Tập 01

Chương 3.1: Tiếng vọng thiên đường

Chương 3.1: Tiếng vọng thiên đường

Sau khi tan học, tôi hẹn gặp Rinko ở chân cầu thang dẫn lên sân thượng tòa nhà phía bắc trường. Hầu như không có ai lên đây cả, do đó nơi này rất bụi bặm, đầy mùi ẩm mốc và tối tăm. Rinko đã đứng đợi tôi sẵn với vẻ mặt đầy cáu kỉnh.

“Tại sao cậu lại gọi tôi đến cái chỗ này?”

“Thật ra là tôi có xin Hanazono-sensei cho sử dụng phòng âm nhạc, nhưng cô ấy nói rằng tôi nên lên sân thượng để làm cái ‘trận đấu vớ vẩn’ đó.”

“...Trận đấu?”

Tôi gật đầu rồi lách qua cô ấy để lên cầu thang. Tôi mở khóa cánh cửa dẫn lên sân thượng rồi vặn nắm cửa lại. Những tia nắng rực rỡ xua tan đi vẻ âm u khi cánh cửa cọt kẹt mở ra, theo sau đó là một làn gió dễ chịu mang theo mùi cỏ dịu nhẹ.

Mặt sân thượng lộng gió gần như trống trải, chỉ có những loài cỏ dại không tên mọc lên từ những kẽ nứt của lớp vữa, bao lấy nền bê tông xám xịt bằng những mảng xanh. Ngay chính giữa cái không gian ấy là một cây synthesizer[note91808] nằm lẻ loi trên giá đỡ kim loại bốn chân đơn giản. Chẳng có gì khác ở đây ngoài bầu trời tháng Năm trong vắt, rực rỡ trải dài vô tận phía bên lan can rìa tòa nhà.

Trong lúc ấy, Rinko vẫn đứng lặng người nơi khung cửa, ánh mắt dán chặt vào cây synthesizer. Tôi không để tâm đến cô ấy, cứ thế nối chiếc synthesizer bằng sợi dây nguồn dài loằng ngoằng dẫn tận xuống ổ cắm ở tầng bốn rồi nhấn nút khởi động. Màn hình LCD màu xanh chạy dòng thông báo khởi động trong khi cây synthesizer khẽ rền vang.

“Cái gì vậy.” Rinko tiến lại nhìn.

“Đó là một chiếc synthesizer đời cũ, EOS B500.”

“Nó có cả loa cơ à, hiếm thật.”

Cô ấy khẽ lướt ngón tay quanh viền chiếc đĩa đen lớn trên thân đàn. Thông thường synthesizer không được tích hợp sẵn với loa, chúng cần phải được kết nối với loa ngoài và amplifier mới có thể phát ra âm thanh. Thế nhưng, mẫu Yamaha EOS này được phát triển dựa trên ý tưởng rằng người dùng có thể chơi nhạc mà không cần thêm bất kỳ phần cứng hỗ trợ nào. Và đây chính là kết quả: một thiết bị độc lập có khả năng tạo ra những âm thanh mạnh mẽ. Chính vì vậy mà chiếc EOS này nặng hơn nhiều so với loại thông thường, và việc vác nó từ nhà đến trường với tôi thật sự là một cực hình.

“Được rồi, vậy bây giờ làm gì vậy? Cái trận đấu mà cậu nhắc tới rốt cuộc là như nào thế?”

Rinko hỏi với vẻ mặt mất kiên nhẫn, vì thế tôi lấy bản nhạc từ trong cặp ra đưa cho cô ấy.

Đó là một bản nhạc ngắn, chỉ có vỏn vẹn hai trang giấy và mất tầm ba phút để tấu lên. Tôi nín thở, căng thẳng dõi theo ánh mắt cô khi cô ấy đang đọc các khuông nhạc.

“Thì, ừm đây là bản Overture số 6 cung La thứ của nhà soạn nhạc người Ukraine, Igor Medvedev. Người ta kể rằng ông ấy đã viết bản nhạc này khoảng một tháng trước khi đột ngột qua đời trong cuộc Cách mạng Nga-”

“Đây là bản nhạc do Murase-kun sáng tác đúng không?”

Cô ấy nhìn thấu lời nói dối của tôi chỉ trong nháy mắt, khiến mắt tôi như xoay ngược chiều kim đồng hồ đến ba vòng vì kinh ngạc, trước khi tôi cố rặn ra một tiếng ho khan để chữa đi sự ngượng ngùng.

“Không, tôi đã bảo là của một nhà soạn nhạc người Ukraine viết mà.”

“Cậu biết thừa là gần đây tôi chỉ đọc những bản nhạc do cậu viết thôi đấy? Thực sự cậu nghĩ tôi không thể nhận ra người sáng tác bản nhạc này sao Murase-kun? Tại sao cậu lại phải nói dối?”

