Tập 1: Khởi Nguồn

Chương 02: Chuẩn Bị

Chương 02: Chuẩn Bị

aecc3908-2102-49b3-a959-c044d2bd4937.jpg

Tuy Hội An phồn hoa náo nhiệt như vậy nhưng cách nơi này không xa, chỉ một ngày đường lại là một khung cảnh trái ngược hoàn toàn. Một xóm lao động nghèo, nghèo đến nỗi mà mỗi khi mặt trời vừa xuống núi cũng là lúc nơi đây xuất hiện một cảnh tượng tang thương mà có lẽ ai chứng kiến đều phải bàng hoàng, chua xót.

Trong bóng chiều nhá nhem tối lần lượt xuất hiện những tiếng kêu ai oán, nhưng khuôn mặt hốc hác. Rồi những thân thể chỉ còn da bọc xương đang lết đi những bước nặng nề tiến vào làng. Tất cả như những cái xác vô hồn, những bóng ma không lối thoát. Lẫn khuất trong dòng người đói rách đó, có một lão đạo sĩ. Trong cái không gian thê lương như vậy, không ai để ý đến lão và cũng chả ai ở đây cần quan tâm đến việc có một lão đạo sĩ đến đây làm gì. Khác với những nạn dân đói khát kia, trước khi vào làng ông ta đã quan sát kỹ xung quanh không thấy gì bất thường rồi mới bước vào trong. Nhìn kỹ ra thì lão đạo sĩ này không phải là ai khác mà chính là Lão Trần.

Lão Trần? chẳng lẽ ông ta sống ở đây?

Trong một cái hẻm nhỏ của ngôi làng, lão đạo sĩ đang dần gỡ bỏ lớp trang phục đã bạc màu xuống cùng với đó là cả bộ râu và tóc giả. Thì ra ẩn trong lớp trang phục đạo sĩ già nua của một ông lão bảy mươi tuổi lại là một chàng thanh niên khôi ngô tuấn tú, cao gần bốn thước, thân thể rắn chắc.(1)

Lão đạo sĩ thực ra tên thật Trần Long năm nay hai mươi sáu tuổi là người của thôn làng này, tổ tiên là người phủ Thanh Hoa về sau di cư vào trấn Quảng Nam sinh sống. Vậy tại sao Trần Long lại giả dạng làm đạo sĩ? Tại sao lại đến xem phong thủy, trừ tà cho Lý Bá và kỳ lạ hơn là lại không lấy tiền?

Thực ra Trần Long vốn là một thanh niên đầy nhiệt huyết và nghĩa khí nhưng cũng có một cuộc đời đầy thăng trầm và trắc trở.

Nhiều năm về trước có một cậu bé được sinh ra trong một xóm lao động nghèo gần thương cảng Hội An. Cuộc sống ở tuy khó khăn về vật chất nhưng chưa bao giờ thiếu nụ cười và tình thương yêu mà mọi người dành cho nhau. Tuổi thơ của cậu cứ thế trôi qua trong sự yêu thương của cha mẹ và đùm bọc của xóm làng. Nhưng rồi một tai họa đã ập đến, năm cậu bé lên tám tuổi một trận đại dịch hạch đã diễn ra. Những cái chết cứ thế lần lượt kéo đến, cả một xóm làng đang yên vui bỗng nhiên trở thành hoang tàn với một bầu không khí chết chóc. Cậu và nhiều đứa trẻ khác trong xóm phút chốc đã trở thành những đứa trẻ mồ côi không chốn dung thân.

