Quyển 1 (Remake): Ngày Ngọn Gió Trở Về
Chương 01: Thập Tự
2 Bình luận - Độ dài: 5,557 từ - Cập nhật:
Họ nhìn thấy vẻ đẹp của Thần. Họ nhìn thấy vùng đất màu mỡ của Thần. Vững chãi và thuần khiết. Mọi huy hoàng, mọi sự hào nhoáng, tất cả đều nhờ thứ gọi là “niềm tin”.
Trích “Hồi ức của Iadnah”
Những người tị nạn mặt rũ rượi, lấm đầy bụi bặm xám xịt, mệt nhoài, kẻ đứng người ngồi láo nháo trước cánh rừng u ám. Đêm qua trời vừa đổ một cơn mưa như trút nước, biến con đường vốn đã lộn xộn trở thành một bãi lầy nhão nhoét. Và gần như suốt ngày, lớp lớp mây mù nặng trĩu bay sà xuống, giăng màn hơi nước triền miên quanh những con người khốn khổ. Những cỗ xe hàng, xe ngựa tạm bợ lún xuống vì bùn, không có cách nào kéo lên được. Rồi chốc chốc, phía tây bắc tràn đến những cơn cuồng phong hung hăng quật cho các tán cây ngả nghiêng. Nhiều người túm tụm, co ro trong những túp lều chắp vá, kêu phành phạch vì gió chỉ mong tìm thấy chút hơi ấm.
Vài người đàn ông nhếch nhác, lâu ngày chưa cạo râu ngồi trên khúc gỗ ẩm ướt, châm một điếu thuốc cũ vàng xỉn bốc mùi ngai ngái. Bùn bám lên giày họ, lem nhem đến tận ống quần, lẫn với từng mảng bùn khô từ những đêm trước đó. Tàn thuốc vương vãi xung quanh. Thật buồn thảm. Họ phải chứng kiến qua làn hơi nước đoàn người lôi thôi, tồi tàn và bẩn thỉu; nhìn những chú ngựa kiệt sức, đầu gối run run khi mình đẫm mồ hôi; nhìn lũ trẻ con gầy gò quấn trong mấy tấm vải thô nhao nhao vì đói ăn.
Môt gã râu xồm xoàm vắt chéo chân trên tảng đá, ném cho lũ trẻ một cái nhìn khó chịu. Gã nheo nheo mắt, và trên gương mặt loang lổ những đốm nám không giấu nổi sự bực mình. Gã ta lầm bầm văng tục cho đến khi gã bất ngờ đứng bật dậy, chỉ vào bọn trẻ đang tụ lại cạnh đống lửa cháy đượm, quát lớn. “Bao giờ thì họ đến? Chúng ta đã chờ cả ngày! Có phải lũ quỷ sứ chúng bay nói dối không? Họ sẽ không đến! Trời thì sắp tối, nếu chúng bay nói dối, tất cả sẽ chết rục xương ở đây!”
Hai, ba đứa trẻ nhỏ tuổi giật mình nhảy dựng rồi sợ hãi nấp sau những đứa chững chạc hơn. Gã mặt nám nhìn chòng chọc bọn trẻ như muốn gán cho chúng cái tội mà chúng chưa bao giờ làm. Và trước thái độ gay gắt kia, tưởng chừng như gã có thể nhảy bổ vào bọn trẻ ngay lập tức.
Gã tiếp tục rít qua kẽ răng. “Đừng có im lặng như thế, lũ oắt con!”
Đứa lớn nhất trong số bọn trẻ lấy hết can đảm ra mặt. Với biểu cảm kiên quyết không gì có thể lay chuyển, thằng bé khăng khăng. “Chúng cháu không hề nói dối, ai cũng mơ cùng một giấc mơ, đều cùng nhìn thấy đoàn tàu đó. Họ sẽ tới đón chúng ta, sẽ không ai bị bỏ rơi, Thần đã nói thế.”
“Chúng bay...”
Bỗng nhiên, ai đấy giọng khàn khàn đánh tiếng bênh vực. “Cậu đừng có ầm ĩ nữa, bọn trẻ đều thấy Thần mặc khải, chúng lừa chúng ta làm gì? Chẳng nhẽ nỗi sợ làm đầu cậu mụ mị rồi? Ngồi đây ai cũng như ai, mọi thứ còn chưa đủ rối tung sao? Nhặng xị như thế ích gì chứ?” Sau đó giọng khàn ấy khẽ giục bọn trẻ. “Cho thêm củi vào, để lửa cháy to lên.”
