng hoàn toàn khác biệt so với huy hiệu thật; chúng được cấp phép đặc biệt để làm bùa hộ mệnh. Vậy nên có thể những tín điều ở trên cùng sẽ khác, hoặc đồ trang trí đặt xung quanh hình ảnh sẽ khác. Cô thấy con dấu Rausbourne ở góc dưới bên phải kia không? Cô cần được cấp phép đặc biệt mới được bán bất cứ thứ gì mang biểu tượng đó.”
“Oa...”
“Nếu cô quyết định tự bịa ra một cái huy hiệu rồi bắt đầu hăng hái treo nó khắp mọi nơi, thì đó sẽ là một thảm họa. Đặc biệt là nếu cô vô tình làm nó trùng lặp với một gia tộc quý tộc ở nơi nào đó.”
“Họ sẽ phát hiện ra nếu bị trùng lặp sao?”
“Chắc chắn rồi. Nếu đến một thành phố lớn, cô thường sẽ thấy có một viên chức phụ trách huy hiệu đi tuần tra và kiểm tra mọi thứ. Và cô sẽ khiến người khác phải ghen tị nếu sở hữu một huy hiệu trông giống của quý tộc. Chắc chắn sẽ có kẻ báo điểm cho viên chức đó.”
Mặt Myuri nhăn nhó trước những hệ thống xã hội đầy rắc rối.
“Chà, tôi duy trì cái quầy hàng này cũng đủ khó khăn rồi, nên việc sở hữu một thương hội đủ lớn để có huy hiệu riêng thay vì chỉ là một cái bảng hiệu đúng là giấc mơ trong một giấc mơ. Và cô luôn có quyền lựa chọn có muốn mơ hay không, vậy sao không lấy một cái để tham khảo nhỉ?”
Mặc dù Myuri có vẻ chán nản trước những lời mời chào của người bán hàng, cô bé vẫn bắt đầu tìm kiếm tấm bùa hộ mệnh mà mình muốn.
Ngay cả sau khi đã nhét đầy bụng một phần khổng lồ xương cá bơn cộng thêm vài ổ bánh mì, Myuri vẫn ngồi trên những bậc thềm đá đồ sộ của nhà thờ nhai rào rạo một chiếc bánh bích quy tẩm mật ong.
Mặc dù có đồ ăn vặt mới trong tay, trông cô bé có vẻ không vui chút nào; cô bé cắn một miếng bích quy rồi thở dài, sau đó lại cắn một miếng và tiếp tục thở dài. Mặc dù Col biết mình không nên chiều chuộng cô bé, cậu không thể không mua cho cô một món đồ ngọt sau khi thấy cô suy sụp như thế nào.
Có hai lý do khiến cô bé rơi vào tình trạng này.
Một là phải đối mặt với những hạn chế xã hội khắt khe xoay quanh việc sử dụng huy hiệu.
Lý do thứ hai là tại một quầy hàng bán đủ loại bùa hộ mệnh, cô bé vẫn không thể tìm thấy thứ mình muốn.
“Mặc dù họ có đại bàng... Có rất nhiều đại bàng luôn...”, cô bé lẩm bẩm, thẫn thờ nhìn chằm chằm xuống dưới chân cầu thang. Quầy bán bùa hộ mệnh dường như có mọi loại thiết kế mà người ta có thể tưởng tượng ra—từ hươu, rùa, cho đến các loại tiêu chuẩn như sư tử, và thậm chí cả những loại kỳ quặc hơn, như thỏ và cá. Cô bé cũng tìm thấy kha khá huy hiệu khắc họa thực vật, một xu hướng mới hơn miêu tả những thứ như hoa huệ, ô liu và cây nguyệt quế.
Sau khi lục tung mọi ngóc ngách, cuối cùng Myuri đã hỏi, Các anh có huy hiệu sói nào không?
Người bán hàng đã trố mắt nhìn cô bé trong giây lát rồi bật cười phá lên. Rốt cuộc thì, đây là Vương quốc Winfiel—vùng đất nổi danh khắp thế giới về len. Hiệp sĩ đoàn trực tiếp phục vụ nhà vua được gọi là Hiệp sĩ Cừu Vàng. Tại sao lại có người muốn sở hữu một chiếc huy hiệu khắc họa một con sói, kẻ thù truyền kiếp của loài cừu cơ chứ?
Mặc dù sức mạnh bí ẩn như vậy từng được coi trọng từ thời đế quốc cổ đại, nhưng giờ đây loài sói chủ yếu bị đồng nhất với việc tấn công gia súc và làm hại con người. Và rõ ràng, điều này cũng đồng nghĩa với việc nó là một biểu tượng được giới lính đánh thuê ưa chuộng, họ dùng sự hung tợn của chúng như một ưu điểm. Chỉ một phần nhỏ những gia tộc quý tộc lâu đời nhất, có dòng dõi truy nguyên trực tiếp về thời đế quốc cổ đại, mới sử dụng họa tiết sói.
Mặt khác, mặc dù Myuri thường gọi Sharon là gà và hay cãi nhau với cô ấy, nhưng dạng thú của Sharon là đại bàng lại xuất hiện trên rất nhiều huy hiệu. Khi Myuri biết đó vẫn là một thiết kế phổ biến ngay cả trong thời hiện đại, cô bé càng trở nên buồn bã hơn.
“Có vẻ như thiết kế huy hiệu cũng có xu hướng thịnh suy,” Col cố gắng nói một cách vô thưởng vô phạt nhất có thể. Myuri hít một hơi thật sâu rồi thở dài.
Col nở một nụ cười khổ trước tiếng thở dài đó, rồi cậu tiếp tục.
“Ít nhất thì điều đó không áp dụng cho hình tượng sói trên các bảng hiệu, đúng không?”
Đặc biệt là ở ngôi làng suối nước nóng Nyohhira, người ta thường kháo nhau rằng nhà tắm nổi tiếng nhất, làm lu mờ mọi nhà tắm lâu đời khác, chính là nơi có hình một con sói trên bảng hiệu.
Tuy nhiên, đối với Myuri, đó chẳng phải là vấn đề.
“Nhưng em không muốn một cái bảng hiệu...”, cô bé lầm bầm bằng giọng khàn khàn. “Những huy hiệu đó có một hệ thống ngầu thật sự...”
Đúng như người bán bùa hộ mệnh đã giải thích, huy hiệu có một định dạng chuẩn: một loài thực vật hoặc động vật tượng trưng cho nguồn gốc của chủ nhân, những tín điều mà họ tuân theo, và nhiều đồ trang trí chi tiết lịch sử của họ.
Giống như các nghi lễ chính thức luôn mang một tầm quan trọng không thể diễn tả nhưng cũng không thể phủ nhận, những bảng hiệu không quá chú trọng vào hình thức rõ ràng không thể mang sức nặng của một huy hiệu.
“Với lại, em đã không biết là người ta không được phép dùng bất cứ thứ gì mình muốn.”
Huy hiệu tượng trưng cho xuất thân và nguồn gốc của một người—sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu ai cũng có thể dùng bất cứ huy hiệu nào họ thích.
Myuri giận dỗi, trút giận lên chiếc bánh bích quy khi cắn một miếng.
Mặc dù yêu thích mọi câu chuyện phiêu lưu, nhưng những câu chuyện khiến cô bé hào hứng nhất luôn có sự xuất hiện của các hiệp sĩ.
Nên việc cô bé bị thu hút bởi những huy hiệu thật cũng là điều dễ hiểu.
Trẻ con quả thực rất dễ gắn bó với đủ mọi thứ, Col đăm chiêu, nhận ra có thứ gì đó đang lủng lẳng trước ngực khi cậu xoay người từ chỗ ngồi trên thềm. Đó là huy hiệu của Giáo hội.
Đây là thứ mà những tín đồ thực sự sẽ luôn đeo. Cậu nắm lấy huy hiệu trong tay và quay lại nhìn lên tòa nhà phía sau.