Cuộc sống không nơi nương tựa với một đứa bé mười tuổi thật không hề đơn giản, cái đói, cái khổ luôn đeo bám dai dẳng không buông. Để có thể làm cái bụng thôi không réo gọi thì những đứa trẻ như cậu phải đi xin đồ bố thí và nhận chân “chạy vặt” từ các ông chủ ở bến cảng. Nhưng thực tế không phải ngày nào cũng có đồ bố thí, còn để có được chân “chạy vặt” thì đó cũng là một cuộc chiến tranh giành rất khốc liệt. Phần lớn những công việc tốt thì thường rơi vào tay những đứa lớn tuổi khỏe mạnh hơn, còn những đứa nhỏ chỉ còn biết nhặt đồ thừa người ta bỏ đi mà ăn, ấy thế mà cơm thừa, canh cặn cũng phải tranh nhau, thậm chí là tranh với cả chó. Để sống được trong môi trường như vậy, từ đó cậu thường xuyên phải đánh nhau, trộm cắp và rồi mỗi lần thất bại sẽ là những trận đòn roi “thừa sống thiếu chết” chờ đợi.

Thời gian cứ thế trôi đi cho đến năm cậu bé lên mười hai tuổi cuộc đời của cậu bất ngờ rẽ sang một hướng khác, mà có lẽ nằm mơ cậu cũng không dám nghĩ tới. Hôm đó vào một buổi chiều tối muộn, cậu đang lang thang ở bến cảng với các bụng đang réo òng ọc. Đã mấy ngày hôm nay không có gì ăn, đúng lúc đó cậu nhận thấy một vị khách khoảng ngoài năm mươi tuổi đang từ bến cảng đi vào, nhìn kỹ trang phục thì giống người Hoa. Cậu nhanh chóng bám theo để tìm cơ hội tiếp cận, rồi thừa lúc vị khách không để ý đã giả vờ va chạm và nhanh tay thó lấy túi tiền rồi chuồn vào ngõ nhỏ.

Một lúc sau:

Trong một góc khuất, cậu bé đang hí hửng một mình kiểm tra “chiến lợi phầm” mới có được thì bổng có một giọng nói phía sau vang lên:

- Thế nào? Kiếm được nhiều không?

Cậu ta vẫn đang vui vẻ đếm tiền, không chú tâm đến người hỏi, vội đáp:

- Cũng kha khá, chắc no được mấy hôm!

Nói xong như sực nhớ ra điều gì, cậu liền quay lại nhìn lại. Sắc mặt như trắng ra, đinh bỏ chạy, nhưng đã quá muộn. Một bàn cứng như thép nguội đã chụp lấy vai khiến cậu đau đớn quằn quai. Thì ra chính là vị khách người Hoa lúc nãy.

- Ăn trộm đồ của người khác thật là đáng tội lắm. Nhóc con ngươi nói xem, ta có nên cho ngươi một trận rồi báo quan phủ không?

Tuy đã bị “chiếu tướng” nhưng cậu vẫn dõng dạc nói:

- Đã bị bắt lại, ông muốn xử lý thế nào thì tùy, không cần nói nhiều

Vị khách người Hoa cười lớn:

- Ha … ha …ha!

- Ta có lời khen cho ngươi đấy, lấy được đồ trong túi của ta không phải chuyện dễ, lại còn khá gan dạ. Nhà của ngươi ở đâu? Trong nhà còn ai không?

Cậu bé đáp:

- Không còn nhà, cha mẹ chết cả rồi.

Vị khách lại nói:

- Ta cũng không phải là loại người thích hành hạ trẻ con, ta cho ngươi hai cơ hội để lựa chọn.

Cậu vội vàng nói:

- Muốn thương lượng gì thì trước tiên ông phải bỏ tay ra đã chứ!

Sau khi được thả ra cậu xoay xoay cái bả vai đau nhức rồi nhìn thẳng vào vị khách nói:

- Được rồi ông đưa ra hai lựa chọn ấy đi.

Vị khách người Hoa cúi xuống nhìn cậu bé rồi chậm rãi nói:

- Lựa chọn đầu tiên đó là: Ta sẽ thả cho ngươi đi bình an, người có thể giữ lại số tiền đó!

Cậu vô cùng ngạc nhiên:

- Thả ta đi? Không lấy tiền?