Gã mặt nám đột nhiên im bặt như không biết phải nói thế nào. Gã chợt liếc nhìn về phía những bụi cây rậm rạp, bóng loáng vì nước mưa đan xen tạo thành một mảng bóng râm đặc quánh. Hai vai gã run rẩy, chẳng nhớ rõ từ bao giờ, gã và toàn bộ những người đang tụ tập ở đây đã bắt đầu sợ hãi bóng râm. Khoảng không đen kịt giữa các bụi cây trở nên méo mó trong mắt gã, dường như nó vừa mọc răng nanh, tràn ra một thứ dịch lầy nhầy đen ngòm trên mặt đất sũng nước. Giờ gã không phân biệt nổi đâu là bóng râm, còn đâu là sự u tối cùng cực mà thời đại này mang tới, bởi vì chúng giống hệt nhau. Gã tặc lưỡi. Giống hệt nhau.
Tiếng quạ kêu eo óc vẳng lại từ những tán cây xa, nhưng gã nghi ngờ âm thanh kia có thật là quạ hay không.
Chẳng nói chẳng rằng, gã mặt nám rời tảng đá đi đến chỗ đống lửa nổ lách tách. Gã cảm thấy an tâm khi tàn lửa bay giữa không trung như những cánh hoa diễm lệ in vào mắt mình. Chừng nào vẫn còn ánh sáng thì chừng đó vẫn ổn thôi.
Bọn trẻ tự động tránh xa khi thấy gã mặt nám tới gần, không dám nhìn thẳng gã. Duy chỉ có một đứa, trông nổi bật nhất trong tất cả, là vẫn không nhúc nhích. Con bé ngồi bó gối, cuộn người trong tấm áo choàng đơn sơ màu xám, đi chân trần. Mái tóc đỏ rực phủ xuống vai, gần như hoà cùng với ngọn lửa. Gương mặt con bé toát lên vẻ non nớt, nhưng ánh mắt thì không, con ngươi màu hổ phách sáng lấp lánh như đồng nung, thật sự nhìn quá tỉnh táo so với độ tuổi của nó. Mái tóc đỏ làm gã mặt nám liên tưởng đến những người Bái Hoả, cũng đã rất lâu rồi người ta chưa thấy họ, vả lại mắt người Bái Hoả thì có màu lục chứ không phải hổ phách.
Con bé cứ mải nhìn chằm chằm vào đống lửa, tay mân mê một bông diên vĩ trắng muốt dệt bằng một thứ chỉ hay lụa gì đó. Cây thập tự giá đeo trên cổ lộ ra khỏi áo choàng, chớp loé ánh kim, không rõ chế tạo từ vật liệu gì. Ánh lửa vàng cam hắt vào cây thập tự làm cho những hoa văn khắc chìm hiện rõ, thành những đường nét mảnh và sâu.
Đến một kẻ ngốc cũng nhận ra những hoa văn ấy. Cách khu trại lay lắt này không xa về phía Đông là một ngôi làng nhỏ trơ trọi và hoang phế. Đây đó, giữa những căn nhà đổ nát, nơi những mảnh sành mảnh sứ bị quăng quật, giữa những thứ đồ vật rác rưởi như vỏ diêm, ve chai, cuốc xẻng gỉ sét, xương sọ rải rác của lũ gia súc – là cây thập tự gỗ đã gãy thành hai nửa, được dựng trong một nhà thờ nhỏ nay đến mái che cũng chẳng còn. Nước mưa vẩn đục dồn ứ dưới chân thập tự, trong cả cái lỗ toang hoác mà con chim gõ kiến để lại. Xác con cú trắng vất vưởng, đầu ngoẹo hẳn một bên nằm trên phần gãy đổ. Bộ lông tái xám bết chặt vào cơ thể đang rữa ra như bị hồ dán, nhãn cầu trắng dã co rúm lại trong hốc mắt, hướng lên các hoa văn được khắc y hệt cái gã nhìn thấy. Đó là những biểu tượng đại diện cho bảy vị thần mà những người từng tồn tại ở vùng heo hút này thờ phụng.
Gã và những người xung quanh cũng từng thờ phụng họ, nhưng thời buổi bây giờ hầu như không mấy ai còn giữ vững được niềm tin cũ, hầu như họ đã vứt bỏ nó như vứt bỏ những cái vô ích còn không đổi lấy được một mẩu bánh mì vụn.
Gã mặt nám cố ý giữ khoảng cách với con bé, lấy từ túi ra một miếng thịt hun cứng như đá, hơi hăng và ghim vào một cái que, hơ lửa cho mềm ra.