Nhà thờ đá vươn cao sừng sững phía trên họ, và cùng một huy hiệu mà cậu đang cầm trên tay cũng đang được treo dưới mái hiên ngay trên lối vào chính. Khi các tín đồ ngước nhìn nó và nắm lấy huy hiệu của chính mình, chắc chắn họ cảm nhận được sự kết nối với Chúa, khơi dậy đức tin trong lòng.
Điều đó có nghĩa là—
“Anh trai?”
Giọng của Myuri kéo cậu về thực tại.
“Anh có sao không?”
Col có một thói quen xấu là hay chìm đắm trong những suy nghĩ của riêng mình, và Myuri dường như coi hành vi này là hơi đáng sợ. Có lần cô bé mô tả nó giống hệt như cảm giác ớn lạnh mà người ta gặp phải khi thấy một con mèo nhìn chằm chằm vào một góc trống trong phòng.
Nét mặt Col giãn ra khi nhìn Myuri, lúc này vẫn đang hơi cúi xuống, và cậu đưa tay về phía cô bé.
“Trên mặt em dính mật ong kìa.”
Khi cậu dùng ngón trỏ lau đi vết mật ong, cô bé nhắm một mắt lại đầy khó chịu.
“Chúng ta hãy làm một cái huy hiệu đi.”
“Hả?”
Đó không phải là một nụ cười đơn thuần mà cậu dành cho Myuri đang kinh ngạc.
“Một huy hiệu. Em không muốn sao?”
Niềm vui sướng tột độ khiến cô bé nghẹn lời, nhưng rồi cô bỗng khựng lại.
“...S-sao tự nhiên lại thế?”
Col là kiểu người sẽ mắng cô bé ngay cả khi cô chỉ ăn một xiên thịt cừu—khi thường bảo đó là lãng phí tiền bạc, hoặc cô ăn quá nhiều.
Có đủ mọi luật lệ phức tạp khi tạo ra một chiếc huy hiệu, vậy cậu có thể đòi hỏi điều gì để đổi lấy chuyện này?
Col cảm nhận được sự cảnh giác của cô bé, cậu mỉm cười và thừa nhận với cô, “Anh đã không thể đáp lại tình cảm của em. Đúng không?”
“Ờ... um... Hả?”
“Dù sao đi nữa, anh vẫn coi em là em gái, mặc dù chúng ta không chung dòng máu, trong khi em lại muốn hơn thế. Có đúng không?”
Myuri đột nhiên lo lắng khi cậu đề cập đến chủ đề này một cách đột ngột như vậy. Cô bé có vẻ sắp khóc đến nơi.
Có lẽ cô bé đã tưởng tượng đây có thể là dấu chấm hết cho cuộc hành trình cùng nhau của họ.
Nhưng ngược lại, điều đó là minh chứng cho việc cô bé nghĩ rằng việc dung hòa lập trường của họ sẽ khó khăn đến mức nào.
Tình cảm của cô là chân thành, chân thành đến mức nếu gọi đó là một sự bốc đồng thoáng qua của một đứa trẻ thì thật là quá vô tâm. Không còn nghi ngờ gì nữa, cô bé đã vô cùng đau khổ khi họ quyết định tạm gác lại chuyện này.
Những gì cô bé đã giấu kín qua bức màn cam chịu rõ ràng chính là những cảm xúc nguyên sơ đang bày ra trước mặt cậu ngay lúc này.
“Huy hiệu được bảo vệ bởi luật lệ. Khi một huy hiệu đã được chính thức công nhận, không ai khác có thể sử dụng cùng một mẫu thiết kế đó.”
Khi Col bổ sung thêm vào lời giải thích của người bán hàng, Myuri thu mình lại thành một quả bóng nhỏ khi ngước nhìn cậu với đôi mắt mở to.
“Quyền sử dụng huy hiệu được bảo vệ bởi một thứ gọi là đặc quyền. Ví dụ, đặc quyền sử dụng một huy hiệu thường chỉ được cấp bởi quý tộc hoặc hội đồng thành phố. Đó là lý do tại sao, nếu chúng ta làm một huy hiệu cho riêng mình, chúng ta sẽ là những người duy nhất trên thế giới được phép sử dụng nó.”
Nghe cậu nói vậy, đôi mắt Myuri mở trừng trừng.
Mọi người thường diễn tả việc đứng chết trân bằng câu nói phổ biến, "Phù thủy hắt hơi."
Trạng thái của Myuri khắc họa chính xác câu nói đó—cô bé ngồi đó hoàn toàn cứng đờ, như một bức tượng.
“Em nghĩ sao? Anh đã thề với em rằng bất kể có chuyện gì xảy ra, anh sẽ luôn ở bên em mà. Anh không thể đảm bảo điều đó bằng một cuộc hôn nhân, nhưng anh nghĩ có lẽ một chiếc huy hiệu sẽ là một sự thay thế tốt. Anh thực sự muốn tiếp tục đi du hành cùng em, nhưng hiện tại chúng ta—”
Col bị ngắt lời khi Myuri lao về phía cậu.
Cứ như một con sói vồ mồi mà không báo trước, điều tiếp theo mà Col nhận thức được là bầu trời đang xoay mòng mòng và cậu đã ngã xuống.
Mặc dù có thể do quá cảm động mà cô bé quàng tay ôm cổ cậu và rúc mặt vào vai cậu như thể định cắn cậu, nhưng cũng có thể vì cô bé đang tuyệt vọng cố gắng hết sức để ngăn không cho tai và đuôi mình xổ ra.
Khi Col xoay xở ngồi dậy được, cậu nhận thấy một vài ánh nhìn kỳ lạ từ những thương nhân qua đường, nhưng việc thấy hai người trẻ tuổi tận hưởng một cuộc hẹn hò lãng mạn ở quảng trường nhà thờ ngập nắng cũng không phải là chuyện hiếm.
Và nếu điều đó làm Myuri hạnh phúc đến vậy, thì cậu cũng không bận tâm việc trở thành trò cười cho thiên hạ.
Col ôm lấy thân hình nhỏ bé của cô và thì thầm, “Nó sẽ là một huy hiệu mà chỉ có anh và em mới có thể dùng. Và rồi, ngay cả khi em kết hôn, em có thể mang nó theo như một món hồi môn, dưới dạng một đặc quyền.”
Khi cậu nói vậy, cô bé trừng mắt nhìn cậu bằng đôi mắt đỏ rực đẫm lệ.
“Em sẽ không lấy ai ngoài anh trai đâu.”
Cái nhìn mạnh mẽ của cô bé cho cậu biết đây là điều duy nhất cô bé sẽ không bao giờ thỏa hiệp, và khi cuối cùng cũng thư giãn lại, cô bé gục đầu xuống và dụi mặt vào hai ống tay áo.
Khi Myuri ngẩng lên, cô bé đã mỉm cười trở lại.
“Nhưng điều đó làm em rất vui, anh trai. Cảm ơn anh!”
Col đáp lại nụ cười và ôm cô bé thêm một lần nữa.
Cậu tò mò tự hỏi đuôi của cô bé sẽ vẫy mạnh đến mức nào nếu nó được lộ ra, nhưng khi họ rời nhau ra, cô bé ngẩng cao đầu như một con chim nước trồi lên hít thở.
“Nhưng chúng ta làm nó kiểu gì?”
“Hừm?”
“Chúng ta không cần sự cho phép của quý tộc hay thứ gì đó tương tự sao?”
Col khá ngạc nhiên trước câu hỏi này, vì cô bé không hề nói đùa. Cô thực sự đang hỏi cậu.
Đó là bằng chứng tuyệt đối cho thấy cô bé hiếm khi chú ý đến chính quyền.
“Em đang nói gì vậy? Chẳng phải nhờ một người nào đó mà chúng ta mới được ở trong một dinh thự xinh đẹp ở Rausbourne này sao?”
“...Ồ! Chị tóc vàng!”
Hyland là hoàng thất đúng nghĩa.
Nếu họ nhờ cô, cô gần như chắc chắn sẽ cấp cho họ quyền sử dụng một hoặc hai huy hiệu.
Col đoán vậy, nhưng cậu không quên véo má Myuri.
“Ngài ấy không phải là 'Chị tóc vàng'; tên ngài ấy là Trữ quân Hyland.”