Vị khách ra vẻ nghiêm túc:

- Đúng vậy, không lấy tiền, không báo quan.

Cậu ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:

- Vậy còn lựa chọn thứ hai?

Vị khách lại cười lớn rồi nói:

- Khá khen! Khá khen! Lựa chọn thứ hai của ngươi là: Ngươi đi theo ta. Nhưng mà sẽ không hề sung sướng, thậm chí còn có thể nguy hiểm đến tính mạng. Ngươi hãy suy nghĩ cho kỹ.

Cậu bé trầm tư suy nghĩ một lúc, rồi cúi xuống nhặt túi tiền rơi trên đất đưa cho vị khách:

- Tôi đi theo ông!

Vị khách người Hoa lại tiếp tục cười lớn:

- Khá khen, khá khen! có bản lĩnh!

Mà tiểu tử ngươi tên là gì?

Cậu bé trả lời:

- Nguyễn Tiếu, Cha mẹ đặt cái tên này cho tôi với mong muốn tôi luôn luôn được vui vẻ. Còn giờ thì bọn trẻ trong phố đều gọi tôi là “chàm đỏ”.

Vị khách lại hỏi:

- Tại sao lại gọi là “Chàm đỏ”?

Cậu bé không nói gì, chỉ lấy tay phanh áo ra để lộ một vết chàm đỏ ngay giữa ngực.

Vị khách trầm ngâm một lúc rồi nói tiếp:

- Cái tên này không hay lắm, từ nay ta là sư phụ của ngươi, ngươi là đệ tử của ta. Ta họ Trần, ta sẽ chọn cho ngươi một cái tên khác. Năm nay là năm con rồng(2), vậy nên ta lấy tên ngươi là Long, từ nay về sau gọi là Trần Long. Nhưng mà nên nhớ có ai hỏi thì bảo là Long (隆) trong nghĩa “hưng thịnh” chứ không phải rồng, kẻo lại mất đầu đấy. Đã nhớ rõ chưa?

Cậu bé vội vàng đáp:

- Đã hiểu! đã hiểu!

Vị khách bổng nghiêm giọng:

- Còn không mau gọi sư phụ?

Cậu vội quỳ sụp xuống:

- Trần Long xin bái kiến sư phụ!

Trần sư phụ cười sảng khoái:

- Ta quả không nhìn lầm người!

Rồi ông đỡ đệ tử đứng dậy.

Trần sư phụ trước kia vốn là một thầy phong thủy tinh thông y thuật, địa lý, tướng số, võ thuật. Nay vì có nạn Nữ Chân ở bên Trung Hoa mà phải lánh nạn sang nước ta đã mấy năm nay và trở thành một thương gia buôn bán.

Từ đó Trần Long theo sự phụ đi khắp nơi lúc thì ở Bắc Hà, lúc về xứ Chiêm Thành, khi lại xuôi thuyền đi Chân Lạp, Nam Dương, Thiên Trúc rồi lại ngược lên miền Quảng Đông, Phúc Kiến để mua bán tơ lụa và cổ vật. Cuộc sống lênh đênh nay đây mai đó cùng với sư phụ tuy vô cùng khổ cực và gặp nhiều nguy hiểm nhưng cũng giúp cậu mở mang đầu óc, tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện bản thân để có được một Trần Long tài giỏi, nghĩa khí và can trường như hôm nay.