Có một ông lão người tiều tụy ngồi trên súc gỗ gần gã, vẻ khổ sở, thủ tay trong chiếc áo nông dân lỗ chỗ vết vá. Con chó đen đi cùng nằm phục dưới chân ông run lập cập. Nó đưa đôi mắt đáng thương nhìn miếng thịt chảy nước. Vẫn đang loay hoay với món thịt của mình, gã mặt nám không để ý đến con chó. Chuyện chỉ thay đổi khi con chó kia không chịu được nữa khi gã ta cắn xuống một miếng lớn, nó lắc đuôi đứng dậy và chồm tới trước mặt gã với vẻ xu nịnh.
“Greta.” Ông già khẽ quát con chó. “Mày làm gì thế? Quay lại đây, đừng có quấy rầy anh ta.”
Nhưng con chó vẫn đứng yên, phớt lờ ông lão. Nó lại ve vẩy đuôi, thậm chí kêu ư ử lôi kéo sự chú ý của gã mặt nám. Hai chân trước của nó luôn run lẩy bẩy vì mệt, đôi lúc do không đứng vững, nó hạ thấp người cho đến khi mặt đất ẩm ướt chạm vào cái bụng teo tóp, rồi lại gượng rướn lên.
Ông lão lại sốt ruột gọi. “Greta, về đây, tao bảo mày về đây.”
Con chó không thèm nghe ông lão, nó chỉ nghe theo cái bụng đang đói lả của mình.
Cuối cùng, gã mặt nám đã trông thấy con chó. Mồm nhai nhóp nhép miếng thịt, gã hỏi. “Đồ khốn, mày dám đi xin ăn ư?” Thế rồi gã quay ra nhìn ông ấy, giọng giễu cợt. “Đúng là dở hơi, thời này người sống còn chưa xong huống chi là một con chó. Ông nuôi nó để cùng nhau chết đói à? Nhìn cho rõ, chó của ông đi xin của bố thí, tội nghiệp.”
Nhạo báng xong, gã liền ném cho con chó một mẩu thịt chả bõ dính răng. Con chó khụt khịt mũi, thận trọng nhích tới mà không giấu được sự thèm thuồng và vui mừng ve vẩy đuôi.
Ông lão mặt đỏ lựng, hét lớn cảnh cáo con vật. “Greta! Không được đụng vào!”
Con chó hoảng hốt rụt cổ lại, tiếc nuối quay về chỗ ông lão. Mẩu thịt lăn lóc trên mặt đất, một con chim khôn lỏi bất ngờ sà xuống không biết từ đâu, nhanh nhảu cắp mẩu thịt bay mất. Con chó giương mắt nhìn theo miếng ăn biến mất ngay trước mũi, muốn đuổi theo, nhưng nó vẫn sợ chủ mình.
Bàn tay sạm đen, gân guốc của ông lão lần mò vào túi hành lý. Ông bất cẩn làm rơi ra ngoài một huy hiệu nhỏ màu lục nhạt. Gã mặt nám nhìn thấy nó, hình dáng cong nhẹ và uyển chuyển, trông rất với giống một vệt nước. Ông lão vội nhặt huy hiệu lại, mặt thoáng qua nét căng thẳng, sau đó ông lấy ra một bọc được gói ghém cẩn thận. Bên trong bọc là một ổ bánh mì nâu vỏ nứt nẻ, ông bẻ ổ bánh làm hai, vừa bẻ vừa gom vụn bánh dưới vạt áo.
“Greta ơi Greta...” Ông lão đưa nửa ổ bánh cho con chó. “Tao phải làm sao với mày đây?”
Con chó đang cụp đuôi lại đứng cạnh ông liền phấn chấn hẳn ra, lao đầu vào nửa ổ bánh gặm lấy gặm để, rối rít vẫy đuôi mừng rỡ.
Khoé mắt ông lão hơi ửng đỏ, ông xoa đầu con chó. Greta không ngẩng đầu, nó bận ngấu nghiến, bận lấp đầy cái bụng rỗng đã lâu chưa được thoả mãn. Ông nói với con chó. “Mày quên rằng các ngài đã dạy bảo thế nào rồi ư? Mày đúng là một con chó ngốc hết thuốc chữa.”
Rồi ông lão cất tiếng đọc một đoạn kinh thánh trong sách Phẩm Hạnh bằng giọng thều thào:
Các ngài dạy chúng ta thứ tha,
Các ngài dạy chúng ta khiêm nhường,
Các ngài dạy chúng ta nhẫn nhịn,
Các ngài dạy chúng ta tự trọng,
Và rằng: Giữ lòng mình ngay thẳng,
Cúi đầu nhưng không quên mình là ai.