“...Tha lỗi cho tôi nhé.” Tôi xin lỗi cô ấy, bởi đúng như cô ấy nói, toàn bộ câu chuyện kia đều do tôi tự thêu dệt nên, chẳng hề tồn tại nhà soạn nhạc người Ukraine nào cả.

“Được rồi, thế thì sao nào? Cậu lại muốn tôi chơi một bản nhạc khác rỗng tuếch, vô hồn này của cậu nữa à?”

“Cậu tự tin rằng có thể chơi được nó chứ?”

“Nếu đây là tất cả những gì cậu làm được, thì…..” Rinko đang đọc dở bản nhạc thì đột ngột khựng lại, mắt dán chặt vào góc dưới bên phải tờ giấy.

“...Cái đoạn tremolo kinh khủng ở phần coda[note91807] này là sao đây?”

Tôi giải đáp cho cô ấy với một cái gật đầu đắc thắng.

“Đó mới là phần hay nhất của cả bản nhạc đấy.”

“Làm sao cậu có thể chơi nổi cái đoạn tremolo bốn nốt trải dài ở quãng tám trong cái nhịp độ này chứ? Cậu cứ ném bừa bãi những chuỗi nốt nhạc mà con người không thể chơi nổi lên synthesizer rồi lấy làm vui à?”

“Thế mà tôi chơi được đấy.”

Đôi mắt Rinko mở to đầy ngạc nhiên trước khi nheo lại đầy nghi hoặc. Nhưng đó là phản ứng nằm trong dự tính của tôi rồi. Đây là một đoạn tremolo bốn nốt bắt đầu bằng hợp âm A-E-A rồi nhảy cao hơn bốn nốt để lên hợp âm D-A-D. Người nghệ sĩ piano không chỉ phải xòe rộng bàn tay phải để chạm tới quãng tám mà còn phải nhảy cực nhanh giữa hai hợp âm, đánh chúng vang lên như tiếng chuông ngân. Đây là đoạn nhạc mà ngay cả Chopin, Liszt hay Rachmaninoff cũng không thể chơi được. Vậy nhưng tôi lại tuyên bố mình chơi được.

“Cậu nói xạo vừa thôi.”

“Tôi nói thật mà. Và đây chính là trận đấu của chúng ta: nếu cậu không thể chơi nó và tôi có thể làm được thì tôi thắng.”

“Trận đấu của chúng ta? Sao cậu lại quan trọng cái chuyện này thế? Nó có ý nghĩa gì chứ?”

Tôi quan sát sắc mặt Rinko trong khi chọn lựa từ ngữ tiếp theo.

“Chẳng phải tôi đã nói rồi sao? Cậu cứ mãi đệm đàn cho lớp thì phí hoài tài năng quá. Do vậy nếu tôi thắng, cậu sẽ phải chơi một bản nhạc do tôi chọn. Cậu phải chơi nó một cách thật nghiêm túc, ngay tại đây, trên chiếc synthesizer này.”

Rinko thở dài thườn thượt, đôi mắt trĩu xuống.

“Và? Tại sao tôi phải tham gia vào cái trận đấu này của cậu?”

“Nếu cậu thắng, tôi sẽ thay cậu đệm đàn trong mọi sự kiện của trường từ nay về sau luôn.”

Vẻ mặt của Rinko thay đổi rõ rệt ngay khi nghe thấy điều kiện đó. Vì chúng tôi phải hát trường ca vào mỗi buổi lễ khai giảng hay bế giảng hàng kỳ, nên dĩ nhiên lúc nào cũng cần có người đệm nhạc. Chưa kể còn bao nhiêu sự kiện khác như lễ nhập học, lễ tốt nghiệp, hay các cuộc thi hợp xướng, gần như buổi tập trung toàn trường nào cũng cần đến. Trách nhiệm này đáng lý ra thuộc về Hanazono-sensei, nhưng có vẻ vì thấy quá phiền phức nên cô ấy đã đùn đẩy hết sang cho Rinko. Và rõ ràng là cô nàng ghét cay ghét đắng cái việc đó.

Nói cách khác, đây là một lời đề nghị đủ hấp dẫn để cô ấy phải xiêu lòng và tôi tin chắc là cô ấy sẽ đồng ý.

Sau một hồi cân nhắc, cuối cùng Rinko cũng cất lời.

“Tôi không rõ điều kiện thắng thua thế nào, nhưng tóm lại là... nếu tôi không thể chơi được bài này mà Murase-kun lại làm được thì cậu thắng, đúng không? Còn lại mọi trường hợp khác đều là tôi thắng?”

“Chốt vậy nhé.”

Nói cách khác, dù là cả hai cùng chơi được hay cả hai đều thất bại, thì phần thua vẫn thuộc về tôi. Với luật chơi như vậy, rõ ràng là Rinko đang nắm lợi thế tuyệt đối.