“E-ehh Haiwah…”
“Trời ạ.”
Cậu chỉ bóp nhẹ bằng những ngón tay, nhưng khi cậu buông ra, cô bé vẫn làm ra vẻ xoa má đau đớn trước khi ôm cậu thật chặt một lần nữa.
Con bé đúng là một đứa hiếu động. Cậu mỉm cười ngao ngán.
“Chúng ta hãy quay lại dinh thự nào. Em có nói rằng Trữ quân Hyland sẽ trở về vào tối nay đúng không?”
“Ồ đúng rồi! Chúng ta phải chọn xem huy hiệu của mình trông sẽ như thế nào đã!”
“Anh không nghĩ chúng ta cần phải quyết định ngay lập tức đâu.”
“Đi thôi, Anh trai, đứng dậy đi! Chúng ta cần phải quay lại dinh thự!” Myuri chồm dậy và bắt đầu giật áo Col.
Cậu mừng khi thấy cô bé vẫn tràn đầy năng lượng như mọi khi và cảm thấy như cuối cùng mình đã hoàn thành được một trong những trách nhiệm của mình.
Trước khi để cô bé kéo mình xuống những bậc thềm đá, cậu quay lại nhìn nhà thờ.
Cậu dâng lời tạ ơn Chúa rồi mau chóng bước theo Myuri.
* * *
Myuri nằm sấp trên giường, đôi chân đung đưa trong lúc cô bé vẽ vời các mẫu huy hiệu lên bảng sáp. Tai cô bé vểnh lên khi nghe thấy tiếng xe ngựa, và cô vội nhảy khỏi giường.
Dù dạo gần đây họ đã trở nên thân thiết và thoải mái hơn rất nhiều, Hyland dường như vẫn cảm nhận được một bức tường mỏng ngăn cách giữa cô và Myuri. Dù rất vui mừng khi có Myuri chào đón sự trở về của mình bằng một nụ cười rạng rỡ ngay lúc cô vừa bước xuống xe ngựa, cô lại vô cùng hoang mang trước màn chào đón bất ngờ này.
Myuri thậm chí còn chủ động mang đồ đạc của Hyland vào; Hyland cũng định giúp một tay vì lý do nào đó, nhưng những người hầu của cô đã ngăn lại.
Col cảm thấy có lỗi với cô khi chứng kiến cảnh đó, nên khi cậu giải thích, “Con bé thực ra có chuyện muốn nhờ ngài,” một vẻ mặt thấu hiểu mới lướt qua trên gương mặt của người hoàng gia.
“Ahh... Ta hiểu rồi. Ta đang tự hỏi sao chuyện này lại xảy ra.” Hyland có vẻ nhẹ nhõm và mỉm cười tươi tắn. “Điều đó có nghĩa đây là một đứa trẻ chỉ giúp đỡ khi muốn một thứ gì đó, một chuyện mà ta đã được nghe kể rất nhiều. Có phải không?”
Hyland liếc nhìn Myuri khi cô bé bận rộn bê những chiếc rương chạy qua chạy lại, và một nụ cười dịu dàng nở trên môi cô. Col cảm thấy mình như muốn độn thổ vì xấu hổ.
“Cha ta đã đến nhà ta vài lần khi tôi còn bé.”
“Hửm?”
Col quay sang nhìn Hyland khi cô đột ngột thốt ra câu đó, và cô đang nhìn đăm đăm vào khoảng không xa xăm.
“Ông ấy thường bảo ta rằng ta chẳng có điểm gì đáng yêu cả. Ta không thuộc về tông gia, nên ta đã cố gắng hết sức để thể hiện mình kỷ luật và mẫu mực đến nhường nào, nhưng có vẻ như chiến thuật đúng đắn là chỉ việc làm nũng để thu hút sự chú ý của ông ấy.”
Col có cảm giác rằng Myuri không hoàn toàn là ngây thơ hay thật thà mà chỉ đơn thuần là thô lỗ. Hyland thì ngược lại, quan sát Myuri như thể đang đối chiếu đáp án cho một bài kiểm tra cũ.
“Ta thực sự đã muốn làm nũng với ông ấy.”
Dù mang dòng máu hoàng gia, Hyland lại là một đứa con ngoài giá thú. Trong hầu hết các trường hợp, người mẹ và đứa trẻ có hoàn cảnh tương tự sẽ được chu cấp một khoản tiền ít ỏi rồi bị gửi đến một ngôi làng hẻo lánh nào đó, hoặc bị xóa sổ hoàn toàn nếu đất nước đang đối mặt với những nghi vấn về việc kế vị ngai vàng.
Mặc dù chỉ nhờ vào năng lực xuất chúng mà Hyland mới được phép thừa kế một chi nhánh dưới trướng hoàng tộc dù chỉ là họ hàng xa, nhưng qua cách cô hành xử hiện tại, Col có thể nhận ra cô đã phải chịu đựng rất nhiều để đạt được vị trí đó.
“Ahh, xin lỗi nhé. Chẳng phải là một câu chuyện thú vị gì đâu.”
“Hoàn toàn không phải vậy đâu ạ.”
Col đoán rằng bất cứ điều gì cậu nói ra đều sẽ nghe có vẻ bất lịch sự, nên cậu đã chọn câu trả lời đó.
“Ta tò mò không biết con bé sẽ nhờ vả chuyện gì đây. Ta nóng lòng muốn biết quá.”
“À, ừm...”
“Không, ngài không cần phải nói cho ta biết ngay đâu. Heh-heh. Ta luôn nghĩ thật kỳ quặc khi thấy những quý tộc vĩ đại, đáng sợ lại đi nịnh nọt cháu trai, cháu gái của mình, nhưng giờ thì ta hiểu rồi. Ta đã hiểu.” Hyland vui vẻ gật gù. “Ta cũng có một tin vui đây... À, ta không hoàn toàn chắc liệu có thể gọi nó như vậy không, nhưng ta có chuyện muốn nói với hai người. Vào bữa tối, tất nhiên rồi.”
Col cảm thấy hồi hộp khi nghe nhắc đến tin tức, nhưng nghe có vẻ không phải là chuyện xấu.
“Đã rõ.”
Ngay sau khi cậu đáp lời, Hyland quay sang nhìn Myuri. Cô dường như không giấu nổi sự phấn khích khi nhìn cô bé ranh mãnh giả vờ làm một đứa trẻ ngoan ngoãn.
Sau đó, Col đã đưa vấn đề về huy hiệu ra tại bàn ăn tối.
Hyland dường như không hề do dự chút nào; thực tế, cô còn ngạc nhiên và vui mừng đến mức không nói nên lời.
Vì cô đã biết tình cảm lãng mạn mà Myuri dành cho Col, cũng như đức tin của Col, cô hiểu ngay lập tức huy hiệu đó sẽ có ý nghĩa như thế nào đối với họ. Cô thậm chí còn ẩn ý nhắc đến việc chuyện này chẳng khác nào làm người làm chứng tại một lễ cưới, điều mà Myuri nhiệt liệt đồng tình, còn Col thì phủ nhận.
Dù thế nào đi chăng nữa, họ đã dễ dàng được cấp đặc quyền sử dụng một huy hiệu mà không gặp trở ngại gì, và Hyland một lần nữa nhẹ nhàng và chân thành tuyên bố rằng cô sẽ tiếp nhận yêu cầu của họ.
Chẳng cần đến những bản hợp đồng hay những cái bắt tay như đám thương nhân. Lời hứa của những người có địa vị cao được thực hiện chỉ bằng lời nói của họ.
Myuri lộ rõ vẻ vui sướng và Hyland cũng hạnh phúc khi chứng kiến điều đó.
Như một phần thưởng thêm, Hyland đã kể cho họ nghe về tình hình trong triều đình hoàng gia.
Vì nguy cơ xảy ra chiến tranh với Giáo hội đã gia tăng sau những sự kiện ở Rausbourne, nhiều người trong triều cương quyết yêu cầu phải cẩn trọng và bảo thủ khi đối phó với Giáo hội.