“Ôi! Lão già, lại còn tự ái cơ đấy. Ghê gớm nhỉ? Quên tiệt thất thần khốn kiếp của ông đi. Họ chẳng còn ở đây mà nghe những lời ông lải nhải đâu, bọn họ đi rồi, bọn họ bỏ rơi chúng ta.” Gã mặt nám phỉ nhổ, bộ râu rung lên theo cơn giận. “Bây giờ chúng ta phải bám víu vào cái hy vọng bé hơn cả một con kiến từ mồm lũ oắt để sống sót, và nó còn khá hơn khẩm hơn nhiều mấy câu kinh rỗng tuếch đó.”
Ông lão im lặng không nói gì. Một cơn gió lạnh buốt kéo đến, và rất có thể một cơn khác sắp theo sau, nhưng vẫn còn xa lắm, ở tít bên kia khu rừng. Gió làm nước mắt ông không kìm được ứa ra.
Con bé tóc đỏ vốn vẫn luôn im ắng bấy giờ liền đứng lên. Nó ngước mắt nhìn gã mặt nám, vẫn giữ lấy vẻ bí hiểm đến mức quái dị. Đây là lần đầu tiên gã trực tiếp đối diện với ánh mắt màu đồng nung đó, và gã chợt cảm thấy bản thân bị nhìn thấu tận tâm can. Cây thập tự đung đưa trước ngực con bé bỗng nhiên trở nên chướng mắt không thể tả, sự hiện diện của nó giờ nặng trĩu như một quả tạ xích cứng ngắc vào lương tri làm gã sởn gai ốc.
Gã bối rối, thậm chí chột dạ mà chẳng dám thở mạnh.
Rõ ràng thất thần không ở đây, rõ ràng bọn họ đã yên lặng từ lâu, nhưng tại sao gã lại có cảm giác chính gã đang bị họ phán xét ngay lúc này?
Phải, đúng vậy, đúng thế... Không phải sợ, quái gì gã phải sợ? Kia chỉ là một đứa con nít ranh chứ chẳng phải thất thần. Thật nhục nhã khi gã lại run sợ như thế chỉ vì một đứa trẻ có đôi chỗ kì lạ.
Sau khi tự trấn an, gã quắc mắt cố gắng doạ nạt. “Mày nhìn gì, hả?”
Con bé liền điềm nhiên quay đi, gã thở phào vì nó đã quay đi để gã yên thân. Nó lững thững bước đến trước ông lão, tay chìa ra bông diên vĩ tặng ông. Từ bông hoa thoảng lan ra hương thơm thanh khiết nhàn nhạt, tựa như hương gió của những khu rừng thăm thẳm mà dấu chân con người chưa bao giờ in xuống. Dẫu thế, gã vẫn lén lút quan sát con bé.
Ông lão dùng ống tay áo lau nước mắt, nhẹ lòng nhận lấy bông hoa, mỉm cười hiền hậu. “Cháu ở đâu đến đây? Cháu lấy cái này từ nơi nào vậy?”
Gã mặt nám cười lạnh, chắc lão nghĩ con bé ấy sẽ trả lời. Gã đã chú ý con bé từ sớm, cho dù ai nói gì, làm gì hay hỏi han ra sao, nó vẫn tuyệt nhiên nín thinh như thể miệng đã bị khâu lại. Vì vậy người ta cũng thôi không đả động đến nó.
Đúng như gã đoán, con bé chỉ nghiêng đầu chút ít. Ông lão kiên nhẫn hỏi lại, nhưng rốt cuộc kết quả vẫn như cũ. Gã biết con bé có nghe hiểu các câu hỏi, nhận thức được mọi thứ xảy ra xung quanh, nhưng cách nó hành xử cứ dở dở ương ương thế nào.
Ông lão đột nhiên nín lặng, nhìn kỹ cây thập tự của con bé bằng ánh mắt buồn bã. Ông không chớp mắt, khoé mi ông vẫn đỏ hoe.
“Này cháu, cháu còn tin đúng không?” Ông lẩm bẩm vội vàng. Ánh lửa lắng đọng trong cây thập tự thành một đốm sáng le lói. “Nếu cháu còn tin tưởng vào các ngài, thì tốt quá, dù cho họ, các vị thần chân chính của chúng ta đã không nghe được tiếng khóc than và tru tréo của những con chiên nữa.” Ông lão xoa lên mặt thập tự một cách nâng niu. “Ta lớn tuổi rồi, sợ chẳng gượng được thêm bao lâu.”
Con bé để ông lão chạm vào thập tự một lúc rồi quay về yên vị tại chỗ cũ.