“...Đừng nói với tôi là cậu cất công vác cả cây synthesizer đến đây chỉ để bật file nhạc sẵn rồi vỗ ngực bảo mình không đánh sai nốt nào đấy nhé?”

“Tôi không làm cái trò đó đâu. Tôi sẽ tự mình chơi từ đầu đến cuối.”

Rinko cúi xuống nhìn chằm chằm vào bản nhạc trên tay, ánh mắt sắc lẹm như thể muốn đâm thủng trang giấy vậy. Chắc hẳn cô ấy đang nhẩm lại bản nhạc trong đầu. Tai tôi chỉ còn loáng thoáng nghe thấy tiếng hô chạy bộ từ xa của đội bóng chày, tiếng kèn tuba vang lên uể oải từ phòng tập nhạc, và cả tiếng rít cơ khí của những cánh tay robot đang vận hành trong nhà máy phía bên kia cổng trường.

Cuối cùng, Rinko đưa trả bản nhạc cho tôi. Cứ ngỡ cô ấy sẽ từ chối cái trận đấu ngớ ngẩn này, cảm giác tuyệt vọng đã bao trùm lên tâm trí tôi thì đột nhiên cô ấy lên tiếng:

“Không có giá để nhạc, vậy nên cậu cầm hộ tôi đi.”

Tôi hăm hở bước sang phía bên kia bàn phím, giơ bản nhạc lên cao sao cho cô ấy dễ nhìn nhất. Chỉ mới qua bốn ô nhịp, tôi đã hoàn toàn quên bẵng đi đây là một trận đấu rồi. Bản nhạc Rinko đang chơi chẳng còn giống một tác phẩm do tôi viết ra nữa, nó thực sự mang âm hưởng và linh hồn của khúc thiên nga từ một nhà soạn nhạc bị hành quyết trong cuộc Cách mạng Nga: những đoạn rải arpeggio[note91810] thoáng qua ở âm vực cao lung linh tựa như những giọt máu vương lên trên nền tuyết trắng, trong khi tiếng bass mạnh mẽ vang vọng lại giống như những phát súng xuyên qua thân thể các nàng công chúa Nga. Bản nhạc ấy cứ thế chậm rãi trôi đi, kể lại tấn bi kịch nhưng tuyệt nhiên không một chút nào oán hận hay xót thương.

Và rồi khi Rinko đột ngột dừng tay lại sau khi vừa kết thúc đoạn cao trào dồn dập đầy phấn khích để quay về giai điệu chính, cảm giác thất vọng tràn trề bao trùm lấy tôi, khiến suýt chút nữa thì tôi làm rơi cả bản nhạc trên tay. Dù bản nhạc này tôi soạn ra để dẫn tới kết quả này, nhưng tôi lại cảm thấy hụt hẫng khi mọi chuyện diễn ra đúng y như mình dự tính.

Rinko rời mắt khỏi bản nhạc, khẽ lắc đầu.

“...Chịu rồi, biết ngay là không thể mà. Tôi cứ ngỡ vì phím đàn này nhẹ hơn đàn piano thường nhiều nên mình có thể lướt ngón kiểu glissando[note91809], nhưng rốt cuộc vẫn không thể tránh khỏi đánh phải những nốt thừa ở giữa….”

Tôi khẽ thở phào nhẹ nhõm.

Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!

Ghi chú

[Lên trên]
Coda: là đoạn kết thúc của một bản nhạc
Coda: là đoạn kết thúc của một bản nhạc
[Lên trên]
Synthesizer: là một loại nhạc cụ điện tử có khả năng tạo ra, tổng hợp và biến đổi âm thanh thông qua việc xử lý các tín hiệu điện
Synthesizer: là một loại nhạc cụ điện tử có khả năng tạo ra, tổng hợp và biến đổi âm thanh thông qua việc xử lý các tín hiệu điện
[Lên trên]
Glissando (gạt âm/lướt âm): là kỹ thuật âm nhạc tạo ra âm thanh trượt nhanh, mượt mà giữa các nốt nhạc cao và thấp
Glissando (gạt âm/lướt âm): là kỹ thuật âm nhạc tạo ra âm thanh trượt nhanh, mượt mà giữa các nốt nhạc cao và thấp
[Lên trên]
Arpeggio (hay hợp âm rải) là kỹ thuật âm nhạc trong đó các nốt của một hợp âm được chơi lần lượt từng nốt một (theo chiều lên hoặc xuống) thay vì vang lên đồng thời cùng lúc
Arpeggio (hay hợp âm rải) là kỹ thuật âm nhạc trong đó các nốt của một hợp âm được chơi lần lượt từng nốt một (theo chiều lên hoặc xuống) thay vì vang lên đồng thời cùng lúc