Người ta thường nghe được những bình luận nói rằng những tác động của những thay đổi trên khắp thế giới do sự xuất hiện của Hồng y Chạng vạng vừa là điềm tốt vừa là điềm xấu. Về mặt tích cực, Giáo hội đang phải đối mặt với áp lực ngày càng tăng từ quần chúng, khiến họ bắt đầu tự nguyện cải tổ trên lục địa, với một số nhà thờ thậm chí còn từ bỏ các tài sản mà họ đã tích lũy theo thời gian.
Mặt khác, các quý tộc dự đoán rằng nếu họ đẩy mạnh thêm bất kỳ hành động quyết liệt nào, Giáo hội có thể sẽ đáp trả bằng vũ lực.
Vì vậy, thay vì khiêu khích Giáo hoàng để châm ngòi cho một cuộc chiến, các quý tộc đề xuất để tình hình lắng xuống một thời gian, giống như cách người ta ủ bột làm bánh mì. Nếu Giáo hội tự thay đổi, vẫn còn hy vọng rằng Giáo hoàng có thể xem xét lại lập trường của mình.
Và như vậy, triều đình đã quyết định đình chiến tạm thời. Đáng chú ý nhất, Hyland rõ ràng đã được lệnh phải giữ cho Hồng y Chạng vạng im lặng trong thời gian tới, bằng cách đích thân nêu tên cậu.
Hyland có vẻ rất vui mừng vì cô, Col và những người bạn đồng hành của họ đã được công nhận không phải là thứ rác rưởi, mà là một lực lượng đáng gờm thực sự trong cuộc xung đột. Col cũng cảm thấy hơi run lên vì phấn khích.
Mặc dù vậy, cậu vẫn còn công việc dịch thuật phải hoàn thành, và Myuri thì có một chiếc huy hiệu cần suy nghĩ, nên cậu rất biết ơn vì khoảng thời gian nghỉ ngơi này.
Và thế là bữa tối tiếp diễn; đến một lúc, Myuri thậm chí còn phục vụ đồ uống cho Hyland, và tiếng cười đùa của họ kéo dài suốt nhiều giờ liền.
Sáng hôm sau của một đêm uống quá nhiều rượu, Col tỉnh dậy khi ánh bình minh lọt qua những khe hở trên cửa sổ gỗ. Đã đến giờ diễn ra thánh lễ buổi sáng, và dù cậu muốn nói rằng mình tự nhiên thức dậy nhờ vào thói quen hàng ngày và đức tin, thực ra cậu bị đánh thức bởi tiếng chuông nhà thờ báo hiệu bắt đầu buổi lễ mà rất nhiều người đã chờ đợi.
Trời có chút se lạnh khi cậu mở cửa sổ, nhưng tiếng chuông ngân vang uy nghiêm hòa quyện với sương mù đặc trưng của những thành phố ven biển tạo nên một sự kết hợp vô cùng dễ chịu. Các thành phố chắc chắn sẽ cảm thấy cô quạnh nếu thiếu vắng một chiếc chuông.
Cậu quỳ trước cửa sổ, dâng lời cầu nguyện và tạ ơn vì một ngày mới đã đến.
Khi tiếng chuông ngân vang đã phai nhạt hoàn toàn, cậu thở dài và đứng dậy.
“Myuri có thể đi đâu sớm thế này nhỉ?”
Cô bé đã rời khỏi giường khi cậu thức giấc.
Cậu biết từ những sợi lông đuôi để lại rằng cô bé đã bò vào chăn của cậu lúc nửa đêm, nhưng cậu không hiểu vì sao cô lại dậy sớm như vậy; hôm nay họ không đi du lịch.
Ngẫm lại, cậu đoán chắc cô bé đói bụng nên đi xin bữa sáng, thế là cậu kéo ghế ngồi vào bàn viết. Những thứ cậu chuẩn bị không phải là công cụ để dịch Kinh Thánh, mà là giấy mỏng để viết thư và một chiếc bút lông.
Toàn bộ chuỗi sự kiện hỗn loạn chào đón họ khi mới đặt chân đến Rausbourne khiến đã khá lâu rồi cậu chưa viết một bức thư nào gửi về Nyohhira, vì vậy đã đến lúc cậu khắc phục điều đó.
Đặc biệt là vì cậu phải báo cáo rằng Hyland đã cho phép họ tạo và sử dụng một huy hiệu cá nhân. Về một mặt nào đó, việc được cấp đặc quyền này đồng nghĩa với việc họ hiện đã có mối quan hệ bền chặt với bên chính quyền đã cấp phép nó. Hơn nữa, đây không phải là những đặc quyền giao thương thông thường—đây là quyền được sử dụng huy hiệu riêng của họ.
Việc những quyền đó được ban cấp trong lúc nguy cơ chiến tranh đang cận kề, sẽ không ngoa khi nói rằng mối liên hệ đó đã trao cho họ địa vị như những người hầu cận của hoàng gia. Bất kỳ người trẻ tuổi nào rời bỏ quê hương với hy vọng nhìn ngắm thế giới chắc chắn đều có thể tự hào trở về nhà sau một thành tựu như thế này.
Tất nhiên, Hyland đã giải thích rằng họ vẫn cần cân nhắc mục đích của chiếc huy hiệu mới được cấp. Đó là điều mà Col và Myuri cần phải tự quyết định với nhau.
Đồng thời, đó cũng là điều cậu cần thông báo cho vợ chồng Lawrence và Holo.
“Nhưng...”
Cậu dừng lại, vẫn cầm chiếc bút lông.
Cậu nên báo cho cặp vợ chồng ở Nyohhira như thế nào?
Khi Hyland nói về chiếc huy hiệu, cô lập tức nhận ra ý nghĩa ẩn giấu đằng sau quyết định đó.
Vậy chuyện gì sẽ xảy ra nếu cậu nói cho Lawrence, cha của Myuri, về chuyện này?
Trong những bức thư trước đây, cậu chỉ hời hợt nói rằng lý do Myuri đi cùng là vì cô bé muốn ngắm nhìn thế giới, và Myuri đang giúp đỡ cậu rất nhiều.
Tất nhiên, mẹ của Myuri, Holo, đã biết rõ tình cảm của cô bé, và thực chất cô để con gái mình ra đi vì cảm thấy thích thú, nên sẽ không có gì lạ khi cho rằng Holo đã kể cho Lawrence nghe về tình cảm của Myuri. Tuy nhiên, điều đó vẫn không giải quyết được vấn đề khá đau đầu đối với Col là liệu cậu có nên tự mình thông báo cho Lawrence rằng Myuri đang nuôi dưỡng tình cảm lãng mạn với người bạn đồng hành của mình hay không.
Nhưng nếu Col nhắc đến chiếc huy hiệu mà không đả động đến ý nghĩa đằng sau quyết định đó, thì cũng sẽ hơi kỳ quặc.
Bởi vì khi đó cậu sẽ phải giải thích tại sao đột nhiên lại nhắc đến một chiếc huy hiệu, điều này cũng giống như bỏ qua phần quan trọng nhất của nó, khiến cậu cảm thấy không chân thành. Thậm chí, nếu Lawrence đã biết về tình cảm lãng mạn của Myuri, thì việc bỏ qua lời giải thích sẽ chỉ gây ra những hiểu lầm không đáng có.
Col ngồi trước tờ giấy, bút lông trên tay, suy nghĩ về vấn đề này, cậu càng lúc càng cảm thấy bất an.
Một huy hiệu mà chỉ có cậu và Myuri mới có thể sử dụng.
Dù từng coi đó là một ý tưởng xuất sắc khi mới nghĩ ra, giờ đây cậu lại thấy nó vô cùng sâu sắc, và thậm chí có phần buông thả.
Myuri chắc chắn sẽ trân trọng chiếc huy hiệu đó.
Và điều đó chỉ càng làm cảm xúc của cậu về vấn đề này thêm phức tạp.
“Mình đoán là giờ không thể rút lại được nữa rồi...”
Myuri sẽ nổi cơn tam bành, còn Hyland sẽ thất vọng.