Trời dần trở tối, những đám mây đen chứa một bụng nước bị ghì xuống mặt đất làm bóng đêm lan ra nhanh hơn. Gió giật liên hồi, gào lên như bầy sói đói khát, nhiều người nghe thấy trong đó điệu cười hoang dại. Các túp lều lung lay và rung lên bần bật. Những ngọn lửa trại nghiêng mạnh, tưởng như sắp bị xé nát khỏi đống củi, củi nổ bôm bốp làm tàn tro bay tứ tung, bết vào những gương mặt lo âu. Trong góc tối của khu rừng, tiếng ù ù vang vọng với sự đe doạ liên tục, ngấm ngầm nhưng khủng bố.
Rồi khi sương bắt đầu buông, càng lúc càng dày đặc thì ánh lửa mờ dần, tan vào làn sương đùng đục và chỉ còn chấp chới như lửa ma trơi.
Một số người không giấu nổi vẻ kinh hoàng, họ giục nhau, quát tháo nhau đến khan cả cổ. “Nhanh! Lại đây nhanh! Ném hết cái gì có thể đốt được vào! Tuyệt đối đừng để lửa tắt!”
Gã mặt nám sờ soạng khắp cơ thể. Tuy rằng gã biết mình chẳng còn cái gì có thể giúp lửa cháy lâu hơn vài giây, nhưng gã vẫn sờ, từ dưới đôi giày sờn cũ, lên ống quần, thắt lưng, sau cùng là túi áo trống rỗng.
Cả khu trại tạm bắt đầu nhốn nháo, không một ai dám bén mảng vào rừng tìm thêm củi. Trại ngập mùi khói đắng, tiếng thở hổn hển, tiếng chân thình thịch, và tiếng xé vải xoèn xoẹt cũng như tiếng lửa cháy vội vã. Một thanh niên cởi mũ quăng vào đống lửa, những giọt mồ hôi chảy xuống từ vết hằn đỏ do vành mũ để lại. Anh ta hít thở sâu, tự nói với mình. “Đến chết mất thôi, cái cơn mê sảng điên loạn này... Có lẽ tất cả chỉ là một giấc mơ lố bịch.”
Con chó Greta hướng vào khu rừng sủa nhặng lên. Còn các bà, các cô ôm chặt bọn trẻ vào lòng nép sát vào đống lửa, tuyệt vọng cầu cho mưa đừng rơi. Lũ trẻ ngơ ngác nhìn nhau, và nhìn người lớn đang cuống quýt quanh trại. Không gian âm ỉ tiếng trẻ sơ sinh khóc ré vì tiếng sấm ì ầm lúc gần lúc xa khiến chúng choàng tỉnh, không một ai có thể dỗ nín.
Có thứ gì đó dịch chuyển trong bụi rậm, gã mặt nám thề rằng gã đã nhìn thấy nó. Mặt gã hoá thành màu xám tro, và suýt chút nữa đã hét toáng lên rồi ngã ngửa nếu cái thứ gã vừa thấy không lộ mình. Đó là một con quạ lông đen tuyền, to lớn gấp rưỡi kích thước thông thường. Nó trang nghiêm, không chút ngập ngừng bay tới đậu trước cọc của một túp lều, bóng quạ chập chờn theo ánh lửa điên cuồng. Xưa nay quạ mang tiếng là loài hiểm ác, chuyện nó xuất hiện ở đây với gã mà nói hoàn toàn là điềm gở.
Gã ném đá xua con quạ, chửi đổng. “Quỷ tha ma bắt mày đi!”
Con quạ lách nhẹ tránh viên đá. Nó không mảy may quan tâm đến gã mà quay đầu nhìn con bé tóc đỏ, há miệng kêu bảy tiếng rợn gáy.
Nhưng không chỉ có mỗi con quạ, bên trong bụi rậm còn lồng lên âm thanh ken két như có con thú nào đang cắm móng vuốt vào thân cây cào cấu. Các gốc cây như nhũn ra và tan chảy. Giờ thì ai nấy đều nghe thấy tiếng lõm bõm như tiếng chân người lội qua đầm lầy, sau đó bị lún xuống và sủi bọt ùng ục. Da đầu mọi người tê dại, ngay lập tức chộp lấy mấy con dao cùn và gậy gộc, họ nuốt nước bọt thì thầm. “Cẩn thận. Chúng sắp đến đấy.”
Đúng lúc đó, con quạ bất ngờ hướng về khoảng rừng trống hét váng. Khoảng rừng nhạt nhoà đằng đó không có gì ngoài những vũng nước bùn, mọc lơ thơ mấy ngọn cỏ vàng vọt, cháy sém. Các vũng bùn có cảm giác như rung lên, nổi bong bóng rồi vỡ tan. Ngay khi tiếng kêu vừa dứt, một cậu bé quàng khăn chỉ về nơi con quạ đang nhìn, reo to. “Ánh sáng!”
“Ở đâu?” Người lớn hỏi.