Vốn khi xưa xứ Quảng Nam từng là kinh đô Simhapura của nước Lâm Ấp cổ đại. Simhapura còn được gọi là kinh đô Sư Tử, được xây dựng dưới thời vị vua Lâm Ấp Bhadravarman. Đây đã từng là một đô thành rất thịnh vượng vào khoảng thế kỷ thứ VI, là điểm kết nối trung chuyển của tuyến giao thương đường biển Ba Tư –Thiên Trúc - Phù Nam - Nam Dương – Trung Hoa. Nhiều thương gia thường cập bến ở đây để trao đổi hàng hóa, bổ sung vật tư trước khi hành trình lên phía bắc đến Trung Hoa hoặc đi về phía nam tới Thiên Trúc. Về sau nước Lâm Ấp tan rã, kinh đô này cũng dần dần rơi vào dĩ vãng. Năm xưa khi sư phụ của Trần Long đi qua đây ngắm nhìn địa thế đã khẳng định rằng dưới chân núi này có mộ cổ ngàn năm tuổi. Ngôi mộ này có quy mô không hề nhỏ, chí ít cũng là của bậc tướng quân, vương hầu. Tuy vậy sư phụ cũng dặn anh rằng không đến mức cấp bách thì không được động vào. Việc đào mồ quật mả không phải là việc vẻ vang gì mà còn có thể thể mang họa vào thân, tổn hại đến âm đức.

Hai năm trước sau khi sư phụ gặp nạn rồi mất trên biển Chân Lạp, Trần Long phải một mình trở lại trấn Quảng Nam sống ẩn dật trong một xóm dân cư nghèo. Mấy năm gần đây ở xóm nghèo nơi anh sống và khu vực xung quanh thường xảy ra ôn dịch khiến rất nhiều người chết. Sau dịch bệnh thì là thiên tai rồi mất mùa đói kém khiến cho tình trạng càng là thê thảm thêm, trong khi đó “phụ mẫu” địa phương thì chả mấy ai quan tâm đến con dân của mình đang sống những ngày trong địa ngục. Trần Long vốn là người tính tình cương trực, ngay thẳng thấy nguy nan thì không thể nhắm mắt làm ngơ. Tuy có lòng muốn cứu giúp nhưng đứng trước tình cảnh “thiên địa tuyệt tình” này muốn đưa được mọi người vượt qua được tai kiếp không phải là chuyện dễ dàng. Những gì có thể làm được thì Trần Long đều đã làm, từ việc trực tiếp bốc thuốc chữa trị cho người dân bị bệnh cho đến việc bỏ hết tiền của ra mua gạo nấu từng bát cháo cho những người tha hương đói khát. Đến ngay cả chiếc ngọc bội “Nhật Nguyệt” là tổ truyền bốn đời của gia đình và ấn hộ thân “mắt rồng” của sư phụ để lại, Trần Long cũng đã phải dứt lòng bán đi để cứu người. Nhưng có lẽ vì “thiên địa vô tình” nạn dân ngày càng một nhiều khiến cho tất cả công sức của anh chỉ như là “muối đổ bể”.

Nhưng với tấm lòng hào hiệp, trượng nghĩa, một thân đầu đội trời chân đạp đất Trần Long đâu dễ dàng đầu hàng số phận. Nhớ đến lời “cấm kỵ” mà sư phụ năm xưa nhắc đến, anh đã hạ quyết tâm hành động:

- Vì thôn dân, liều một phen cũng đáng lắm!

Vậy là anh đã quyết định bằng mọi cách phải “quai khật”(3) ngôi mộ cổ này lấy đồ bồi táng cứu tế dân nghèo. Nhưng vì khu đất có mộ cổ ngàn năm đã bị Lý Bá mua và xây nhà trên đó nên nhiều lần anh định ra tay động thủ mà đều không được. Gần đây nhà gã xảy ra tại họa chết người, khiến hắn phải chuyển đi nơi khác. Nhận thấy cơ hội đã đến Trần Long liền lên kế hoạch “quai khật” ngôi mộ cổ này. Tuy biết nơi đó có mộ cổ nhưng mà không phải muốn động thủ là động thủ được ngay, mà cần phải xác định được chính xác vị trí ngôi mộ và lối vào ở đâu. Để có thể “quang minh chính đại” tiếp cận xem xét kỹ địa thế ngôi cổ mộ mà không bị người ta nghi ngờ, thì anh đã nghĩ ra một kế sách rất chu toàn. Theo thông tin thu thập được thì Trần Long biết Lý Bá đã chuyển về nhà mới, anh liền đóng giả thành một lão đạo sĩ tìm đến nhà gã. Đợi lúc gã từ bến cảng trở về thì anh vờ như vừa đi qua cổng rồi ho hắng mấy câu “Nhà này vừa có tai họa, âm khí nặng nề” cốt là để cho gã họ Lý nghe thấy. Đúng là trời không phụ lòng người, bằng tài ăn nói và hóa trang của mình, Trần Long đã khiến cho Lý Bá “cắn câu” mà không mảy may một chút nghi ngờ.