Đang ngồi rên rỉ rằng có lẽ bản thân đã suy nghĩ quá nhiều, một thứ gì đó bỗng làm cậu giật nảy mình.
“Ahhh, em đói quá!”
Cửa bị mở tung và Myuri lao vào phòng.
Col kinh hãi đến mức tim như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, và cậu đánh rơi chiếc bút lông.
“Hửm? Có chuyện gì vậy, anh trai?”
Myuri nhìn cậu chằm chằm, và câu trả lời duy nhất mà Col có thể thốt ra là, “Làm ơn đừng mở cửa đột ngột như vậy...”
“Thôi nào, chúng ta cần đi ăn sáng! Em đói meo rồi!”
Cô bé mặc trang phục của một thương nhân, tay cầm những xấp giấy và giắt một chiếc lông chim sau tai.
“Đừng nói với anh là em đã ra ngoài mua đồ trước lúc bình minh đấy nhé?”
“Bến cảng thức dậy sớm lắm, anh trai à.” Cô bé chọc cậu bằng đầu chiếc lông chim. “Những người thợ thủ công thường thong thả nghỉ ngơi cho đến lúc mặt trời mọc, nên em đã đi lo liệu nốt phần việc còn lại cho tu viện.”
“Ồ... Làm tốt lắm...”
Sở dĩ giọng Col nghe ngập ngừng như vậy là vì cậu không hiểu sao cô bé lại phải dậy sớm thế để lo liệu mọi việc. Cậu đinh ninh cô bé sẽ ngủ nướng đến tận trưa, nhất là khi họ sẽ ở lại Rausbourne thêm một thời gian nữa.
Trong lúc Col quan sát cô nới lỏng chiếc khăn buộc quanh eo—cái khăn cô bé quấn chỉ vì trông nó ngầu—và gỡ mái tóc bị buộc rối bù, Myuri lên tiếng.
“Ăn sáng xong chúng ta ra ngoài nhé, anh trai!”
“Ra ngoài? Đi đâu?”
Cô bé chống tay lên hông và nhe răng cười.
“Đến tòa thị chính!”
Mọi câu hỏi của cậu—tại sao họ lại đến đó, tại sao cô bé lại biết một từ như vậy ngay từ đầu—đều được giải đáp trong bữa sáng.
Khi mặt trời lên và sương mù trên biển tan đi, Col, Myuri, Hyland, cùng bốn người hầu của Hyland đi về phía tòa thị chính, nằm ở rìa quảng trường thành phố. Những quầy hàng nhắm đến những người đi nhà thờ buổi sáng đã được dựng lên bên ngoài nhà thờ. Có vẻ hôm nay sẽ lại là một ngày bận rộn nữa.
“Vậy thì ta sẽ đi xác minh các thủ tục bên ta. Dù sao đây cũng là lần đầu tiên ta ban đặc quyền sử dụng huy hiệu mà.”
“Đã rõ.”
“Chúng ta sẽ gặp nhau ở quán Dương Xỉ Vàng để ăn trưa đúng không?”
Hyland, người vừa cất bước xuống hành lang lát đá, quay lại khi nghe câu hỏi của Myuri và nháy mắt tinh nghịch.
“Đi thôi, anh trai.”
Myuri nắm lấy tay Col và kéo cậu đi theo hướng ngược lại với hướng Hyland vừa đi.
Mặc dù tọa lạc tại quảng trường Rausbourne cùng với nhà thờ lớn và nhà hàng thịt cừu luôn đông khách Dương Xỉ Vàng, tòa thị chính là một không gian trang nghiêm, vĩ đại, hoàn toàn tách biệt khỏi sự hối hả và nhộn nhịp bên ngoài. Tòa nhà đã được xây dựng từ hơn hai trăm năm trước và bất cứ ai bước vào đều có thể cảm nhận được sức nặng của ngần ấy đá tảng và thời gian.
Đây là cơ quan đầu não của chính quyền thành phố, và một trong những ban bệ nằm trong tòa nhà này chuyên phụ trách quản lý huy hiệu. Hyland đã đến đây để xác nhận các thủ tục cần thiết cho việc đăng ký một chiếc huy hiệu mới, còn Myuri có mặt để quyết định xem họ sẽ sử dụng loại thiết kế nào.
“Ngài có kinh nghiệm xử lý sổ sách không?”
Họ đứng trước một cánh cửa bằng đồng, thứ làm Col nhớ phần nào đến một nhà thờ, và viên chức phụ trách huy hiệu, người quản lý thư viện, đã đặt câu hỏi cho họ. Ông ta mang dáng dấp điển hình của một quan chức cấp cao, với bộ râu dài được làm cứng bằng lòng trắng trứng; Col thấy Myuri bồn chồn lộ rõ khao khát muốn chạm vào bộ râu đó.
“Tôi có kinh nghiệm sao chép Kinh Thánh.”
“Ahh, Chúa sẽ rất vui khi nghe điều đó. Rất tốt, rất tốt,” viên chức nói trong khi mở cửa bằng một chiếc chìa khóa quá khổ ngay cả với tay của một người lớn và mời họ vào trong.
“Oa...”
Khoảnh khắc bước qua ngưỡng cửa, Myuri thì thầm.
Thay vì nín thở vì ngưỡng mộ, giọng cô bé dường như nhuốm chút sợ hãi.
Dù không phải là một không gian quá lớn, nhưng sách nhồi chật ních từ sàn lên tới trần nhà, ở độ cao gấp khoảng ba bốn lần chiều cao của Col. Căn phòng có hình ngũ giác, và khi nhìn lên trần nhà, cậu có cảm giác như mình đang rơi vào một cái giếng sách.
Có vẻ như có thể lấy những cuốn sách ở các kệ cao hơn bằng cách trèo lên một chiếc thang di động, nhưng Col không tự tin mình có thể xoay xở leo được lên tận trên cùng.
“Khi cần tra cứu thứ gì đó, vui lòng mở sách trên bàn. Không được mở bất kỳ cuốn nào khi đang cầm trên tay. Có một bản đồ chỉ dẫn trên bức tường đằng kia. Các vị có thể xem qua vài mẫu huy hiệu sơ lược trên các tấm thảm treo tường ở bên đó.”
“Tôi hiểu rồi, cảm ơn ngài.”
Viên chức gật đầu hài lòng, nói “Cứ thong thả,” trước khi rời khỏi phòng.
“Em tự hỏi tổng cộng có bao nhiêu cái huy hiệu nhỉ,” Myuri nói, cuối cùng cũng thoát khỏi trạng thái sững sờ.
“Anh nghe nói có khoảng bốn, có thể là năm ngàn huy hiệu chỉ riêng trong vương quốc này. Có một số lượng nhiều đến khó tin luôn.”
“Oa, nhiều quá.”
“Và nếu tính cả các gia tộc từ đất liền, anh nghe nói con số có thể lên đến hàng trăm ngàn.”
Một nụ cười mờ nhạt lướt qua trên khuôn mặt Myuri, như thể cô bé không thể tưởng tượng nổi một con số lớn đến thế.
“Nhưng hầu hết các thiết kế về cơ bản đều giống nhau. Những chi tiết luôn thay đổi là các tín điều, và những đồ trang trí nhỏ ở các góc. Chúng ta có thể xem các thiết kế sơ lược ở đây.”
Tấm thảm treo tường mà viên chức chỉ ra được gắn vào một tấm bảng đồng cũ kỹ, đặt ở một góc tối hơn của căn phòng.
“Con cừu là cái lớn nhất.”
Đó là con cừu vàng huyền thoại—được vẽ nhìn nghiêng, với vóc dáng oai vệ, cơ bắp cuồn cuộn ở vai và cặp sừng đồ sộ.
Thiết kế này chính là cơ sở cho huy hiệu của hoàng tộc hiện tại.
“Anh đã gặp ông ấy trước đây rồi phải không?”
Dù trong phòng chẳng có ai khác ngoài họ, Myuri hỏi Col bằng một giọng nhỏ nhẹ.
“Ừ. Ông ấy rất kiên định với những tín điều của mình... À, phải rồi, anh nghĩ ông ấy cũng giống như cô Ilenia vậy.”