“Ở kia kìa, ánh sáng.” Cậu bé phấn khích lặp lại. Giữa sương mù ướt lướt thướt, hai đốm sáng tròn màu vàng, sát mặt đất, đang từ từ rẽ sương tiến tới như hai mặt trời con. Rồi tiếng ầm ầm vững chắc ở đâu vọng lại, theo sau là tiếng còi kéo dài, trong cái không khí ngột ngạt của khu trại, bỗng trở nên sắc nét hơn bao giờ hết. “Các cô chú hãy nhìn mà xem.”
Người lớn híp híp mắt nhìn cho rõ, gã mặt nám tuy không nghĩ nhiều nhưng cũng ngẩng đầu.
Ai đó mừng rỡ xác nhận. “Chính là đoàn tàu!”
“Chúng cháu đã nói họ sẽ đến.”
Bọn trẻ đua nhau nói, mỗi đứa đều có vẻ tự hào.
“Đó là Thần!”
“Thần không lừa gạt ai cả.”
“Thần nhất định sẽ đưa chúng ta rời khỏi đây.”
Đoàn người tị nạn không phải đợi lâu. Hai đốm sáng lớn dần, con tàu rầm rộ đi tới, đẩy bóng tối lùi về phía sau. Các toa tàu sáng trưng, chiếu rọi cả một vạt rừng. Âm thanh ghê rợn ẩn mình trong bụi rậm chợt tắt ngấm và biến mất không chút dấu vết.
Khi tàu đến gần hơn nữa, mọi người ngạc nhiên vì nhận ra nó chẳng cần đường ray. Đoàn tàu tự tạo ra đường ray. Nó đi tới đâu, đường ray tự xuất hiện đến đấy. Người ta buột miệng trầm trồ: “Thật tuyệt diệu làm sao!”, và nhiều người đang ngồi vật vờ liền tươi tỉnh đứng dậy bước về phía toa xe.
Đoàn tàu giảm tốc và dừng ngay cạnh khu trại. Hàng chục ánh mắt khắc khoải của mọi người ngời lên trong ánh sáng chói loà của các khung cửa kính. Đèn tàu hắt ánh xuống mặt đất, đổ dài những bóng người cao gầy. Gã mặt nám nhổm người dậy, loạng choạng tiếp cận tàu. Hết thảy những gì đang xảy ra tưởng chừng như là một giấc mộng hư ảo không thể nào có được của một thời đại yên bình đã qua. Thực sự có một đoàn tàu, ngay tại đây, ngay tại giây phút mà người ta sắp cạn kiệt niềm tin lẫn sức lực.
Khu trại nín thở chờ đợi, họ thoáng trông thấy qua cửa kính những hình bóng to lớn. Các cánh cửa toa tàu đồng loạt bật mở sau tiếng “xì”, và các hình bóng huỳnh huỵch bước xuống tàu theo trật tự đều đặn, đồng bộ đến mức không có lấy một khe hở. Họ khoác trên người một bộ giáp vàng hực, mũ trụ gắn hai sợi lông vũ che kín đầu và mặt; từ hai vai xuống giữa ngực, mỗi người đều choàng một tấm vải trắng thêu chỉ vàng ép sát vào bộ giáp. Tất cả nện cán giáo xuống đất như sấm rền, lưng thẳng tắp, những mũi giáo lăm lăm chĩa lên trời như một bãi chông thép.
Tại cửa toa tàu thứ hai, một người mặc áo thụng trắng, mặt phủ một chiếc khăn che đi sát nút những kẻ mặc giáp, sau đó đứng trước đoàn người. Bọn trẻ tò mò sấn tới gần nhìn cho kỹ càng, trong khi người lớn lại dè dặt hơn, họ tròn mắt, cứ mải tưởng tượng dưới tấm che đó là vẻ mặt như thế nào.
Gã mặt nám cũng tự có đánh giá của riêng mình. Gã nhớ đến cái thời mà nhà thờ, tu viện vẫn còn sinh khí tấp nập người đi lễ Thánh mỗi chủ nhật. Khi đó, gác chuông bằng đồng bên cây thập tự giá ở mọi nơi chẳng lúc nào ngớt tiếng. Lũ cú chen chúc nhau trên mái vòm nghe giảng kinh. Gã còn nhớ vị linh mục đi ra trong bộ lễ phục có đôi mắt mọng nước, một linh mục khác dáng thấp búi tóc bạc lưa thưa, thêm một người nữa sống mũi to và mặt khó đăm đăm. Không hiểu sao, gã lại gom chung toàn bộ các đặc điểm kia ướm vào người trùm khăn che này, chúng chồng lên nhau thành một khuôn mặt duy nhất.