Hầu hết các ngôi mộ trong núi đều được xây dựng theo bố cục “tựa sơn đạp bể”, mộ cổ ngàn năm ở đây cũng không nằm ngoài bố cục đó. “Tựa sơn đạp bể” tức là mộ sẽ xây dựng lưng dựa vào núi, mặt hướng ra biển và đó cũng hướng đặt của quan quách người chết. Cách xây dựng này thể hiện mong muốn cho người đã khuất có thể kê cao gối mà yên nghĩ giấc ngàn thu. Phía tả và hửu khu đất có hai ngọn núi chạy dài theo thế vòng cung giống như hai cánh tay bảo vệ ôm trọn lấy, vì vậy chắc chắn rằng ngôi mộ sẽ nằm chính giữa tâm của cánh cung đó. Mà tâm của cánh cung hợp thành từ hai ngọn núi lại chính là tòa nhà của gã họ Lý. Dựa vào quan sát của mình trong quá trình xem xét ngôi nhà, Trần Long đoán chắc rằng cửa vào mộ cổ nằm ở gian phòng thờ trung tâm của ngôi nhà. Trước khi rời đi anh đã quan sát rất tỉ mi và ghi nhớ bố cục của gian phòng này để tiện cho hành động về sau.

Điều mà anh bất ngờ nhất khi vào nhà của Lý Bá đó là việc nơi này đã bị trấn yểm cực kỳ hiểm độc. Trong các thuật mà anh được sư phụ truyền lại có thuật về phù thủy. Tuy nhiên anh chỉ được học về phong thủy và nhận biết trận pháp để phòng thân chứ không được học về cách thi triển bùa chú, trấn yểm cũng như là cách phá giải. Sư phụ anh cho rằng thuật phù thủy là thuật rất hiểm độc, tổn hại đến công đức, không nên biết quá nhiều. Việc nơi có cổ mộ bị trấn yểm không phải là chuyện lạ, cái kỳ lạ ở đây không phải ngôi mộ dưới lòng đất bị trấn yểm mà chính là ngôi nhà mới xây chưa được hai năm kia. Có thể có ai đó cũng đã để ý đến ngôi mộ cổ này, nhưng không ngờ sau đó mảnh đất này đã thuộc về tay Lý Bá và gã đã cho xây nhà trên đó. Vậy nên kẻ này yểm bùa lên nhà của Lý Bá để gã phải bỏ đi, dù thế nào đi chăng nữa thì đây là một phù thủy rất cao tay nhưng cũng hết sức tàn độc, vì đạt mục đích mà không tiếc rẻ mạng người.

Sau một hồi suy nghĩ, Trần Long liền quyết định: Không thể suy tính quá nhiều được, đành phải mạo hiểm. Chọn ngày không bằng đúng ngày! Ngay sáng sớm hôm sau sẽ xuất pháp đến chiều tối là tới nơi và đúng nửa đêm khi trăng đã lên thì sẽ tiến hành khai quật mộ cổ. Đây là lần đầu tiên Trần làm một việc hệ trọng như vậy mà không có sư phụ bên cạnh, trong lòng anh không khỏi thấy thấp thỏm lo âu. Anh thắp ba nén hương lên bàn thờ của cha mẹ và sư phụ, chắp tay khấn vái:

- Con không dám quên đi lời dặn dò của thầy, lần này con quyết tâm hành động không phải vì lợi lộc của bản thân mà vì muốn cứu tế dân chúng đang trong hoạn nạn. Thầy và cha mẹ trên trời có linh thiêng xin hãy phù hộ cho con!