Hóa thân của cừu Ilenia, người họ đã gặp ở thị trấn cảng trước, là người bạn không phải con người đầu tiên của Myuri.
Myuri có vẻ vui khi nghe Ilenia và cừu vàng có điểm tương đồng, nhưng Col không quên bổ sung thêm một chi tiết quan trọng.
“Điều khiến họ giống nhau chính là sức mạnh. Con cừu này trông như một ông già ấy.”
“Ồ, đúng rồi...”
Myuri hẳn đã nghĩ mình có thể kết thêm một người bạn khác.
“Ồ, một con rùa. Anh ta bảo cái đó là của Hiệp sĩ đoàn Euran đúng không?”
Có những hàng huy hiệu mà họ đã bắt gặp ở quầy bùa hộ mệnh bên ngoài nhà thờ. Những huy hiệu hình hươu và thỏ có kích thước gần bằng huy hiệu của Hiệp sĩ đoàn Euran, được xếp thành hàng sao cho có vẻ như chúng đang đỡ lấy đôi chân của con cừu vàng, nên có lẽ đó là huy hiệu của các hiệp sĩ đoàn từng tồn tại trong vương quốc.
“Có đại bàng kìa.”
Chúng được mô tả ở hai bên con cừu, khiến chúng trở thành con vật lớn thứ hai trên tấm thảm thêu, điều này làm Myuri nhíu mày. Đó hẳn phải là một huy hiệu của một gia tộc danh giá.
“Mọi thứ liên quan đến đại bàng... dường như được bao gồm từ kệ này sang kệ kia.”
Tất cả những vị khách trước đây hẳn đã dùng ngón tay chỉ và xác nhận trên bản đồ chỉ dẫn kệ treo trên tường vì trong phòng rất tối—nó đầy những vết dầu từ ngón tay, khiến nó trông như một tấm bản đồ cổ.
Khi Col men theo những dòng chữ mờ nhạt, cậu bị sốc khi thấy có quá nhiều huy hiệu dùng họa tiết đại bàng.
“Có lẽ số lượng đại bàng còn nhiều hơn cả các huy hiệu cừu đáng kính nữa đấy,” cậu đăm chiêu, hy vọng xoa dịu Myuri, nhưng điều đó chỉ khiến cô bé thêm bất mãn. “Um... Ồ, nhìn kìa, có những con sói.”
Cậu thấy chữ sói được viết gần trên cùng của bản đồ chỉ dẫn.
Khu vực dành cho các huy hiệu có họa tiết sói nằm ở góc trái của một tủ sách lớn cao từ sàn lên trần. Không gian dành cho chúng chỉ bằng một nửa chiều cao của chiếc tủ sách, rồi lại chia đôi phần chiều rộng.
“Chẳng nhiều nhặn gì cả!” Myuri rên rỉ, nhưng cuối cùng cô bé cũng từ từ rút một cuốn sách ra khỏi kệ, nâng niu mang lại chiếc bàn kê. Nó được bọc bằng loại da cứng đến mức có thể làm chệch hướng một thanh kiếm, và đủ cũ để trở nên khô khốc, nứt nẻ.
Các chốt giữ gắn mép các trang sách cũng đang rụng lả tả, và mùi nấm mốc phả ra mỗi khi lật sang một trang mới, chứng tỏ đã bao nhiêu năm trôi qua kể từ lần cuối có người chạm vào cuốn sách.
“Oa...”
Vậy mà cô bé dường như không hề bận tâm đến mùi hương đó chút nào khi được tận hưởng một trong những thứ mình yêu thích nhất.
Đôi mắt cô brd bắt đầu nhảy múa, tai và đuôi ngay lập tức xổ ra.
Col, trong cơn bối rối, suýt chút nữa đã bắt cô bé giấu chúng đi, nhưng rồi cậu khựng lại.
Cô bé, người thừa kế dòng máu của loài sói và sinh ra không phải là con người, đã khóc nức nở khi biết được bí mật về dòng dõi của mình, xót xa cho sự cô độc của bản thân.
Thế nhưng trên thế giới vẫn có những người dùng hình ảnh con sói trong huy hiệu, lấy con vật đó làm biểu tượng cho gia tộc mình.
Dù số lượng đang giảm dần trong thời gian gần đây, vẫn có một số người tự hào gắn kết tên tuổi gia đình mình với sức mạnh và sự huyền bí của loài sói.
Những hình ảnh dũng mãnh khắc họa loài sói đã làm nổi bật sự thật đó một cách đau đớn đối với cô.
Thật hiếm khi thấy trái tim của một người khác lay động chân thành và rõ ràng đến thế.
Col không nỡ dập tắt sự phấn khích của cô bé.
Cậu đã quan sát cô bé bao lâu rồi nhỉ?
Myuri đột nhiên lấy tay áo dụi mắt, rồi vì một lý do nào đó, cô bé cười bẽn lẽn.
“Em tự hỏi,” cô bé nói, “liệu có ai trong số những người này đã từng gặp bạn của mẹ em, như chú Luward không nhỉ?”
Myuri được đặt theo tên người bạn của Hiền giả Sói Holo, cũng như tên đoàn lính đánh thuê mà ngày nay danh tiếng của người bạn đó vẫn vang dội khắp thế giới. Luward là đội trưởng của Đoàn lính đánh thuê Myuri, và nếu dò theo dòng dõi của Luward, từ cha đến đời cha của cha và xa hơn nữa, cuộc tìm kiếm cuối cùng sẽ đưa ta đến với một người thực sự đã sát cánh chiến đấu cùng một con sói khổng lồ mang tên Myuri.
Chính lịch sử đó đã mang lại cho họ biểu tượng sói làm huy hiệu cho đoàn lính.
“Có lẽ vậy. Người ta nói rằng nhiều nhà sáng lập của các dòng dõi thường chọn những thiết kế có sự đồng điệu sâu sắc với họ khi chọn huy hiệu. Cũng giống như cha của em và anh Luward, họ có thể đã làm việc cùng với một con sói để đặt nền móng cho một gia tộc quý tộc vào thời cổ đại.”
Căn phòng này lưu giữ những tàn dư của một thời đại đã qua trong các câu chuyện và ghi chép, truyền tải những hình ảnh thoáng qua của một thời khi các tinh linh lang thang trong các khu rừng là cảnh tượng thường thấy, và vô số sinh vật huyền thoại thường xuyên giao tiếp với con người.
Myuri hẳn đã nhận ra điều đó—cô bé ngẩng đầu lên và nín thở.
Nơi đây không gì khác chính là quê hương của những câu chuyện vĩ đại, nơi trầm tích của thời gian kiến tạo nên một lượng tầng lớp gần như không thể tưởng tượng nổi.
“Em tò mò không biết họ là những con sói như thế nào,” Myuri nói khi lướt ngón tay dọc theo đường viền bộ lông của con sói trên huy hiệu. “Biết đâu đó lại là mẹ em.”
“Điều đó hoàn toàn có thể xảy ra, và đó mới là phần đáng kinh ngạc nhất.”
Với hầu hết mọi người thì đây là một câu chuyện chóng mặt, khó tin, nhưng chiếc đuôi bạc của Myuri cứ quẫy qua quẫy lại cạnh Col, khiến cậu mỉm cười—cậu đang chứng kiến một trong những bí mật tuyệt diệu nhất của thế giới.
“Ồ, nhưng”—khi lật lướt qua các trang sách, đôi tai sói hình tam giác của cô bé bỗng cụp xuống—“những con sói này có thể không còn tồn tại nữa.”
“Sao cơ?” Col hỏi, và Myuri chậm rãi đóng cuốn sách lớn lại, như thể cô đang đậy lại nắp đậy trái tim mình.
“Gấu Săn Trăng.”
Col thậm chí không thể thốt nên lời trong sự vỡ lẽ của mình.
Đó là con gấu trong thần thoại được cho là đã từng chiến đấu với rất nhiều tinh linh, kết thúc kỷ nguyên của rừng rậm và màn đêm.
Theo những gì Lawrence tìm hiểu được về những người bạn từ quê nhà của Holo, họ đã bỏ mạng trong trận chiến đó.