Nhưng khuôn mặt nhanh chóng mờ dần rồi trở nên xa cách. Gã quên phăng cây thập tự, xoá sổ hình ảnh con cú ra khỏi tâm trí.
“Các vị, đã chịu nhiều cực khổ rồi.” Người trùm khăn che nhẹ giọng. “Ta là lộ sứ quản lý con tàu này, tất nhiên các vị cứ việc gọi ta là lộ sứ. Thuận theo ý chỉ của Thần, bọn ta sẽ hộ tống mọi người đến nơi an toàn. Các vị không cần sợ hãi nữa, chỉ cần có các vệ binh dũng mãnh này, ta đảm bảo sẽ không có bất kì một con ác quỷ nào có thể động vào các vị.”
Bọn trẻ cơ nhỡ hỏi, thay cho cả phần người lớn. “Thần sẽ cho chúng cháu ăn chứ?”
Vị lộ sứ mỉm cười. “Đấy là lẽ đương nhiên.”
“Cho tất cả chúng cháu ạ?”
“Đúng vậy, cho tất cả các cháu."
“Vậy Thần có đuổi chúng cháu đi không ạ?”
“Tại sao các cháu lại nghĩ thế? Hãy dẹp suy nghĩ ngốc nghếch ấy đi nhé. Các cháu cũng sẽ có quần áo mới và chỗ ở mới.” Vị lộ sứ bình tĩnh trả lời. “Các vị, xin mời lên tàu, chúng ta cần lăn bánh trước khi các vị bị mưa làm ướt và trước khi mặt trời sụp hẳn.”
“Thưa ngài.” Cuối cùng có một người trẻ tuổi lên tiếng. “Đoàn tàu này sẽ đưa chúng tôi đi đâu?”
Như thể đã chờ câu hỏi ấy từ lâu, khoé môi vị lộ sứ nhẹ cong lên dưới tấm che mặt. “Đến nơi mà các vị chẳng cần phải lo nghĩ ngày mai phải sinh tồn thế nào. Đó là một vương quốc tươi sáng với cỏ và hoa. Thần sẽ đảm bảo cho các vị, chỉ cần các vị tin tưởng Thần, phép màu sẽ tự khắc tới. Rồi các vị sẽ tận mắt thấy. Được rồi, còn ai có câu hỏi gì nữa không?”
Mọi người nhất trí lắc đầu.
Vị lộ sứ lại nói. “Thế thì các vị không nên chậm trễ nữa. Nào, xin mời.”
Trong chất giọng đanh thép, già dặn của vị lộ sứ có một sức mê hoặc nào đó khiến người ta tin phục. Khu trại trật tự tập trung lại, chẳng ai nói với ai câu nào mà chỉ chăm chăm thu dọn đồ đạc, lấy cái gì cần lấy và bỏ quách lại những thứ vô dụng, ví như là các tấm vải lều rách nát.
Có người lo lắng về những con ngựa và bọn thú vật loe ngoe chỉ còn mấy con, ái ngại rằng những vệ binh sẽ không cho chúng bước chân lên con tàu hoa lệ của Thần vì xú uế. Nhưng hoá ra họ chỉ lo chuyện không đâu, vị lộ sứ bảo vệ binh sắp xếp ổn thoả cho chúng ở một toa riêng, chẳng hề tỏ ra khó chịu. Ông nói không nên bỏ rơi chúng chỉ vì đó là con vật.
Gã mặt nám chen qua đám người trở thành một trong những kẻ lên tàu đầu tiên. Trong toa xe ấm áp như nắng mùa hè. Gã thư thái tìm một chỗ ngồi như vệ binh hướng dẫn, sau đó lơ đễnh nhìn xuống đám người bên ngoài cửa sổ. Đoạn, gã bắt gặp con bé tóc đỏ ngồi xổm một mình ở cuối nhóm người. Con quạ chẳng biết tự lúc nào đã đáp xuống từ cọc lều nhảy nhót vòng quanh con bé, rồi dừng lại ngay trước đôi chân trần của nó. Thập tự sáng loáng trên cổ buông thòng xuống như một nhánh liễu. Con quạ nghiêng cơ thể tới gần, mỏ cắp lấy thập tự rồi lại thả ra.
“Quái thế nhỉ?” Gã tự nhủ. “Bất kể là cái gì đang diễn ra ở đó, thì đều đáng nguyền rủa cả.”
Bẵng đi mấy giây, con quạ đập cánh bay lên chạc cây, rúc mình trong sương và bóng tối. Con bé cũng lên tàu, nghênh ngang vượt qua chỗ gã ngồi rồi mất hút ở cuối toa.