Như được tiếp thêm sức mạnh, Trần Long cảm thấy mình đã vững dạ hơn, không còn lo âu nữa, anh tiến hành chuẩn bị những vật dụng cần thiết để mang theo. Thứ Đầu tiên anh mang theo khi đi đào mộ đó là một chiếc xẻng chuyên dụng có hai đầu: một đầu chuyên để đào đất, đầu còn lại có phần mũi nhọn chuyên dùng để đục tường. Tiếp đến là một chiếc la bàn nhỏ dùng để xác định phương vị, đây đều là những vật dụng không thể thiếu. Đào mộ cổ là một công việc ẩn chứa tiềm tàng vô vàn mối nguy hiểm vì vậy không thể không mang theo vũ khí phòng thân. Như thường lệ lần này Trần Long vẫn mang theo binh khí mà anh tâm đắc nhất, đó có một là một sợi dây xích có thể phóng ra thu lại tùy ý, chế tác bằng thép tinh luyện đã có tuổi đời hàng trăm năm. Vũ khí này được sư phụ Trần Long đặt tên là “Long – Hổ” vì một đầu được gắn móc câu năm móng gọi là “long trảo”, đầu còn lại được gắn một mũi giáo hình nanh hổ nên gọi là “hổ trảo”. Hai vật này có thể tùy ý tháo lắp, vô cùng linh hoạt. Đây là vật tổ truyền anh được sư phụ trao lại khi vừa tròn 20 tuổi, vì thế nên anh rất xem trọng nó còn hơn cả tính mạng của mình. Ngoài ra Trần Long còn chuẩn bị thêm hai khẩu súng hỏa mai cỡ nhỏ điểm hỏa bằng đá lửa (4) mua lại từ thương nhân Bồ Đào Nha, so với kiểu súng mồi thừng(5) phổ biến ở nước ta thời đó thì loại này tiện lợi hơn nhiều. Đây là một sự hỗ trợ cần thiết cho anh trong chuyến đi đầy rủi ro, hiểm nguy sắp tới.

Lần “quai khật” mộ cổ này ngoài những trang bị thì anh còn có sự giúp sức của ba “chiến hữu” rất đắc lực, cũng chính là ba vật nuôi của anh. Trong số đó đầu tiên phải kể đến đó là chú chó mang tên “Thiên Khuyển”. Thiên Khuyển là một chú chó có gốc là chó săn Tây Dương lai với sói, nó được một người thương gia Hy Lạp tặng cho sư phụ anh gần ba năm trước khi còn là một chú cún con. Thiên Khuyển có một thân thể chắc khỏe, tốc độ cực nhanh của loài chó săn, kỹ thuật chiến đấu và cặp mắt sắc bén di truyền của loài sói, ngoài ra nó còn rất mẫn cảm với những gì không “sạch sẽ”. Vì vậy Thiên khuyển là một người bạn đồng hành không thể thiếu của Trần Long.