Và rất có thể Gấu Săn Trăng đã tàn sát không ít tinh linh vốn là cơ sở cho các huy hiệu trong thư viện này.
“Ugh, chuyện đó đúng là gợi lại những ký ức tồi tệ mà.”
Là người thừa kế dòng máu loài sói, việc giết Gấu Săn Trăng sẽ là một hành động báo thù đối với Myuri. Hiền giả Sói Holo, người từng sống trong thời đại đó, dường như không còn cảm thấy thứ gì giống như sự oán giận nữa, nên có lẽ nguyên nhân là do yếu tố tuổi trẻ ở đây.
Col mong cô bé đừng bị cám dỗ vào một nơi đen tối như vậy, nhưng cậu biết đó không phải là lãnh địa mà cậu có thể bước chân vào.
Cậu suy nghĩ một lúc xem mình nên đáp lại ra sao, nhưng cuối cùng chỉ nhẹ nhàng đặt tay lên lưng cô bé.
Myuri ngước lên nhìn cậu, ánh mắt họ giao nhau.
Đôi mắt to, đỏ rực của cô bé dường như lấp lánh ngay cả trong thư viện tranh tối tranh sáng.
“Đừng làm vẻ mặt đó, anh trai.” Cô bé nở một nụ cười rắc rối với cậu rồi đưa mặt lại gần, cọ má mình vào má cậu. “Thật không công bằng khi anh làm thế đâu.”
“Không, nhưng—”
Một thứ gì đó đã ngắt lời cậu ngay khi cậu định nói điều gì đó với cô bé đang trêu chọc mình.
Cô bé bỗng rùng mình, tai và đuôi biến mất tăm.
Chưa đầy một giây sau, có tiếng gõ cửa vang lên.
Myuri vội đứng dậy khỏi ghế, trả cuốn sách về kệ và lấy ra một cuốn mới.
Không còn ai khác để làm việc này, Col đi về phía cửa và mở ra.
“Trữ quân Hyland.”
“Thư viện thế nào rồi?”
Col nhích sang một bên, Hyland ngó đầu vào phòng, thở dài đầy thích thú.
Khi Myuri quay mặt về phía họ, Hyland khẽ vẫy tay; Myuri hậm hực quay mặt đi trước khi khẽ vẫy tay chào lại.
“Heh-heh. Ồ, ngài có rảnh một lát không, Col?”
“Có ạ.”
Trước khi đi theo hiệu tay của Hyland để bước ra ngoài, Col quay lại nhìn Myuri.
Cô bé vẫn đang cắm mặt xuống một cuốn sách, như thể đang nói với cậu rằng cậu cứ tự do làm những gì mình thích. Mỗi khi chủ đề về Gấu Săn Trăng được nhắc đến, những tương tác giữa họ luôn trở nên phần nào gượng gạo.
Không ai trong số họ có thể thoải mái giải quyết vấn đề—nó phản ánh những khác biệt chia rẽ con người và những thực thể phi nhân.
Mặt khác, Col có thể nhận ra rằng cô bé cũng không thích việc cậu nói chuyện riêng với Hyland, và nếu đuôi của cô đang lộ ra, nó hẳn sẽ đang co giật liên hồi từ bên này sang bên kia.
Một nụ cười nhăn nhó thoáng qua khuôn mặt cậu, và cậu bước ra khỏi thư viện.
“Có chuyện gì vậy ạ?”
“À thì...”
Col bước ra hành lang đá tĩnh lặng, đóng cửa lại phía sau, và hỏi xem Hyland có chuyện gì cần báo cáo không, nhưng chỉ nhận được một câu trả lời ấp úng.
“Ta đã hỏi qua về các thủ tục để sử dụng huy hiệu chính thức, và...” Hyland dường như ngập ngừng, nên Col nói nốt suy nghĩ hộ cô.
“Việc cấp đặc quyền sử dụng huy hiệu hẳn là quá rắc rối. Thật đáng tiếc, nhưng tôi sẽ đảm bảo nói cho Myuri biết.”
Nó được thốt ra một cách dễ dàng như vậy có lẽ vì cậu cảm thấy nhẹ nhõm khi được giải thoát khỏi nỗi băn khoăn về việc liệu mình có nên nói cho Lawrence biết hay không.
Nhưng Hyland ngẩng phắt đầu lên.
“Ồ, không, đó không phải vấn đề. Mọi chuyện đó đều ổn.”
“Là... là vậy sao? Tôi nghĩ cũng có lý khi chúng ta không thể dùng huy hiệu hình con sói ở một vương quốc mà thần thoại lập quốc lại dựa trên một con cừu...”
Nghe cậu nói vậy, Hyland bật cười, đôi vai cô chùng xuống.
“Ta không nghĩ đó sẽ là cơ sở để từ chối. Nhưng sẽ không hay lắm nếu ngài giương cao ngọn cờ với huy hiệu đầu lâu đâu.”
Trong thoáng chốc, Col chợt nghĩ Myuri sẽ vui mừng đến nhường nào nếu thấy một thiết kế như vậy.
“Vậy thì tốt rồi.”
Thế thì điều gì khiến Hyland phải do dự?
Cậu nhìn cô, cô thở dài, đúng như cậu dự đoán, trước khi cất giọng đầy vẻ thất bại.
“Việc ta cấp đặc quyền sử dụng huy hiệu thì không có vấn đề gì cả. Ta có thể bảo đảm quyền lực cho bất kỳ huy hiệu nào hai người thích dưới tên của ta. Nhưng ta bắt đầu cảm thấy không chắc chắn khi viên chức phụ trách huy hiệu bắt đầu hỏi ta về những hạng mục bắt buộc để làm huy hiệu.”
Đó không phải là điều Col đang mong đợi. Đột nhiên Hyland lùi ra vài bước khỏi cửa thư viện và hạ thấp giọng.
“Đó là mối quan hệ giữa những người sử dụng huy hiệu.”
“...Ý cô là sao?”
“Họ không bận tâm nếu mọi người dùng những huy hiệu tương tự chỉ khác nhau chút xíu, nhưng... nếu hoàn toàn giống hệt nhau, thì rõ ràng những người dùng chung huy hiệu đó sẽ cần phải có một mối quan hệ chính thức nào đó.”
Col không thể làm gì khác ngoài việc gật gù, nhưng rõ ràng cậu không hoàn toàn hiểu ý cô.
Vì vậy Hyland giải thích, “Huy hiệu có quyền lực, đúng không? Có nghĩa là nếu những người dùng chung một huy hiệu xảy ra chia rẽ nào đó, thì chỉ một trong số họ mới được thừa kế huy hiệu đó. Các quy tắc chi tiết về việc ai sẽ được ưu tiên trong những tình huống như vậy, đặc biệt là khi liên quan đến vấn đề kế thừa, đã được thiết lập từ rất lâu và dựa trực tiếp trên luật pháp của đế quốc cổ đại.”
Chắc chắn sẽ gieo rắc hỗn loạn nếu cả một gia tộc đang dùng chung một huy hiệu bỗng nhiên bắt đầu đấu đá vì một lý do nào đó, và rồi những thành viên gia đình đã từ mặt nhau lại sử dụng cùng một huy hiệu mà không được sự cho phép.
“Điều này gợi lên câu hỏi về mối quan hệ của ngài với cô bé đó,” cô nói, và điều đó lập tức khiến Col nhận thức được vì sao Hyland lại muộn phiền đến vậy.
Nhận thức một cách đau đớn.
“Ta nghe nói ngài và Myuri không phải là anh em ruột; có đúng không?”
“Vâng... Tôi làm việc tại nhà em ấy, và tôi đã chăm sóc em ấy kể từ khi em ấy chào đời.”
“Điều đó có nghĩa nếu nghiêm khắc mà nói, là mối quan hệ giữa một cô chủ trẻ tuổi và người hầu của cô ấy. Nhưng hai người có mối quan hệ như vậy lại dùng chung một huy hiệu thì, ừm, ta nên nói thế nào nhỉ...”
Hóa ra sự vô đạo đức rõ rành rành đó không chỉ là sự tưởng tượng của Col.