Khi người cuối cùng lên toa xe, những giọt mưa bắt đầu rơi lộp bộp trên nóc tàu. Cơn gió như dã thú đập ầm ầm vào cửa sổ, các đống lửa cháy chậm lại, sau cùng teo thành những đốm bé xíu. Vị lộ sứ chưa vội cho tàu chạy ngay, ông quét mắt khắp toa tàu tìm kiếm ai đó. Lát sau, ông hỏi các vệ binh, với vẻ mềm mỏng thường thấy. “Không còn ai chưa lên chứ?”
Vệ binh đứng nghiêm đáp bằng giọng máy móc, ngắt quãng mà gã mặt nám chưa từng nghe bao giờ, giống hệt như tiếng bánh răng quay lách cách trong chiếc đồng hồ cúc cu. “Thưa lộ sứ, đều lên đủ, không còn ai nữa, chúng tôi, đã kiểm tra, kỹ lưỡng.”
Vị lộ sứ gật đầu. “Tốt lắm, cho tàu khởi hành đi.”
Chẳng ai nghe thấy tiếng còi rít nhưng đoàn tàu đã bắt đầu lăn bánh. Dọc tàu, người người rệu rã tựa lưng vào ghế nhắm nghiền mắt, cho phép thần kinh căng cứng nghỉ ngơi chốc lát. Có kẻ vừa nằm xuống đã thiếp đi ngay, gác tay lên trán gáy ro ro.
Đèn tàu quét nhanh qua mấy nhánh cây loà xoà. Vẫn giữ tầm mắt bên ngoài khu rừng, gã trông thấy con quạ đó, một lần nữa. Nó ở trên cây, ánh đèn đến đúng lúc nó đang cúi xuống, dùng mỏ xé toạc thứ gì đó. Thoạt tiên, gã nghĩ rằng kia chỉ là một con chim hay con chuột xấu số. Nhưng khi nhìn kỹ lại, gã nhận ra cái thứ dài ngoằng trong mỏ con quạ chính là một dải ruột, một nửa vẫn còn chôn trong thân cây. Trên dải ruột nổi cộm lên những khuôn mặt người la hét và vặn vẹo, hệt như những linh hồn hiểm độc bị dìm xuống vạc dầu sôi dưới địa ngục.
Con quạ thản nhiên nuốt chửng dải ruột. Rồi nó xoay sang đoàn tàu, cái đầu ngúc ngắc cười cợt. Mắt quạ mở to. Con ngươi cháy lửa tím. Nó đang nhìn.
Sét giáng xuống một cú nổ chát chúa. Loáng cái, bóng dáng con quạ đã mất tăm. Ắt hẳn chỉ là ảo giác, gã thầm nghĩ, vì dù gì gã cũng đang mệt, mà sự mệt mỏi thường khiến người ta hoang tưởng. Hay là, gã mặt nám bỗng bồn chồn, thứ đó chẳng lẽ thật chính là chúng – bọn ác quỷ? Nếu như đoàn tàu không đến kịp thì kẻ bị nghiến ngấu bên kia phải chăng sẽ là gã và tất cả những người ở đây? Gã rùng mình, tức thì quay ngoắt đi, dứt khoát không nhìn nữa.
Rừng cây lùi về phía sau thành những mảng đen kịt. Đoàn tàu vụt ngang ngôi làng đổ nát phía Đông và lạnh lùng vượt mặt cây thập tự gãy, cái xác cú thối rữa vẫn không xê dịch gì kể từ lần cuối gã thấy, thậm chí tình trạng còn thê thảm hơn trước.
Gã mặt nám trượt dài người trên ghế, cơn buồn ngủ ập tới bất ngờ. Mí mắt gã nặng trĩu, có cảm giác sắp không nhấc lên nổi nữa.
Chợt, một cô gái với mái tóc xám tro lách ngang gã. Vào lúc cô ấy nói “Thứ lỗi”, rồi xin mọi người cho mình đi qua, tầm mắt gã vô ý dừng lại trên cô gái. Ở người này không có điểm nào giống những cô gái tị nạn gã biết, mà mặt họ thường trông giống nhau: gò má gầy, môi tái và làn da lấm bụi đôi chỗ. Còn người trước mặt gã lại có vóc dáng thanh thoát và cân đối. Nước da sáng, với con ngươi lanh lợi như nhựa cây hoá thạch, toát ra vẻ quyết đoán. Sâu trong ánh mắt có nhiều nét tương đồng với con bé kì quặc kia.
Gã mặt nám ngây người. Chẳng biết vì đâu, hoặc có thể do gã nhầm lẫn, nhưng cô gái này mang theo mùi hương của gió, và của bông diên vĩ trắng.
2 Bình luận