Chiến hữu tiếp theo của anh có tên là Hanuman. Hanuman là tên của một chú khỉ, mà anh và sư phụ có được từ một rạp xiếc Thiên Trúc, khi thuyền ghé vào đây trao đổi hàng hóa. Hanuman chính là tên của thần khỉ nổi tiếng trong vắn hóa Hindu của người Thiên Trúc và được nhắc đến trong sử thi Ramayana. Nói đến đây chúng ta có thể hiểu được rằng chú khỉ Hanuman lợi hại như thế nào. Nó là một chú khỉ trung thành với chủ, nhanh nhẹn và rất thông minh, chỉ cần anh ra hiệu là chú ta có thể hiểu được chủ nhân muốn gì và mình cần phải làm gì. Ngoài ra Hanuman còn có một khả năng rất phi phàm nữa đó là ‘thó đồ” của người khác, ngay ở lần đầu gặp gỡ thì Trần Long và Sư phụ đã bị chú ta thó mất túi đồ, về sau được ông chủ rạp xiếc trả lại vì nhận ra đồ của người quen. Sau đó vì thấy chú khỉ rất lanh lợi nên sư phụ anh đã ngỏ ý mua lại và được ông chủ rạp xiếc tặng cho. Thực ra đi đào mộ cổ cũng chính là đi ăn trộm, người đào mộ cũng chính là kẻ trộm, chỉ khác là đi trộm của người chết mà thôi.

Chiến hữu cuối cùng này có phần đặc biệt hơn so với hai đồng đội ở trên, vì đối với nhiều người bình thường thì đây là một điềm xui xẻo, còn đối với Trần Long là ngược lại. Người bạn đồng hành thứ ba mà anh mang theo này chính là một chú chim cú lợn.

Theo quan niệm dân gian, Cú lợn kêu là mang đến tai họa còn đối với Trần Long thì anh cho rằng loài chim này có khả năng cảm nhận rất tốt. Trong một lần đi hái thuốc Trần Long đã thấy cảnh một con chim cú mẹ đã liều mình bảo vệ đàn con trước sự tấn công của chim Ưng. Trần Long thấy thương cảm vì tình mẫu tử mà chim mẹ giành cho con, nên đã tìm cách xua đuổi chim Ưng đi. Khi Trần Long đến kiểm tra tổ thì thấy chim mẹ và hai chú chim con đã chết vì bị thương quá nặng, chỉ còn một chú chim nhỏ nhờ rúc vào cánh mẹ là còn sống. Trần Long đã quyết định mang chú chim Cú Lợn nhỏ này về nuôi và đặt cho nó một cái tên đó là “Phượng Hoàng”, vua của loài chim trong truyền thuyết. Cũng giống như “Thiên Khuyển”, “Phượng Hoàng” rất mẫn cảm với những gì không sạch sẽ, ngoài ra nó còn có khả năng báo trước được tai họa. Mấy ngày trước khi ôn dịch ập đến khiến nhiều người phải bỏ mạng, chú ta thường bay loạn xạ và gạ đầu vào người anh kêu lên mấy tiếng, quả nhiên mấy hôm sau thì tai họa ập đến. Nhiều lần như vậy khiến cho Trần Long càng tin tưởng hơn vào khả năng cảm nhận của chú chim này.

Sáng sớm hôm sau khi gà vừa mới gáy, mặt trời còn chưa lên hẳn, thì Trần Long đã nai nịt gọn gàng cùng các chiến hữu của mình lên đường tới cổ mộ. Để tránh bị mọi người để ý anh chọn đi đường núi, mãi tới chiều tối mới đến nơi. Anh dừng chân lại ở bên ngoài núi, ăn bánh nướng và nghỉ ngơi đợi đến đêm khi trăng lên sẽ tiến hành xâm nhập.

Chú thích:

(1):một thước bằng khoảng 47cm, vậy nên chiều cao Trần Long gần 4 thước tương ứng với khoảng 1m85

(2): Năm Nhâm Thìn 1652.

(3): “Quai khật” nói nhại lại là “khai quật”

(4): Kiểu súng Flintflock: đánh lửa bằng việc lẫy thép cọ sát vào một viên đá lửa để tạo ra tia lửa đốt cháy thuốc dẫn để kích hoạt

(5): Kiểu súng Matchlock: đánh lửa bằng cách đốt 1 dây cháy chậm dẫn đến thuốc dẫn nổ để kích hoạt, loại này kém hiệu quả hơn loại dùng đá lửa.

Hãy bình luận để ủng hộ người đăng nhé!