Nhìn bề ngoài, tất cả những gì nó gợi lên trong đầu người ta sẽ là sự ngụ ý về một mối tình vụng trộm sai trái.
“Thú thực, khi tôi báo cáo vấn đề này với nhà tắm ở Nyohhira, một phần trong tôi cảm thấy nó có phần... vô luân... Tôi từng nghĩ đó là một ý tưởng hay, nhưng tôi sợ mình đã quá bất cẩn.”
“Không, ta nghĩ đó thực sự là một ý tưởng tuyệt vời. Nó không phải là tình yêu nam nữ, cũng không phải là gia đình, nhưng hai người có một sự gắn kết bền chặt hơn bất kỳ thứ gì ta từng biết. Những điều như vậy có tồn tại, và những điều như vậy nên tồn tại. Ngay cả ta cũng nghĩ rằng một chiếc huy hiệu mà chỉ có hai người trên thế giới này mới có thể dùng chung như một biểu tượng cho sự gắn kết của hai người là một điều vô cùng đẹp đẽ.”
Col có thể cảm nhận được sự chân thành trong lời khẳng định của cô, điều đó có nghĩa là nó cũng mang chung một vấn đề sâu sắc không kém.
“Chúng ta có thể sử dụng hình thức sư phụ và đồ đệ, giống như những gia đình nghệ nhân nổi tiếng hơn.”
Điều đó sẽ dễ dàng được chấp nhận hơn nhiều.
“Nhưng hai người đâu phải là thầy trò, đúng không?”
“Tôi cho rằng ngài cũng có thể nói là gia sư và học trò...”
“‘Học trò’ là một mối quan hệ yếu ớt khi nói đến việc thừa kế huy hiệu đấy.”
Đó là một vấn đề phức tạp, nhưng khi Col thấy Hyland đang suy nghĩ nghiêm túc cho lợi ích của họ đến nhường nào, cậu không khỏi mỉm cười.
Khi Hyland nhận thấy cậu đang mỉm cười, cô tò mò nhìn cậu.
“Tôi xin lỗi, tôi chỉ là...”
“Chỉ là sao?” cô hỏi vặn lại, và Col quyết định trả lời thành thật.
“Tôi xin lỗi. Tôi chỉ quá đỗi vui mừng khi thấy ngài đang thực sự nghiêm túc với chuyện này.”
Hyland chớp mắt vài lần trước khi phẫn nộ lên tiếng, “Tất nhiên là ta nghiêm túc rồi. Đây cũng là một vấn đề nghiêm túc đối với ngài cơ mà, đúng không?”
Thái độ bất mãn của cô khiến cậu ngạc nhiên.
“Ta có thể bịa ra những lời mô tả dối trá cả ngày cũng được. Nhưng thứ này là để đại diện cho mối quan hệ của ngài với cô bé. Tại sao ta lại chèn thêm dối trá và giả dối vào điều đó chứ?”
Cô nói bằng niềm tin mãnh liệt của một người đang giải thích những sự thật hiển nhiên nhất, giống như việc mặt trời mọc ở hướng đông hay nước biển thì mặn.
Khi Hyland nhận thấy phản ứng của Col, cô tự trấn tĩnh lại.
Với vẻ tội lỗi và xấu hổ, cô nói, “Ta xin lỗi. Chỉ là nó là một câu chuyện quá đỗi đáng yêu khiến ta gần như bị lạc lối trong đó thôi.”
Điều này một lần nữa khẳng định với Col rằng cậu đã gặp được một người vô cùng tuyệt vời.
“Tôi ước mình có thể thể hiện niềm vui mà tôi cảm nhận được theo một cách cụ thể như vậy.”
“Thôi đi. Không phải vậy đâu.” Hyland quay đi và thở dài. “Ta dễ xúc động một cách đáng xấu hổ trước tình cảm gia đình do hoàn cảnh xung quanh sự ra đời của chính mình thôi.”
Rốt cuộc, cô vẫn là đứa con ngoài giá thú của nhà vua.
Col im lặng, không thốt nên lời khi thấy vai Hyland so lại trong sự tự ti.
“Chà, ta đoán là... ta chỉ báo cho ngài biết để ngài chuẩn bị tâm lý vậy. Nếu ngài không thể quyết định được một mối quan hệ phù hợp, thì ta có thể để nó là một thứ gì đó an toàn, như sư phụ và đồ đệ,” Hyland nói, dùng tay phẩy phẩy quạt nhẹ vào mặt, và nhìn ra ngoài quảng trường qua khung cửa sổ có song sắt.
“Trời ạ, ta biết là ta sẽ thấy nóng khi ở trong này mà. Ta sẽ ra ngoài để hóng gió chút. Chắc ta cũng sẽ chọn cho chúng ta một chỗ ngồi ở Dương Xỉ Vàng luôn ha.”
Col không thể cản cô lại—cậu chỉ cúi đầu tiễn cô.
Thế nhưng, lý do chính khiến cậu không thể thốt ra điều gì là bởi trong đầu cậu đang bận rộn với một vấn đề hoàn toàn khác.
Mối quan hệ của cậu với Myuri là gì?
Họ không phải là anh em ruột thịt, không phải người yêu, cũng không phải là sư phụ và đồ đệ.
Cậu liệt kê chúng ra hết cái này đến cái khác, nhưng không có cái nào hoàn toàn chính xác.
Khi cậu đếm chúng trên những ngón tay, đó là lúc lần đầu tiên cậu hiểu được rằng mối quan hệ của họ mơ hồ và mông lung đến nhường nào.
Họ dành toàn bộ thời gian cho nhau. Myuri thậm chí đã đặt cược cả mạng sống vì cậu, và cậu cũng hoàn toàn dự định thực hiện lời hứa sẽ ở bên cô chừng nào cậu còn sống. Tuy nhiên, lại chẳng có một thuật ngữ hay danh xưng nào có thể diễn tả trọn vẹn mối quan hệ của họ.
Khi cậu nhận ra điều đó, thời gian dường như ngừng trôi trong hành lang bằng đá trống rỗng này. Hành lang ấy có cảm giác như kéo dài bất tận trước và sau lưng cậu, và dù đang cầm một chiếc chìa khóa trên tay, nó lại chẳng mở được bất kỳ cánh cửa nào.
Đó là lúc cậu dần lờ mờ nhận ra rằng đây chính là thứ mà sự bất an của Myuri mang lại.
Một nơi để cô bé nghỉ ngơi, một bến đỗ bình yên—dù nắm trong tay chiếc chìa khóa dẫn lối đến đó, cô bé lại chẳng biết nó sẽ mở ra cánh cửa nào. Tất cả những gì cô có thể dựa dẫm vào là một lời hứa mà cô bé từng được nghe.
Giờ cậu đã biết tại sao Myuri nói cô bé thích cậu như một người đàn ông, vậy mà lại không ngừng gọi cậu là “Anh trai”—đó là một trong số ít những sợi dây hữu hình cuối cùng mà cô bé có thể nắm lấy.
Khi họ ngồi trước nhà thờ, cậu đã đề xuất làm một huy hiệu bằng thái độ gần như bâng quơ. Tất cả những gì cậu nhận thức được là Myuri chắc chắn sẽ vui mừng—một món quà nhỏ để xoa dịu cảm giác tội lỗi trong cậu. Nhưng nó lại mang một ý nghĩa vĩ đại không tưởng.
Đối với Myuri, chiếc huy hiệu chắc chắn chính là tấm biển hiệu trên cánh cửa đó.
Cánh cửa mà cô bé cuối cùng cũng đã tìm thấy sau khi lang thang khắp những hành lang bằng đá lạnh lẽo suốt khoảng thời gian đằng đẵng.
Nhiệm vụ của Col là rải những cánh hoa dọc theo con đường dẫn đến cánh cửa ấy.
“Nhưng...”
Cậu phải làm sao đây?
Đứng trơ trọi một mình trong hành lang bằng đá tĩnh mịch, cậu ước gì mình có thể lạc mất bản thân trong những cuốn Kinh Thánh.
0 Bình luận